View Full Version : Truyền Hình
dungdt
27-05-2003, 10:47 PM
Mai phải nộp 1 báo cáo về tình hình truyền hình tại Việt Nam, tranh thủ đọc rồi viết luôn ở đây, tí nữa mang ra in, front arial cũng chả sao. Ai quan tâm thì đọc chơi
I.Các câu hỏi đặt ra:
1.Các công nghệ TH phải trả tiền tại Việt Nam
2.Trong truyền hình số T5 và T10 là gì, loại nào tốt hơn
3.Tại sao chất lượng Th cáp ở VN vẫn thấp
4.Giá cước và chất lượng của TH số
5. Từ khâu thu đến khâu phát sóng thì VTC và VTV sử dụng kỹ thuật số trong những công đoạn nào?
II.Trả lời:
1.Bao gồm:
a. Truyền hình cáp hữu tuyến: Loại này dựa trên các đưòng cáp quang của VNPT hay VTEL... để chạy đến tổng đài nội hạt gần nhà bạn rồi dùng dây đồng trục chạy tiếp đến tận nhà. Giá lắp đặt khoảng 500.000 đ, nhưng nếu nhiều nhà ở gần nhau có thể dùng bộ chia để đỡ tốn. Thuê bao thì cực rẻ: chỉ khoảng vài chục ngàn một tháng. Loại này đang được khuyến khích vì sẽ hạ bớt các cột anten trên nóc nhà làm mất mĩ quan đô thị, tuy nhiên lại phải chịu một nỗi khổ khác là nạn đào đường để chạy dây cáp to bằng ngón tay và chi phí bảo dưỡng đường dây đồng trục.
b. Truyền hình cáp vô tuyến: Dùng anten sóng ngắn đặt trên nóc nhà cộng với một bộ giải mã đặt trong nhà. Chi phí lắp đặt khá tốn kém và tiền thuê bao khoảng trên dưới 100 ngàn/ tháng. Khi mưa bão thì chất lượng thu không được tốt lắm nhưng bù lại là đỡ phải chạy dây. Không hiểu sao người ta không khuyến khích loại này?
c. Truyền hình kĩ thuật số: Chỉ phải mua đầu thu khoảng vài triệu. Chất lượng âm thanh và hình ảnh tuyệt vời. Độ phân giải cao nếu có TV đời mới. Đối với các loại TV thường thì cũng cực nét. Âm thanh tương đưong DVD 5.1. Thời tiết hay mưa bão xem vẫn nét như thưòng, chỉ yêu cầu anten rởm. Một hạn chế rất lớn của loại hình này là chương trình của VTC phát thử nghiệm nên không hay lắm, lại ít kênh xem (có lẽ vì miễn phí thuê bao). Trong tương lai gần có thể hỗ trợ cả subtile VN lẫn truyền hình tương tác. Một ứng cử viên sáng giá cho tương lai.
d. Truyền hình vệ tinh: Đăng kí hơi khó vì chỉ có một số đổi tuợng như: Uỷ viên trung ương Đảng, nhà kinh doanh dịch vụ khách sạn, các dự án nghiên cứu được duyệt, người nước ngoài...v...v. Nhưng nói chung có thể làm lậu đưọc nếu có quan hệ tốt với chú công an hộ tịch. Về thuê bao thì không tốn kém lắm vì có thể mua bộ giải mã lậu. Loại hình này không được nhà nước khuyến khích lắm vì khó kiểm soát nội dung.
2.Đầu thu kỹ thuật số hiện nay trên thị trường có 03 loại T5,T9 và T10. Bạn bè tôi nói T9 và T10 có độ nhậy cao hơn, phần mềm có giao diện đẹp hơn và hình thức cũng hiện đại hơn, vì vậy nên giá nó vào khoảng 2,7 tr đắt hơn T5. Nhưng tôi nghĩ rằng ở Hà nội sóng khoẻ nên có độ nhậy cao hơn cũng không quan trọng vì vậy tôi vẫn dùng T5.
Tôi chỉ nói nó gần bằng DVD thôi nhé, bạn nên cắm qua đường AV vì như vậy tín hiệu không qua bộ kênh nên chất lượng sẽ cao hơn và bạn có âm thanh stereo thật sự. Đừng cắm qua đường RF tệ lắm. Nếu dùng thêm dây cắm từ đầu LOOP sang tivi và lúc đó bạn xem tivi như dùng ăng ten bình thường
3.Truyền hình cable chất lượng kém là do chất lượng của đường truyền (dây dẫn) từ nhà cung cấp chương trình đến máy thu quá kém hoặc xa (khiến suy hao và độ trễ lớn...) nên chất lượng C/N thấp, công suất đầu vào thấp khiến hình bị phân mảnh, tiếng ngấp nghé chẳng ra thể thống gì....... ! Và .... thêm nữa là có thể do: nhà cung cấp chương trình truyền hình của bạn (VTC chẳng hạn) quá tham, họ đã phát quá nhiều kênh trên một sóng mang, trên một băng tần khiên tốn làm cho xxxx :-D ! Bạn hãy chờ xem, sắp hết thời độc quyền của VTC rồi nên họ sẽ chú tâm hơn về chất lượng cho khách hàng để cạnh tranh và người sử dụng (bạn) sẽ lợi nhất (vừa xem được nhiều chương trình lại vừa có chất lượng tốt và giá thì không cắt cổ như bây giờ, tiện dụng tiện ích...).
Ngoài lề: băng thông của DVB-C ở VN quá bé, chỉ có thể cung cấp tối đa 4 kênh truyền.
4. TH số hiện do VTC-1 công ty thuộc THVN phát, bộ giải mã hình như khoảng 2 tr(tui ko biết chính xác vì tui dùng free), ko mất tiền thuê bao.Có 16 chương trình:
VTV1,3,4
HN
CNN
ESPN+Star Sport
Cartoon
Super Sport
HBO
Cinemax
MTV
CCTV4
DW
TV5
Animal
covery
5.Tại đài truyền hình VN hiện nay từ giai đoạn quay phim đến lúc dựng chương trình và đưa ra phát sóng thì đều đã được số hoá. Điều đó có nghĩa là máy quay họ dùng là máy kĩ thuật số, các công đoạn xử lí trong studio cũng là số. Tuy nhiên, đến khi phát sóng thì người ta chuyển lại thành tín hiệu tương tự để phát cho toàn dân đều thu được.
Linh tinh:
1.Truyền hình cáp (hữu tuyến) của VTV không có CNN, BBC, HBO, Star Movies, ai muốn xem phải thêm tiền, và có thêm 1 bộ giải mã, vẫn là bộ giải mã của MMDS.
2.Trên thực tế thì cả 3 loại: Truyền hình cáp DVB-C (hiện thời như của ta, phát theo chuẩn của Châu Âu = DVB và C = Cable), Truyền hình mặt đất kỹ thuật số DVB-T (như của VTC phát, chỉ cần Anten thường như của Tivi tương tự) và Truyền hình vệ tinh kỹ thuật số DVB-S (cần ăn ten Chảo mới bắt được), đều là Truyền hình số !!!
Đây chưa phải báo cáo đâu, tôi mới tìm hiểu sơ qua làm tiền đề, chắc là còn phải tham khảo nhiều nữa, chỉ tranh thủ làm việc trong lúc chat thôi. Xin đừng cười!
SO-KHANH
28-05-2003, 05:45 AM
Chú này là dân truyền hình hay dân kinh tế nhỉ?
dungdt
28-05-2003, 12:02 PM
Thưa bác em là dân điện tử, nhưng vấn đề kinh tế trong lĩnh vực của em vẫn được chính phủ quan tâm hàng đầu.
dungdt
28-05-2003, 12:57 PM
Lại phải thêm 2 bài: một về các giải pháp mạng, một về các chuẩn giao tiếp máy tính. Online cả ngày rùi, bán nhà làm xây dựng bưu điện rùi.
Cho xin ít đất nhé!
Truyền dữ liệu qua đường dây điện
1.Kế hoạch đầu tư:
Công ty ETC, Nhà cung cấp dịch vụ điện thoại nội hạt và đường dài thứ hai tại Việt Nam hiện đang triển khai việc áp dụng công nghệ truyền tín hiệu thông tin trên đường dây điện lực để khai thác dịch vụ điện thoại cố định.
Sau khi xem xét năng lực của Công ty thông tin viễn thông điện lực (ETC), mới đây Tổng cục Bưu điện đã cấp giấy phép thiết lập mạng điện thoại chuyển mạch công cộng và cung cấp dịch vụ điện thoại nội hạt và đường dài cho công ty này. Như vậy, không kể công ty Cổ phần dịch vụ Bưu chính Viễn thông Sài Gòn (SPT) được cấp giấy phép cung cấp dịch vụ điện thoại cố định nội hạt tại khu vực Nam thành phố Hồ Chí Minh thì ETC sẽ là doanh nghiệp cung cấp dịch vụ điện thoại cố định nội hạt thứ hai sau Tổng công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT).
2.Kế hoạch xây dựng mạng lưới
ETC cho biết, quan điểm chính của Nhà khai thác viễn thông nội địa này khi xây dựng mạng lưới là mạng ban đầu sẽ có cấu trúc đơn giản (ít lớp) để giảm thiểu đầu tư, nhanh chóng cung cấp được dịch vụ, đảm bảo an toàn mạng và an ninh thông tin, có hiệu quả ngay trong khai thác và quản lý, có độ linh hoạt, tính sẵn sàng để mở rộng mạng và chuyển hướng sang mô hình NGN (Next Generation Network - mạng hội tụ công nghệ viễn thông và tin học) với sự tích hợp dịch vụ (thoại, data và vi) trên nền tảng công nghệ chuyển mạch gói. Mạng này còn có hệ thống hỗ trợ quản lý tập trung, đa dịch vụ, quản lý cước và tính cước tập trung và xử lý cước phân tán, đồng thời hướng tới các dịch vụ băng rộng. Xét về tổng thể có thể chia mạng cung cấp dịch vụ điện thoại cố định của ETC ra làm hai phần chính là mạng truy nhập và mạng chuyển mạch. Các kết nối trong mạng chuyển mạch đòi hỏi độ tin cậy và độ sẵn sàng cao, dung lượng kết nối lớn. Khi số lượng thuê bao tăng, sẽ tăng cường thêm lớp tổng đài. Mạng chuyển mạch ban đầu được tổ chức theo mô hình phẳng không phân cấp. Mạng có 14 nút đặt tại 14 địa điểm cung cấp dịch vụ đồng bộ với dịch vụ VoIP hiện công ty đang triển khai, trong đó 3 nút chính là Hà Nội, Đà Nẵng và thành phố Hồ Chí Minh. Tại thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội sử dụng công nghệ chuyển mạch mềm cho phần điều khiển và xử lý cuộc gọi, cùng các máy chủ ứng dụng dịch vụ gia tăng trên mạng cho các thuê bao của ETC. Việc sử dụng chuyển mạch mềm sẽ tạo một mạng có cấu trúc đơn giản, giá thành đầu tư thấp và có tính mở. Đối với mạng truy nhập là mạng kết nối hệ thống thuê bao tới các hệ thống chuyển mạch cung cấp dịch vụ, để tận dụng những lợi thế sẵn có, đồng thời xây dựng mạng truy nhập linh hoạt, hiệu quả và hướng vào các dịch vụ băng rộng, ETC sẽ sử dụng đồng thời nhiều loại công nghệ truy nhập khác nhau, bao gồm mạch vòng truy nhập vô tuyến (Wireless Local Loop), thông tin qua mạng điện tiêu thụ PLC(Power Line Communication) và cả truy nhập hữu tuyến truyền thống. Công nghệ PLC là công nghệ cho phép cung cấp truy nhập tốc độ cao qua lưới điện hạ thế. Hiện nay rất nhiều nước trên thế giới đang ứng dụng công nghệ mới này, sử dụng mạng điện lực vừa cung cấp phân phối điện vừa phục vụ viễn thông (Internet, fax, thoại, truyền số liệu...).
3. Phương án kinh doanh
Theo kế hoạch tham gia thị trường viễn thông công cộng của ETC, lượng các dịch vụ là khá lớn, bao gồm các dịch vụ cho thuê kênh, điện thoại cố định nội hạt và đường dài, dịch vụ thoại trên IP, Internet, dịch vụ di động và các dịch vụ viễn thông quốc tế. Hầu hết các dịch vụ sẽ được mở rộng cung cấp không chỉ tại các thành phố, thị trấn lớn mà còn được chú trọng phục vụ các vùng xung quanh các nhà máy điện, trạm điện... nơi mà hiện nay hạ tầng ngành điện có khả năng đáp ứng được. Theo quy hoạch phát triển mạng cáp quang ngành điện đến năm 2005, sẽ có tới 38 tỉnh, thành trên cả nước có cáp quang ngành điện đi qua, đồng thời sẽ thay thế dần các tuyến cáp chống sét thông thường bằng cáp chống sét có tích hợp sợi quang hoặc cáp treo tại 23 tỉnh, thành còn lại.
Giai đoạn đầu từ 2002-2005, ETC dự kiến tham gia cung cấp dịch vụ điện thoại cố định nội hạt tại 14 tỉnh, thành là Hà Nội, Đà Nẵng, thành phố Hồ Chí Minh, Thái Nguyên, Hoà Bình, Hà Tây, Hải Phòng, Hải Dương, Bắc Giang, Quảng Ninh, Gia Lai, Bà Rịa-Vũng Tàu, Khánh Hoà và Đồng Nai. Tại 14 điểm này, ETC cũng đang khẩn trương triển khai dịch vụ điện thoại IP đường dài và quốc tế, dịch vụ truy cập Internet. Giai đoạn 2 từ 2005-2010, ETC dự kiến sẽ triển khai tiếp ở 25 tỉnh là Nghệ An, Lạng Sơn, Nam Định, Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Bắc Ninh, Thái Bình, Thanh Hoá, Hà Nam, Thừa Thiên-Huế, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Đắc Lắc, Bình Dương, Lâm Đồng, Cần Thơ, Kiên Giang, An Giang, Bình Phước, Tiền Giang, Long An, Bình Thuận, Ninh Thuận, Phú Yên và Tây Ninh. Giai đoạn tới năm 2015 sẽ triển khai tại các tỉnh, thành còn lại. ETC cũng cho biết, ngay từ năm 2003 nhà khai thác này sẽ đầu tư khoảng 80 tỷ đồng cho dịch vụ đường dài tại 3 thành phố lớn là Hà Nội, Đà Nẵng, thành phố Hồ Chí Minh và chính thức cung cấp dịch vụ truy cập đa dịch vụ (có thoại) trên cáp phân phối điện tại một số khu vực trong nội thành 3 thành phố này.
Tại các nước khác:PLC đã được dùng ở Đức và có thể sẽ được đưa vào VN trong một ngày rất gần.
Đến lúc này tôi không nghĩ rằng PLC sẽ xuất hiện trong ngành truyền tải điện tại Mỹ trong một thời gian vài năm. Mỹ là một nước luôn đi trước trong các kỷ thuật mới trong nguyên cứu, nhưng lại là nước chỉ ứng dụng kỷ thuật vào thực tế sau khi có kết quả chắc chắn từ các nước châu Âu và Á. Ứng dụng PLC trên lý thuyết thì không có vấn đề gì. Sóng điện và dữ liệu có thể truyền tải song song trong cùng hệ thống dây điện dựa trên một kỷ thuật đơn giản. Bộ phận pha trộn đầu ngờ uồn và tách sóng cuối ngờ uồn không chỉ là vấn đề kinh tế mà còn có vấn đề an toàn cho người tiêu dùng. Chưa có 1 tiêu chuẩn đảm bảo nào được thiết lập. Tuy rằng giá trị kinh tế trong việc lợi dụng cơ sỡ hạ tầng có sẳn của lưới điện phân phối là rất lớn; nhưng để sử dụng lưới điện làm thêm một công việc thứ hai không những chỉ đòi hỏi thiết bị nối kèm mà cần thiết rất nhiều thiết bị nhằm bảo đảm hiệm vụ chính của lưới điện không bị ảnh hưởng. Hãy nhìn lưới điện trên một hệ thống đơn giản nhất: x(t).h(t) = y(t). Bản thân của hệ thống này đã không đơn giản khi chúng ta muốn có một sự phân phối điện ổn định. Bây giờ với tính hiệu của dữ liệu thì hệ thống sẽ trở nên phức tạp [x1(t) + x2(t)].h(t)= [y1(t) + y2(t)]. Sơ xuất xẩy ra tại VN thì người tiêu dùng phải gánh chịu, nhưng sơ xuất tại Mỹ thì phải bồi thường và có thể đưa đến phá sản nếu hậu quả nghiêm trọng. Vì vậy những kỷ thuật chưa có thử nghiệm thật tế, sẽ không có cơ sở để úng dụng vào kinh tế Mỹ. Nhất là lúc này, kinh tế toàn cầu chưa phục hồi, các công ty vẫn chưa muốn đầu tư vào cơ sở hạ tầng mà chỉ thay đổi hệ thống quản lý nhằm tiết kiệm chi phí đến một mức thấp nhất nhưng vẫn giữ được hiệu quả cao.
Lưới điện VN còn rất nhiều thứ cần làm. Vấn đề an toàn điện chưa hề được quan tâm đúng mức mà ngay cả ngành điện cũng chưa đạt được tiêu chuẩn an toàn trong vận hành và phân phối nên hiện tượng người chết vì điện giựt, cháy nhà vì chạm điện vẫn xảy ra thường xuyên. Nếu ngành điện chỉ muốn vượt bậc và nhảy rào để cạnh tranh với viễn thông vì lợi nhuận thì cơ hội học hỏi này có thể phải trả giá bằng tiền thuế và sự bất ổn mà người tiêu dùng phải gánh chịu.
Năm nay, trong nhóm bảo vệ tốt nghiệp của tôi có 2 bạn đã làm thành công. Tuyệt lắm! Hy vọng tương lai sẽ được ứng dụng rộng rãi.
SO-KHANH
28-05-2003, 03:19 PM
Ồ là đân điện tử, chú học và làm tốt nghiệp về truyền hình thì cũng rất hay, đọc những báo cáo của chú cũng rất có ý nghĩa. Nhưng thưa chú, tập trung vào học thêm mạng viễn thông, và mạng máy tính đi. Chú có giỏi lập trình không? Nếu chỉ biết về truyền hình, thưa chú ra trường bây giờ xin việc rất là khó, nếu chú không có người quen.
Tiện đây có một số thông tin tuyển việc chú có thể tham khảo:
- Ngân hàng công thương tuyển nhân viên quản trị mạng và lập trình. Yêu cầu kiến thức mạng máy tính hoặc lập trình. Địa chỉ Hàng vôi. Mức lương khởi điểm ~1.8 triệu.
- VDC tuyển nhân viên quản trị mạng và lập trình. Yêu cầu như trên. Khởi điểm ~1.6 triệu. Địa chỉ: Tây Sơn
- CDiT tuyển lập trình viên yêu cầu: Kiến thức về mạng, or viễn thông, or kiến thức lập trình. Khởi điểm ~3 triệu. Địa chỉ: Đào Duy Anh
- Học viện khoa học bưu điện, kiến thức tổng hợp điện tử. Yêu cầu bằng giỏi, lương thấp. Nhiều cơ hội đi học. Địa chỉ: Hoàng Quốc Việt.
- Công ty điện tử Hanel. Kiến thức về mạch điện, mạng máy tính, truyền hình. Khởi điểm <2triệu. Địa chỉ: Chùa Bộc.
- Công ty Sao Bắc Đẩu, chuyên gia mạng máy tính. Khởi điểm >3 triệu.
....
dungdt
28-05-2003, 04:06 PM
Thưa bác, em đoán bác cũng là dân điện tử, thậm chí có khi bác và em đã trạm trán nhau rất nhiều. Thế mà lâu nay em không biết.
Nếu em không nhầm thì hồi xưa có lần trên thư viện em đã hỏi bác về cách nạp bài hát " inh ả ơi " vào con RAM.
Cảm ơn bác đã cho em một cái list cụ thể như vậy. Đối với một SV mới tốt nghiệp như em thì thật là quí giá.
Thứ nhất, em không làm đồ án về truyền hình, đó cũng là xu hướng chung của SV ĐT bây giờ. Em nói thật, cái tên đồ án của em thì may ra chỉ 1/3 số SV ĐT có thể hiểu nó là gì. Nên em cũng không tiện nói ra đây.
Thứ hai, điện tử là một nghành học rất rộng. SV không chỉ được trang bị các kiến thức về mạng, truyền hình, viễn thông, và rất nhiều thứ khác. Mỗi người chỉ có thể đi sâu về một lĩnh vực nào đó. Em không có tham vọng theo đuổi tất cả nhưng vì yêu cầu của xếp. Em được chỉ định thuyết minh các giải pháp công nghệ nên phải tìm hiểu sơ qua, không cần đi sâu, chỉ cần nói cho người bình thường hiểu được. Đây là công ty tập sự của em. Có lẽ tuần sau em mới biết có được nhận làm việc hay không.
Em mong được bác chỉ bảo nhiều hơn nữa
dungdt
28-05-2003, 04:37 PM
ADSL- công nghệ thông tin băng rộng mới
Dịch vụ ADSL (Asymmetric Digital Subscriber Line)-đường thuê bao số bất đối xứng. Đây là công nghệ thông tin băng rộng mới cho phép truy cập Internet và mạng thông tin số liệu với tốc độ cao qua đường dây điện thoại sẵn có tại nhà.
Khi sử dụng dịch vụ ADSL, người sử dụng không cần phải chọn giữa nói chuyện điện thoại hay vào Internet mà có thể sử dụng hai loại dịch vụ trên cùng một lúc mà không cần phải sử dụng chế độ chờ cuộc gọi. ADSL có tốc độ truy cập cao. Tốc độ đường xuống là 1,5-8 Mbit/s, tốc độ đường lên là 64-640 Kbit/s. Điều đặc biệt là ADSL luôn tối ưu hoá truy cập Internet, tốc độ đường xuống lớn hơn tốc độ lên nhiều lần.
Đường vào Internet của ADSL luôn sẵn sàng vì số liệu truyền đi độc lập với việc gọi điện thoại, fax... Cước dịch vụ này dùng bao nhiêu trả bấy nhiêu, trả cước theo số lượng truyền đi, thời gian đọc e-mail, tin thời sự... người sử dụng cũng không cần phải vội vàng khi lên NET. Modem ADSL có giá từ 120-250 USD. ADSL được ứng dụng trong giáo dục, hội nghị truyền hình, truyền hình trực tuyến (chọn kênh truyền hình ưa thích-giống như truyền hình cáp, trả cước phí theo tháng hoặc theo thời gian sử dụng, đồng thời vẫn sử dụng được các dịch vụ khác), vi theo yêu cầu, kết nối mạng LAN/WAN. Được biết, với hơn ba triệu đường dây điện thoại hiện có đều có thể tận dụng để hòa mạng ADSL. Hy vọng, sau thời gian Công ty Viễn thông Sài Gòn thử nghiệm thành công, dịch vụ sẽ được đưa vào khai thác đại trà trong thời gian tới với giá cước rẻ nhằm thu hút khách hàng.
ASDL là một chuẩn được Viện tiêu chuẩn quốc gia Hoa Kỳ thông qua năm 1993 và gần đây đã được Liên minh viễn thông quốc tế ITU công nhận và phát triển.
ADSL hoạt động như thế nào?
ADSL hoạt động trên đôi cáp đồng điện thoại truyền thống, tín hiệu được truyền bởi 2 modem chuyên dụng, một modem phía người dùng và 1 modem phía nhà cung cấp dịch vụ kết nối. Các modem này hoạt động trên dải tần số ngoài phạm vi sử dụng của các cuộc gọi thoại trên cáp đồng và có thể cho phép tốc độ truyền dữ liệu cao hơn nhiều so với các modem 56k hiện nay.
Một thiết bị lọc (Spliter) đóng vai trò tách tín hiệu điện thoại và tín hiệu dữ liệu (data), thiết bị này được lắp đặt tại cả phía người sử dụng và phía nhà cung cấp kết nối. Tín hiệu điện thoại và tín hiệu DSL được lọc và tách riêng biệt cho phép người dùng cùng 1 lúc có thể nhận và gửi dữ liệu DSL mà không hề làm gián đoạn các cuộc gọi thoại. ADLS tận dụng tối đa khả năng của cáp đồng điện thoại nhưng vẫn không làm hạn chế dịch vụ điện thoại thông thường.
Spliter tạo nên 3 kênh thông tin: một kênh tải dữ liệu xuống tốc độ cao, một kênh đẩy ngược dữ liệu với tốc độ trung bình và 1 kênh cho dịch vụ điện thoại thông thường. Để đảm bảo dịch vụ điện thoại thông thường vẫn được duy trì khi tín hiệu ADSL bị gián đoạn, kênh tín hiệu thoại được tách riêng khỏi modem kỹ thuật số bởi các thiết bị lọc.
Yêu cầu cấu hình đối với khách hàng
- CPU: Pentium 233MHz hoặc cao hơn (Nên sử dụng PIII - 400MHZ trở lên để phục vụ các nhu cầu về các dịch vụ đa phương tiện trực tuyến)
- ổ cứng: 10 GB hoặc cao hơn (Nên sử dụng các ổ cứng có dung lượng 20GB để thuận tiện cho việc sao lưu dữ liệu đa phương tiện).
- RAM : 64 MB trở lên (Nên sử dụng RAM 128 MB trở lên)
- Cổng USB nếu sử dụng modem kết nối qua cổng USB
- Card mạng 10BaseT/-10Mbps và cáp 10BaseT nếu sử dụng kết nối thiết bị định tuyến (Router)
- CD-ROM
- Hệ điều hành: Windows95/98/ME/NT4.0/2000
- Modem chuyên dụng ADSL
- Thiết bị lọc tách tín hiệu Spliter. Đối với máy Macitosh yêu cầu cấu hình tương đương, tuy nhiên chưa sử dụng được với modem USB.
Những ưu điểm của ADSL
-Tốc độ truy nhập cao: Tốc độ Download: 1,5 - 8 Mbps. Nhanh hơn Modem dial-up 56Kbps 140 lần. Nhanh hơn truy nhập ISDN 128Kbps 60 lần. Tốc độ Upload: 64-640 Kbps.
-Tối ưu cho truy nhập Internet. Tốc độ chiều xuống cao hơn nhiều lần so với tốc độ chiều lên. Vừa truy nhập Internet, vừa sử dụng điện thoại. Tín hiệu truyền độc lập so với tín hiệu thoại/Fax đo đó cho phép vừa truy nhập Internet, vừa sử dụng điện thoại.
-Kết nối liên tục: Liên tục giữ kết nối (Always on) Không tín hiệu bận, không thời gian chờ.
-Không phải quay số truy nhập: Không phải thực hiện vào mạng/ra mạng. Không phải trả cước điện thoại nội hạt.
-Cước phí tuỳ vào chính sách của ISP: Thông thường cấu trúc cước theo lưu lượng sử dụng, dùng bao nhiêu, trả tiền bấy nhiêu.
-Thiết bị đầu cuối rẻ. 100 - 150 USD cho một máy đơn lẻ. 400- 500 USD cho một mạng LAN (10-15 máy).
Nhược điểm
- Sự phụ thuộc của tốc độ vào khoảng cách từ nhà thuê bao đến nơi đặt tổng đài ADSL (DSLAM). Khoảng cách càng dài thì tốc độ đạt được càng thấp. Nếu khoảng cách trên 5Km thì tốc độ sẽ xuống dưới 1Mbps. Tuy nhiên, hiện tại hầu hết các tổng đài vệ tinh của nhà cung cấp (nơi sẽ đặt các DSLAM) chỉ cách các thuê bao trong phạm vi dưới 2km. Như vậy, sự ảnh hưởng của khoảng cách tới tốc độ sẽ không còn là vấn đề lớn.
- Trong thời gian đầu cung cấp dịch vụ, nhà cung cấp dịch vụ sẽ không thể đầu tư các DSLAM tại tất cả các tổng đài điện thoại vệ tinh (chi phí rất lớn) vì vậy một số khách hàng có nhu cầu không được đáp ứng do chưa đặt được DSLAM tới tổng đài điện thoại vệ tinh gần nhà thuê bao. Như vậy, trong thời gian đầu cung cấp dịch vụ, dịch vụ sẽ chỉ được triển khai tại các thành phố lớn, các khu vực tập trung nhiều khách hàng tiềm nǎng. Tuy nhiên, khi số lượng khách hàng tăng thì sẽ tăng cường số lượng DSLAM để phục vụ khách hàng.
ADSL dùng kỹ thuật ghép kênh phân tầng rời rạc DMT, tận dụng cả 3: tần số, biên độ, pha của tín hiệu sóng mang để truyền tải dữ liệu.
Quá trình điều chế:
Input Data --> Serial to Parallel Input Data Buffer --> DMT Symbol Encoder --> Invert Fast Fourier Transform (IFFT) --> A/D Tranceiver(Analog to Digital) --> Line Filter --> Output Data
- Dữ liệu vào sẽ qua bộ đệm dữ liệu, tại đây sẽ tiến hành lấy N mẫu và đưa ra N đường song song, chuyển đến bộ mã hoá DMT.
- Bộ mã hóa DMT tiến hành ghép N mẫu với tần số sóng mang fi, tín hiệu đã điều chế này theo N kênh song song đến bộ biến đổi fourier ngược IFFT.
- Bộ IFFT thực hiện ghép các sóng đã điều chế f1,f2,..fN thành f0 sao cho f1,f2,..fN là các hài của f0. f0 lúc này là tín hiệu thực sự và duy nhất đi vào bộ biến đổi analog-->digital(A/D).
- Bộ A/D thực hiện biến đổi tín hiệu tương tự sang tín hiệu số để phù hợp với đường truyền.
- Tín hiệu ra đến bộ lọc đường truyền để giới hạn băng thông(bandwidth), loại bỏ nhiễu(noise) --> output data.
Quá trình giải điều chế: ngược lại.
Input Data --> Line Filter --> D/A (Digital to Analog) --> Fast Fourier Transform (FFT) --> DMT Symbol Encoder --> Parallel to Serial Data Buffer --> Output Data
ADSL là một thành viên của họ công nghệ kết nối modem tốc độ cao hay còn gọi là DSL, viết tắt của Digital Subscriber Line. DSL tận dụng hệ thống cáp điện thoại bằng đồng có sẵn để truyền tải dữ liệu ở tốc độ cao, tiết kiệm kinh phí lắp đặt cáp quang (fibre-optic) đắt tiền hơn. Tất cả các dạng DSL hoạt động dựa trên thực tế là truyền âm thanh qua đường cáp điện thoại đồng chỉ chiếm một phần băng thông rất nhỏ. DSL tách băng thông trên đường cáp điện thoại thành hai: một phần nhỏ dành cho truyền âm, phần lớn dành cho truyền tải dữ liệu ở tốc độ cao.
Điều kiện cơ bản đối với đường điện thoại phải đáp ứng những yêu cầu sau:
Cách tổng đài dưới 5500 m. Càng gần tổng đài, tốc độ truy cập của bạn càng tăng. Dĩ nhiên nếu nhà cung cấp dịch vụ giới hạn tốc độ thì dù ở đâu bạn cũng chỉ đạt tối đa là tốc độ giới hạn.
Không bị áp dụng công nghệ pair gain.
Pair gain là công nghệ kĩ thuật số tách đường cáp điện thoại ra làm hai (ở đây xét pair gain 1+1). Công nghệ này được nhà cung cấp dịch vụ điện thoại hay áp dụng để giảm chi phí trong trường hợp nhà bạn muốn có thêm đường điện thoại. Điểm dở của nó là kết nối Internet quay số sẽ bị giảm một nửa tốc độ (28.8Kbps tối đa so với 56Kbps tối đa) và không thể dùng với ADSL. (theo những tin trên internet thì phần lớn thuê bao điện thoại không bị áp dụng công nghệ này)
Không bị áp dụng công nghệ RIM – Remoted Integrated Multiplexer. Công nghệ này dựa trên đường cáp quang (fibre-optic cable), nhà cung cấp dịch vụ điện thoại dẫn cáp quang đến một khu vực rồi chuyển tín hiệu trên cáp quang thành dịch vụ điện thoại bình thường. RIM rất kinh tế khi lắp đặt điện thoại ở những nơi không có sẵn mạng cáp điện thoại bằng đồng như khu vực ngoại ô mới xây, vùng sâu vùng xa hay hải đảo
Các loại Modem cho dịch vụ ADSL
Modem trên card PCI: loại này tích hợp tất cả trên một card PCI. Giá thành rẻ nhất trong ba loại, nhưng rất khó cài đặt, kén chọn hệ điều hành và không hỗ trợ chia sẻ kết nối đến nhiều máy tính. Nếu bạn tính dùng thêm Linux hay Mac OS X, hay chia sẻ kết nối ADSL với nhiều máy khác, hay là dân overclocker, nên tránh xa loại này.
Modem USB: đây là loại modem lắp ngoài kết nối qua giao tiếp USB 1.1. Giá chỉ hơn loại trước một chút và trông có vẻ dễ lắp đặt. Nhưng thực ra loại này cũng kén hệ điều hành không kém loại kia, cài đặt tương đối khó và không hỗ trợ chia sẻ kết nối. Hơn nữa, tốc độ của USB 1.1 rất thấp (tối đa là 12Mbps nhưng thực tế còn thấp hơn nhiều), không thích hợp với ADSL tốc độ cao, lại dùng nhiều tài nguyên hệ thống. Bạn nên cân nhắc kĩ trước khi chọn USB cho ADSL.
Modem lắp ngoài: đây là loại phổ biến nhất. Nó dùng giao tiếp ethernet với máy tính qua card mạng 10/100. Ưu điểm là rất dễ lắp đặt, hỗ trợ hầu hết các hệ điều hành, dễ chia sẻ kết nối. Nhược điểm là giá thành cao hơn các loại khác (có tính cả giá của card mạng). Ethernet ADSL modem có khi được tích hợp thêm một số chức năng như tường lửa (hardware firewall) hay router và hub hay switch lắp trong (giúp bạn chia sẻ kết nối với các máy khác dễ dàng).
Nếu bạn muốn dùng các thiết bị khác như máy điện thoại hay fax trên đường dây mà ADSL dùng, bạn cần một bộ lọc để lọc tín hiệu. Giá thành của nó cũng chấp nhận được và thường được bán kèm modem nếu bạn mua từ nhà cung cấp dịch vụ.
dungdt
28-05-2003, 05:00 PM
TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN DSL TRÊN TOÀN THẾ
GIỚI TRONG 6 THÁNG ÐẦU NĂM 2002
Xu hướng toàn cầu
Số đường dây thuê bao số trên toàn thế giới đã tăng 36% trong 6 tháng đầu năm 2002, từ 18,7 triệu lên đến 25,6 triệu. So ra thì đây là sự sút giảm so với 6 tháng cuối năm 2001 khi tỷ lệ tăng trưởng đã là 78% với 8,2 triệu đường dây mới được lắp đặt. Ðây cũng là 6 tháng có tỷ lệ phát triển thấp nhất trong lịch sử ngắn ngủi của DSL.
Nhưng nhìn vào quá trình phát triển của DSL từ con số 880 000
đường dây vào cuối năm 1999 đến 25,5 triệu đường dây vào cuối tháng 6 năm nay thì có thể thấy đó là kết quả của thời kỳ suy thoái và khủng hoảng tài chính trong ngành viễn thông toàn thế giới và nó không phải là dấu hiệu của sự chựng lại lâu dài của DSL. Sự phát triển chậm lại của một vài vùng chỉ có tính thời vụ vì
loại thị trường dịch vụ này có xu hướng mạnh lên trong 6 tháng cuối năm. Hai cường quốc DSL là Hàn Quốc và Hoa Kỳ cũng ở tình trạng chững lại theo thời vụ.
Thị trường Hàn Quốc đã đạt đến trạng thái bão hoà trong khi Hoa Kỳ đang phải đối mặt với khủng hoảng trầm trọng trong ngành
viễn thông đã làm suy thoái tài chính đáng kể cho DSL. Sự phát triển ở các quốc gia khác đáng chú ý là Nhật Bản và hầu hết các
nước Tây Âu vẫn rất mạnh mẽ. Tất cả các quốc gia ngoài Hàn Quốc thì còn lâu mới đạt được thị trường bão hoà.
Các quốc gia và các vùng phát triển trên thế giới Vùng châu Á - Thái Bình Dương vẫn là vùng phát triển DSL lớn nhất với 10,7 triệu đường dây.
Vùng Bắc Mỹ là 6,6 triệu đường dây trong khi Tây Âu đang gần lấp đầy chỗ trống còn lại. Kế đó, vùng gây được sự chú ý là Nam và Ðông Á bao gồm Trung Quốc và Ấn Ðộ với tổng số 1,1 triệu
đường dây. Phần còn lại của thế giới bao gồm Mỹ La Tinh, Trung Ðông và châu Phi có tổng số 800 ngàn đường dây.
Tốc độ phát triển giữa các vùng rất là ấn tượng. Bắc Mỹ đã đạt
được tốc độ phát triển cao nhất vào 6 tháng cuối năm 2000 nên đang chậm lại. Tuy nhiên, các quốc gia châu Á - Thái Bình Dương dẫn đầu là Hàn Quốc đã trở thành đối thủ cạnh tranh với Bắc
Mỹ từ cuối năm 2000 và ngày càng phát triển nhanh hơn dù có chậm lại đôi chút trong 6 tháng đầu năm 2002. Hiện nay đã thấy
được những dấu hiệu đầu tiên cho sự cất cánh của vùng Nam và Ðông Á, đặc biệt là Trung Quốc. Sự phát triển của các vùng khác (Mỹ La Tinh, Trung Ðông, châu Phi và Ðông Âu) vẫn còn đang ở giai đoạn sơ khởi. Tuy nhiên Ba Tây, Do Thái và Estonia đã có được mức độ phát triển tương đối.
Về tổng số đường dây thì Hàn Quốc vẫn dẫn đầu. Tuy nhiên, trong tương lai gần có lẽ sẽ bị Hoa Kỳ hay cũng có thể là Nhật Bản qua mặt trong 12 tháng sắp tới. Hiện nay, Nhật Bản, Mỹ và Ðức đang phát triển nhanh hơn Hàn Quốc. Ba Tây cũng cho thấy sự phát triển vượt bậc. Trong 10 quốc gia có tỷ lệ phát triển nhanh nhất trong 6 tháng qua thì có đến 7 quốc gia Tây Âu khi chỉ thống kê các quốc gia có trên 100 000 đường dây DSL. Nga và Mễ Tây Cơ cũng có tỷ lệ phát triển cao nhưng con số đường dây lại ở mức thấp.
Tỷ lệ phổ biến DSL Hàn Quốc vẫn dẫn đầu thế giới về số đường dây DSL trên 100 dân. Về con số này thì Ðài Loan đã qua mặt
Hương Cảng và Ðan Mạch qua mặt Gia Nã Ðại. Ấn tượng nhất là Nhật Bản chỉ trong vòng 18 tháng đã đi từ chỗ gần như số không đã phát triển nhanh chóng và lọt vào "top ten" trên thế giới về số
đường dây DSL trên 100 dân. Trong khi đó thì Hoa Kỳ đã bị loại,
đứng vị trí thứ 12 sau Tân Gia Ba. Mặt khác Hoa Kỳ là một trong
rất ít quốc gia có số thuê bao cable modem cao hơn DSL (các quốc gia khác là Gia Nã Ðại, Hà Lan, Tân Gia Ba và Úc Ðại
Lợi). Nhiều nước nhỏ nhưng lại có số đường dây DSL trên 100 dân khá cao như Iceland với 5,3 còn Estonia ở Ðông Âu lại có con số này là 1,5 vượt qua cả Pháp, Ý Ðại Lợi và Liên Hiệp Anh.
Xu hướng phát triển Hoa Kỳ dẫn đầu thế giới về thị trường DSL
trong nhưng ngày đầu nhưng đã nhanh chóng bị Hàn Quốc bắt
kịp và qua mặt. Ðức và Nhật tiếp cận thị trường bằng nhiều cách khác nhau, bắt đầu cất cánh từ năm 2001 nhưng hiện vẫn đang tụt hậu so với Mỹ, Ðại Hàn khoảng 15 tháng. Cần nhận xét rằng ở Mỹ và Ðại Hàn thì 6 tháng cuối năm bao giờ tỷ lệ phát triển cũng cao hơn 6 tháng đầu năm. Ðiều này cũng tương tự như ở thị trường máy tính cá nhân hay điện thoại di động và là
yếu tố phải kể đến khi dự báo. Tình hình Hàn Quốc cũng
cho thấy dấu hiệu của sự bão hoà dịch vụ thông tin tốc độ cao.
Cuối tháng 6 năm 2002 Hàn Quốc có 3,3 triệu modem cáp đồng trục và 5,7 triệu đường dây DSL, tương đương với 58 đường dây thông tin tốc độ cao trên 100 dân. Trong khi đó, số kết nối Internet qua modem dial-up đã giảm xuống còn 520 ngàn hay 3 đường dây trên 100 dân. Rõ ràng là sự phát triển thông tin tốc
độ cao ở Hàn Quốc rất khó có thể tăng thêm.
dungdt
28-05-2003, 05:06 PM
VoIP - Lựa chọn công nghệ cho bạn
Thỉnh thoảng, chúng ta vẫn xem quảng cáo trên TV thấy anh “Minh nhí” gọi điện thoại 171. Nhiều người nói với nhau rằng gọi điện thoại quốc tế trên Internet rẻ hơn. Rồi người ta còn nói Voice over IP bây giờ phát triển mạnh lắm. Vậy tất cả cái đó là gì ? Chúng tôi sẽ giải đáp những thắc mắc đó dùm bạn tại đây. Chúng tôi giới thiệu quá trình phát triển của VoIP và các dịch vụ VoIP trong nuớc hiện nay.
Định nghĩa VoIP
Về tổng quát, VoIP (Voice over Internet Protocol) là công nghệ dùng để chuyển tiếng nói ở dạng đàm thoại như voice communication, voice conference hay voice conversation qua mạng chạy giao thức IP – như mạng Internet hay các mạng IP riêng. Các hình thức chuyển tiếng nói ở dạng khác như voice broadcast (tương tự radio) hay voice-on-demand (tương tự như cassette) không được xem là VoIP. Các hình thức của VoIP thường nằm trong các dạng sau:
- PC-to-PC
- PC-to-Phone
- Phone-to-PC
- Phone-to-Phone
Trong đó khái niệm PC để chỉ một máy tính có địa chỉ IP chạy phần mềm softphone và có khả năng xử lý thoại như có sound card, micro phone, speaker, head set hay tiện dụng hơn là USB phone. Khái niệm Phone để chỉ các loại điện thoại, thiết bị thoại truyền thống như analog phone, digital phone, mobile phone hay các tổng đài thoại. Ngoài ra, còn có 1 loại điện thoại được dùng trong VoIP nữa là IP phone. IP phone là một thiết bị phần cứng có hình thức tương tự điện thoại truyền thống nhưng được cắm thẳng vào mạng IP và có phần mềm xử lý như softphone. Như vậy, IP phone cũng nằm trong khái niệm PC trong 4 hình thức trên.
Tuy cách xử lý, giao thức, phần mềm, phần cứng, … có khác nhau giữa các hình thức trên nhưng chung quy đều được chuyển đổi (codec) để có băng thông thấp hơn thoại truyền thống (64 Kbps). Hai chuẩn codec được chấp nhận rộng rãi nhất trong VoIP là G.723 và G.729. Các chuẩn này còn có những phiên bản khác nhau với băng thông từ khoảng 6-8 Kbps. Băng thông này chỉ mới là yêu cầu của thoại nên khi được đóng gói vào IP và frame layer 2 thì cần băng thông cao hơn nữa. VoIP được xem là một dạng voice nhưng không có nghĩa tất cả các loại voice nén đều là VoIP mà còn có voice over frame-relay, voice over ATM hay voice nén trên đường leased-line.
Công nghệ VoIP và các sản phẩm VoIP còn có nhiều tên thương mại khác như voice over Internet, Internet phone, IP phone, softphone, Internet telephony, IP telephony… VoIP có một nghĩa hẹp hơn nữa là loại VoIP theo hình thức Phone-to-Phone.
Quá trình phát triển VoIP trên thế giới
Hệ thống voice cổ điển hiện nay vẫn đang được sử dụng chạy trên công nghệ chuyển mạch (circuit-based) đã tồn tại hàng trăm năm nay. Đặc điểm của hệ thống này là có chất lượng thoại tốt và đã được chấp nhận rộng rãi. Khuyết điểm lớn nhất của hệ thống thoại này là chiếm băng thông lớn (64 Kbps cho mỗi kênh) và luôn chiếm đường truyền ngay cả khi hai bên đàm thoại không nói gì cả. Khuyết điểm này làm cho giá các cuộc gọi (đặc biệt là cuộc gọi đường dài) trở nên đắt đỏ.
Sau đó vài chục năm, người em Internet ra đời chỉ nhằm mục đích truyền dữ liệu (data) như e-mail, web, truyền file… Ngược lại với hệ thống thoại cổ điển, Internet là hệ thống hoàn toàn chạy trên công nghệ chuyển gói (packet-based) nên rất hiệu quả trong việc sử dụng đường truyền (khi không truyền dữ liệu thì không mất băng thông). Nhờ ưu điểm này, cùng với các tiện lợi khác, Internet nhanh chóng được phát triển và trở thành môi trường không thể thiếu trong bất kỳ một nền kinh tế nào.
Ngày nay, Internet có mặt ở khắp mọi nơi, từ công sở đến gia đình và theo theo chân chúng ta đến tận các khu vực công cộng như sân bay, nhà ga, nhà hàng, café shop… Chính vì sự phổ thông đó mà các nhà phát triển phần mềm bắt đâu nghĩ đến việc truyền thoại qua Internet (VoIP). Ban đầu, việc phát triển này chỉ mang tính bộc phát, nghiệp dư và phát triển rời rạc qua những ứng dụng đơn lẻ. Các phần mềm VoIP lúc đó không truyền theo 1 tiêu chuẩn gì hết nên không thể giao tiếp với nhau. Cũng tại thời điểm này, một số nhà sản xuất phần cứng bắt đầu làm ra các card giao tiếp VoIP giúp thuận tiện và nâng cao chất lượng thoại trên Internet. Một trong những nhà tiên phong này phải kể đến là Micom mà ngày nay là một phần của Nortel Networks.
Sự phát triển của VoIP thúc đẩy nền công nghệ IP cần có một tiêu chuẩn cho nó. ITU-T, dựa trên tiêu chuẩn ISDN H.320, đã xây dựng tiêu chuẩn H.323 cho VoIP và cả Vi over IP. H.323 có đầy đủ các tiêu chuẩn cần thiết cho một hệ thống communication truyền thống với các thành phần sau: terminal, gateway, gatekeeper và MCU (Multimedia Conference Unit). Lúc này các nhà sản xuất VoIP đều phải làm các sản phẩm của mình dựa trên tiêu chuẩn này. Microsoft có phần mềm client NetMeeting hỗ trợ H.323, service H.323 trên ISA server. Cisco có IP softphone chạy H.323. Phần mềm Call Manager – software PBX của Cisco – cũng hỗ trợ H.323 cho IP softphone. Các router hỗ trợ VoIP của Cisco cũng có khả năng làm H.323 gateway và H.323 gatekeeper. Phần mềm Voice/Vi conference nổi tiếng CUSeeMe cũng hỗ trợ tiêu chuẩn này. Trở ngại lớn của việc triển khai H.323 trên diện rộng là vấn đề địa chỉ và tường lửa (firewall - thường bắt buộc phải có trong hầu hết các mạng enterprise). Vì vậy một số firewall đã thiết kế để cho phép H.323 vượt qua như PIX của Cisco, ISA của Microsoft hay Checkpoint của Checkpoint…
Cùng với vấn đề địa chỉ và tường lửa, H.323 cũng có những khuyết điểm của nó như phức tạp, đòi hỏi cấu hình cao và không hoàn toàn phù hợp với nền tảng Internet (vì dựa trên nền tảng của thoại truyền thống) nên đang gặp trở ngại trong việc triển khai. Để khắc phục các nhược điểm của H.323, IETF cho ra đời chuẩn SIP (Session Initial Protocol) tương tự các chuẩn Internet khác như HTTP, SMTP. SIP rất đơn giản nhưng lại có nhiều tính năng như presense (hiển thị danh sách), messaging, voice, vi và có khả năng kết hợp với mobile. SIP không dựa trên số điện thoại như H.323 mà dựa trên URL như địa chỉ e-mail nhưng vẫn cho phép kết nối với mạng điện thoại truyền thống qua các gateway. Ngày nay, nhiều công ty tên tuổi đang nghiêng về sử dụng SIP thay cho H.323. Microsoft ngừng hẳn việc phát triển NetMeeting từ phiên bản 3.01. Các sản phẩm MSN messeger, Windows messenger đều hỗ trợ SIP. Sản phẩm đang nghiên cứu của Microsoft cho môi trường di động - Microsoft Portal – cũng hổ trợ SIP. Trong năm sau (2003), Microsoft sẽ ra mắt phần mềm RTC server chạy SIP trên hệ điều hành Windows .NET server 2003 của mình. Các sản phẩm của Cisco như các router VoIP đều hỗ trợ SIP. IP phone và analog adapter của Cisco cũng có phiên bản chạy với SIP. Các PIX firewall mới của Cisco cũng hổ trợ cho SIP đi qua nó. Cisco còn mua hẳn một phần mềm SIP server có tên Cisco SIP Proxy server. Các công ty tên tuổi trong làng networking và communication đều hỗ trợ SIP như Nortel Networks, Siemens, Deltathree… Đến nay, SIP vẫn chưa hoàn thiện mà vẫn tiếp tục được phát triển bởi nhiều tổ chức như sipcenter, sipforum…
Ngoài ra, còn có nhiều chuẩn nữa (như MGCP) nhưng đến nay chưa phải là đối thủ của H.323 và SIP.
Các dịch vụ VoIP tại Việt Nam
Bên cạnh dịch vụ điện thoại truyền thống với chất lượng cao, khách hàng ở Việt Nam có thể sử dụng các dịch điện thoại VoiIP trong nước và quốc tế với giá rẻ hơn và chất lượng chấp nhận được. Tất cả các dịch vụ này đều ở hình thức Phone-to-Phone. Các hình thức PC-to-Phone có thể dùng được qua các dịch vụ trên Internet nhưng chưa phổ biến do không có tổ chức kinh doanh ở Việt Nam. Dưới đây là một số thông tin về các nhà cung cấp dịch vụ VoiIP tại Việt Nam:
Tổng công ty Bưu chính Viễn thông (VNPT): dịch vụ 171
Phạm vi cung cấp dịch vụ: trong nước và quốc tế. Các thuê bao điện thoại cố định và khách hàng tại tất cả các điểm phục vụ công cộng (đăng ký sử dụng dịch vụ điện thoại quốc tế nếu gọi 171 quốc tế) (trừ các máy sử dụng điện thoại thẻ CardPhone và liên lạc điện thoại viên tổng đài) đều có thể sử dụng dịch vụ gọi 171. Chưa mở dịch vụ gọi 171 cho các thuê bao của mạng dùng riêng (mạng của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Bộ Ngoại giao...).
Gọi 171 trong nước được thực hiện từ ngày 01/07/2001 chỉ với tuyến TP. HCM và Hà Nội. Hiện nay đã mở rộng đến 39 tỉnh, thành (miền Bắc: 12, miền Trung: 10, miền Nam: 17; tính đến ngày 20/11/2002). Cước thông tin: 909 đồng/phút (nội vùng), 1.364 đồng/phút (cận vùng), 1.811 đồng/phút (cách vùng). Cách sử dụng:
171 + 0 + Mã vùng + Số ĐT
Gọi 171 quốc tế được thực hiện từ ngày 05/09/2001 với 50 nước, hiện nay có thể liên lạc đến tất cả các nước trên thế giới. Cước thông tin: 1,3 USD/phút áp dụng cho tất cả các nước (thu thêm 454 đồng/cuộc gọi tại các điểm phục vụ công cộng). Cách sử dụng: tùy theo từng khu vực, khách hàng có thể sử dụng một trong hai cách như sau:
Cách 1: 171 + 00 + Mã nước + Mã vùng + Số ĐT
Cách 2: 171 + 1 + Chờ nghe âm thanh thông báo + Mã nước + Mã vùng + Số ĐT
Công ty Viễn thông Quân đội (Vietel): dịch vụ 178
Phạm vi cung cấp dịch vụ: trong nước và quốc tế. Gọi 178 trong nước được thực hiện từ ngày 15/10/2001 chỉ với tuyến TP. HCM và Hà Nội. Hiện nay đã mở rộng đến 17 tỉnh, thành. Cước thông tin: 909 đồng/phút (nội vùng), 1.364 đồng/phút (cận vùng), 1.811 đồng/phút (cách vùng). Cách sử dụng:
178 + 0 + Mã vùng + Số ĐT
Gọi 178 quốc tế được thực hiện từ ngày 5/12/2001 đến tất cả các nước trên thế giới. Cước thông tin: 1,3 USD/phút áp dụng cho tất cả các nước (thu thêm 454 đồng/cuộc gọi tại các điểm phục vụ công cộng). Cách sử dụng:
178 + 00 + Mã nước + Mã vùng + Số ĐT
Công ty cổ phần Viễn thông Sài Gòn (Saigon Postel): dịch vụ 177
Phạm vi cung cấp dịch vụ: trong nước và quốc tế. Gọi 177 trong nước được thực hiện từ ngày 20/09/2001 với 6 tỉnh, thành. Cước thông tin: 909 đồng/phút (nội vùng), 1.364 đồng/phút (cận vùng), 1.811 đồng/phút (cách vùng). Cách sử dụng:
177 + 0 + Mã vùng + Số ĐT
Gọi 177 quốc tế được thực hiện từ ngày 18/04/2002 đến 77 nước trên thế giới. Cước thông tin: 1,3 USD/phút áp dụng cho tất cả các nước (thu thêm 454 đồng/cuộc gọi tại các điểm phục vụ công cộng). Cách sử dụng:
177 + 00 + Mã nước + Mã vùng + Số ĐT
Công ty Viễn thông Điện lực (ETC): dịch vụ 179
Chỉ mới cung cấp VoIP từ nước ngoài đỗ về Việt Nam.
Công ty Viễn thông Hàng hải (Vishipel):
Chưa cung cấp dịch vụ.
Thủ tướng Chính phủ vừa có văn bản 1189/CP-CN đồng ý về mặt nguyên tắc cho phép Công ty cổ phần viễn thông Hà Nội (Hanoi Telecom) tham gia thiết lập mạng, cung cấp dịch vụ viễn thông di động và viễn thông công cộng trong nước và quốc tế.
Như vậy, trên thị trường viễn thông Việt Nam đã có 6 doanh nghiệp và nhà cung cấp dịch vụ, gồm: Tổng công ty bưu chính viễn thông Việt Nam (VNPT), Công ty điện tử viễn thông quân đội, Công ty cổ phần dịch vụ bưu chính viễn thông Sài Gòn (SPT), Công ty điện tử viễn thông hàng hải (Vishipel), Công ty viễn thông điện lực (ETC) và Hanoi Telecom.
SO-KHANH
29-05-2003, 05:12 PM
Chú này mang copy cả cái đồ án lên đây đấy à. Bon truyền hình cua chú thử hỏi ra trường có đứa nào làm truyền hình không hả. Ra trường rồi thì vứt đồ án đi, đừng copy ra đây mệt lắm
dungdt
29-05-2003, 08:14 PM
Thấy bác nhầm nhiều quá, nói chuyện với bác thà nói với đầu gối còn thích hơn.
-Bác hiểu thế nào là dân truyền hình -> bác là dân kinh tế mất rồi, thế mà em cứ tưởng bác là dân điện tử (em nhầm bác với bác nowever).
- Em chưa nghĩ ra cách chuyển front VNtime ra front arial để paste lên đây, bác mà biết thì chỉ em với.
-Khi chọn đồ án thì SV thường nhắm luôn cái đích công việc sau này của mình. Thưa bác là công ty truyền hình cáp và thiết bị truyền hình vẫn tuyển (thi cử sòng phẳng). Thằng bạn em đã làm cho truyền hình cap được 3 tháng rồi (quan trọng là làm được việc), có tháng lương tới 12 triệu. Bác nên tham khảo thêm.
Nhân tiện paste tin tức về IP phone vào đây:
Chiều 23/4, Bộ Bưu chính Viễn thông (BCVT) đã tổ chức cuộc họp bàn về việc cho phép triển khai dịch vụ Internet Phone. Với giá cước dưới 1.000 đồng gọi đi hầu hết các nước trên thế giới, dịch vụ này đã được đông đảo người dùng Internet ở Việt Nam sử dụng mặc dù nó vẫn chưa được chính thức cấp phép.
Các nhà khai thác viễn thông và Internet ở Việt Nam đã đóng góp nhiều ý kiến liên quan đến việc kinh doanh dịch vụ Internet Phone. Tình trạng bán lậu thẻ Internet Phone trả trước đã làm nhà nước thất thu thuế, người tiêu dùng thì phải trả mức cước đắt hơn thực tế, còn các nhà cung cấp dịch vụ viễn thông thì khoanh tay đứng nhìn do rào cản giấy phép của Bộ BCVT.
Trong nhiều năm qua, giá cước viễn thông quá đắt đã làm người dân Việt Nam hạn chế tối đa việc gọi điện thoại cho bạn bè hoặc thân nhân ở nước ngoài. Câu hỏi hay gặp là "Ở nhà có việc gì?" khi người Việt gọi điện thoại quốc tế - một hành vi rất xa xỉ thường chỉ cho phép khi gia đình có việc đại sự.
Thống kê cho thấy số cuộc và thời lượng điện thoại gọi đi quốc tế chỉ chiếm chưa đến 10% tổng sản lượng điện thoại quốc tế đi và đến. Việc giảm cước điện thoại quốc tế liên tục trong mấy năm gần đây cũng chưa thể thay đổi tập quán này.
Các thống kê sơ bộ cho thấy, có tới 32-35% số người sử dụng Internet đã từng sử dụng dịch vụ Internet Phone. Bên cạnh việc người dùng truy cập và trả tiền trực tiếp qua thẻ tín dụng, còn có hàng loạt các công ty và cá nhân đang kinh doanh lậu các loại thẻ Internet Phone trả trước. Các loại thẻ này đến tay người tiêu dùng với mức giá bằng 150-200% mệnh giá, song cách thức gọi điện qua Internet này rẻ hơn 25-40 lần so với điện thoại quốc tế IDD, VoIP vốn đã được giảm cước rất nhiều sau đợt điều chỉnh 1/4 vừa qua. Sự phát triển mạnh công nghệ Internet làm cho chất lượng dịch vụ Internet Phone trở nên rất cao, nhiều người dùng cho biết chất lượng này nhiều khi còn tốt hơn dịch vụ 171, 178 vào các giờ cao điểm
SO-KHANH
30-05-2003, 03:02 AM
Em chưa nghĩ ra cách chuyển front VNtime ra front arial để paste lên đây, bác mà biết thì chỉ em với
Chú thử dụng Vietkey office xem sao.
maitruongxua
30-05-2003, 04:11 PM
to:dunght ông anh định kinh doanh truyền hình trên mạng à,post bài mà chỉ thấy ông anh cãi nhau với SO-KHANH.Hết biết
dungdt
30-05-2003, 04:38 PM
Chú thử dụng Vietkey office xem sao.
Thôi, có gì anh em đóng cửa bảo nhau. Nói thêm nữa em xấu hổ lắm bác ạ. Bác cứ thử đi rồi bảo em 1 câu.
to:dunght ông anh định kinh doanh truyền hình trên mạng à,post bài mà chỉ thấy ông anh cãi nhau với SO-KHANH.Hết biết
Thêm chú nữa là 3, cái topic này đông khách nhất trong mấy cái anh đã lập ra đấy!