PDA

View Full Version : Tiếng Việt - Dễ Mà Khó (tài Liệu Tham Khảo)


Cosmo_Polital
22-09-2003, 03:14 AM
Tiếng Việt - dễ mà khó

Tiếng Việt vừa dễ vừa khó, đúng hơn, dễ mà lại khó. Dễ đến độ rất hiếm người Việt Nam nào cảm thấy có nhu cầu phải sắm một cuốn Từ Ðiển Tiếng Việt trong nhà. Dễ đến độ bất cứ người nào trưởng thành ở Việt Nam cũng đều có thể tưởng là mình... thông thái, và nếu muốn, đều có thể trở thành... nhà văn được. Thế nhưng, chỉ cần, một lúc thảnh thơi nào đó, ngẫm nghĩ một chút về tiếng Việt, chúng ta bỗng thấy hình như không phải cái gì chúng ta cũng hiểu và có thể giải thích được.

Trước đây, có lần, đọc cuốn Trong Cõi của Trần Quốc Vượng, một nhà nghiên cứu sử học, khảo cổ học và văn hoá dân gian nổi tiếng ở trong nước, tới đoạn ông bàn về hai chữ "làm thinh", tôi ngỡ đã tìm thấy một phát hiện quan trọng. Theo Trần Quốc Vượng, "thinh" là thanh, âm thanh, hay là tiếng ồn. "Nín thinh" là kiềm giữ tiếng động lại, là im lặng. Thế nhưng "làm thinh" lại không có nghĩa là gây nên tiếng động mà lại có nghĩa là... im lặng. Cũng giống như chữ "nín thinh". Trần Quốc Vượng xem đó như là một trong những biểu hiện của Phật tính trong ngôn ngữ và văn hoá Việt Nam: "nín" và "làm" y như nhau; có và không y như nhau; ấm và lạnh cũng y như nhau (áo ấm và áo lạnh là một!); "đánh bại" và "đánh thắng" y như nhau. Quả là một thứ tiếng "sắc sắc không không", nói theo ngôn ngữ Phật giáo, hay "huyền đồng", nói theo ngôn ngữ của Trang Tử. (1)

Thú thực, đọc những đoạn phân tích như thế, tôi cảm thấy mừng rỡ và thích thú vô hạn.

Thế nhưng, chẳng bao lâu sau, đọc bài viết "Tìm ngờ uồn gốc một số từ ngữ tiếng Việt qua các hiện tượng biến đổi ngữ âm" của Lê Trung Hoa, tôi lại bàng hoàng khám phá ra là chữ "làm thinh" thực chất chỉ là biến âm của chữ "hàm thinh" trong chữ Hán. "Hàm" có nghĩa là ngậm (như trong các từ: hàm ân, hàm oan, hàm tiếu, hàm huyết phún nhân...). "Hàm thinh" là ngậm âm thanh lại, không cho chúng phát ra, tức là không nói, tức là... im lặng. (2) Y như chữ "nín thinh". Nhưng sự giống nhau ở đây chỉ là sự giống nhau của hai từ đồng nghĩa, chứ chả có chút Phật tính hay Trang Tử tính gì trong đó cả.

Tôi mới biết là mình mừng hụt.

Một ví dụ khác: về hai chữ "vợ chồng".

Trước đây, đã lâu lắm, đọc cuốn Ngôn Ngữ và Thân Xác của Nguyễn Văn Trung, tôi thấy tác giả giải thích hai chữ "vợ chồng" đại khái như sau: "Chồng" là chồng lên nhau, nằm lên nhau. Còn chữ "vợ"? Nguyễn Văn Trung chỉ viết bâng quơ, trong câu chú thích in cuối trang: "chữ vợ phải chăng là vơ, vớ, đọc trại đi, theo giọng nặng; nếu thế, chữ vợ chỉ thị việc quơ lấy quàng lên, vơ vào, phù hợp với việc chồng lên trong hành động luyến ái?" (tr. 40)

Ðọc đoạn ấy, tôi hơi ngờ ngờ, nhưng rồi cũng bỏ qua, không chú ý mấy. Gần đây, tôi sực nhớ lại vấn đề ấy khi đọc cuốn Phương Ngữ Bình Trị Thiên của Võ Xuân Trang. Tôi được biết là ở Bình Trị Thiên, thay vì nói cái "vai", người ta lại nói cái "bai"; thay vì nói đôi "vú", người ta lại nói đôi "bụ"; thay vì nói "vải", người ta lại nói "bải"; thay vì nói "vá" áo, người ta nói "bá" áo; thay vì nói "vả" (vào miệng) , người ta lại nói "bả" (vào miệng), v.v... Qua những sự hoán chuyển giữa hai phụ âm V và B như thế, tự dưng tôi nảy ra ý nghĩ: phải chăng nguyên uỷ của chữ "vợ" là... bợ? "Vợ chồng" thực ra là "bợ chồng"?

Tôi càng tin vào giả thuyết trên khi nhớ lại, trong tiếng Việt hiện nay, có cả hàng trăm từ nguyên thuỷ khởi đầu bằng phụ âm B đã biến thành V như thế. Nhiều nhất là từ âm Hán Việt chuyển sang âm Việt. Ví dụ: trong chữ Hán, chữ "bái" sang tiếng Việt thành "vái"; chữ "bản" sang tiếng Việt thành "vốn" và "ván"; chữ "bích" sang tiếng Việt thành "vách"; chữ "biên" sang tiếng Việt thành "viền"; chữ "bố" sang tiếng Việt thành "vải"; chữ "bút" sang tiếng Việt thành "viết"; chữ "bà phạn" sang tiếng Việt thành "và cơm", v.v...

Theo Nguyễn Tài Cẩn, trong cuốn Giáo Trình Lịch Sử Ngữ Âm Tiếng Việt (sơ thảo), quá trình hoán chuyển từ B đến V kéo dài khá lâu cho nên hiện nay thỉnh thoảng cả hai biến thể B/V vẫn còn tồn tại song song với nhau, như: băm và vằm (thịt); be và ve (rượu hay thuốc); béo và véo; bíu và víu, v.v...

Chúng ta biết là hiện tượng tồn tại song song của hai biến thể như thế không phải chỉ giới hạn trong hai phụ âm B và V. Theo nhiều nhà ngôn ngữ học, ngày xưa, từ khoảng thế kỷ 17 trở về trước, trong tiếng Việt có một số phụ âm đôi như BL (blăng, blời...), ML (mlầm) hay TL (tlánh). Ðến khoảng thế kỷ 18, các phụ âm đôi ấy dần dần rụng mất. Ðiều đáng chú ý là khi những phụ âm đôi ấy rụng đi thì chúng lại tái sinh thành một số phụ âm khác nhau. Ví dụ phụ âm đôi TL sẽ biến thành TR hoặc L, do đó, hiện nay, chúng ta có một số chữ có hai cách phát âm và hai cách viết khác hẳn nhau, cùng tồn tại song song bên nhau, đó là các chữ tránh và lánh; trộ và lộ, trồi và lồi, trêu và lêu, trũng và lũng, trộn và lộn, trọn và lọn, trệch và lệch, trèo và leo, tràn và lan, v.v... Trong khi đó phụ âm đôi ML sẽ biến thành L hoặc NH, bởi vậy, chúng ta cũng có một số từ tương tự, như lầm và nhầm, lời và nhời, lẽ và nhẽ, lát và nhát, lạt và nhạt, lớn và nhớn.(3) Trong những cặp từ tương tự vừa kể, có một số chữ dần dần bị xem là phương ngữ hoặc là cách nói cổ, càng ngày càng ít nghe, như các chữ Nhớn, Nhời, và Nhẽ. Thay vào đó, chúng ta sẽ nói là lớn, lời và lẽ. Tuy nhiên, những chữ khác thì cho đến nay cũng vẫn còn tồn tại khá phổ biến, ví dụ chúng ta có thể nói là rượu lạt hoặc rượu nhạt; nói lầm lẫn hoặc nhầm lẫn; nói một lát dao hay một nhát dao đều được cả.

Ðặt trong toàn cảnh mối quan hệ giữa hai phụ âm B và V cũng như quá trình biến đổi phụ âm đầu như thế, chúng ta sẽ thấy ngay giả thuyết cho ngờ uồn gốc của chữ "vợ" trong "vợ chồng" là "bợ" rất có khả năng gần với sự thật. "Vợ chồng" như thế, thực chất là "bợ chồng". "Bợ": từ dưới nâng lên; "chồng": từ trên úp xuống. Danh từ "bợ chồng" diễn tả tư thế thân mật giữa hai người nam nữ khi ăn ở với nhau. Cách gọi tên khá thật thà như thế kể cũng thú vị đấy chứ?

Qua các trường hợp biến đổi từ "hàm thinh" thành "làm thinh" và từ "bợ chồng" thành "vợ chồng", chúng ta tiếp cận được một hiện tượng rất phổ biến trong tiếng Việt: hiện tượng biến âm. Biến âm không phải chỉ vì nói ngọng, kiểu "long lanh" thành "nong nanh" hay "nôn nao" thành "lôn lao" như một số người ở một số địa phương nào đó. Biến âm cũng không phải chỉ vì phương ngữ, kiểu "về" thành "dề" như ở miền Nam, hay "nhà" thành "dà" như ở một số làng huyện ở miền Trung, "trung trinh" thành "chung chinh" như ở miền Bắc. Ðiều đáng nói hơn là những hiện tượng biến âm xuất phát từ những quy luật nội tại của ngôn ngữ, những sự biến âm có mặt ở mọi vùng đất nước và nếu không tự giác và tốn công truy lục, chúng ta sẽ không thể nào tái hiện được nguyên dạng của nó. Chúng ta dễ ngỡ biến âm là chính âm. Dễ ngỡ nó tự nhiên là thế. Ví dụ, để diễn tả tâm sự buồn nào đó dần dần giảm nhẹ đi, chúng ta hay dùng chữ "ngờ uôi ngoai". Ðúng ra là "ngờ uôi hoai". Trong các từ điển cổ, "hoai" có nghĩa là phai nhạt. Nghĩa ấy, cho đến bây giờ chúng ta vẫn dùng trong chữ "phân đã hoai". "ngờ uôi hoai" là từ ghép chỉ sự phai dần của một nỗi buồn, một niềm đau. Tương tự như vậy, chữ "yếu ớt" chúng ta hay dùng ngày nay là do chữ "yếu nớt". "Ớt" thì không có nghĩa gì cả. Trong khi "nớt" có nghĩa là sinh thiếu tháng, vẫn còn dùng trong từ "non nớt". "Yếu nớt", do đó, có nghĩa là yếu đuối, là non nớt. Chữ "nói mớ" thật ra là biến âm của chữ "nói mơ", nói trong giấc mơ. "Nước miếng" thật ra là biến âm của "nước miệng", nước chảy ra từ miệng, cùng cách kết cấu với các chữ nước mắt hay nước mũi. Chữ "to tát" hiện nay tất cả các từ điển đều viết với chữ T ở cuối, TÁT; nhưng trong Ðại Nam quốc âm tự vị của Huỳnh Tịnh Của thì lại viết chữ TÁC kết thúc bằng C: "to tác", kèm theo lời định nghĩa là: thô kệch, lớn tác. Mà chúng ta đều biết chữ TÁC có nghĩa là tuổi hay vóc dáng, như trong các từ tuổi tác, tuổi cao tác lớn, hay ngày xưa người ta nói bạn tác, tức bạn hữu; trang tác, tức cùng lứa, cùng tuổi với nhau. (4)

Các con số đếm, nơi rất cần sự chính xác, cũng không thoát khỏi luật biến âm. Như số 1, chẳng hạn. Ðứng một mình là một. Ðứng trước các con số khác cũng là một. Nhưng khi đứng sau các con số khác, trừ số 10, nó lại biến thành "mốt": hai mươi mốt; ba mươi mốt, bốn mươi mốt. Những chữ "mốt" ấy chính là biến âm của "một". Nhưng không phải lúc nào "mốt" cũng có nghĩa là một: "Mốt" trong một trăm mốt hay trong một ngàn mốt, một triệu mốt... không phải là một. Con số 5 cũng vậy. Ðứng một mình là năm. Ðứng trước các số khác cũng là năm. Nhưng khi đứng sau các số, từ 1 đến 9, nó lại biến thành "lăm": mười lăm, hai mươi lăm... Con số hai mươi lăm ấy lại được biến âm thêm một lần nữa, thành hăm nhăm. Số ba mươi lăm cũng thường được biến âm thành băm nhăm. Từ số bốn mươi lăm trở lên thì chỉ có một cách rút gọn là bốn lăm; năm lăm, sáu lăm, bảy lăm, tám lăm, và chín lăm chứ không có kiểu biến âm như hăm nhăm và băm nhăm. Con số 10, cũng vậy. 10 là mười. Nhưng từ 20 trở lên thì "mười" biến thành "mươi”: hai mươi, ba mươi, bốn mươi... Dấu huyền bị biến mất. Có điều, "mươi" không phải lúc nào cũng có nghĩa là mười. Trong nhóm từ "mươi cái áo", chẳng hạn, "mươi" lớn hơn hoặc nhỏ hơn mười: một con số phỏng định, ước chừng, bâng quơ.

Con số còn thay đổi được, huống gì những từ khác. Như từ "không", chẳng hạn. Phủ định điều gì, người ta có thể nói "không", mà cũng có thể nói "hông", nói "khổng", nói "hổng". Xuất hiện trong câu nghi vấn, chữ "không" ấy có thể có thêm một biến âm khác là "hôn": "nghe hôn?" Chưa hết. Một số âm vị trong cụm "nghe hôn" ấy bị nuốt đi; "nghe hôn" biến thành "nghen", rồi đến lượt nó, "nghen" lại biến thành "nghén" hay bị rút gọn lần nữa, thành "nhen", rồi "hen", rồi "hén", rồi "nhe", v.v...

Như vậy, biện pháp biến âm trở thành một biện pháp tạo từ. Ðã có từ "vậy", chỉ cần thay dấu nặng bằng dấu huyền, chúng ta có từ mới: "vầy" (như vầy này!). Ðã có từ "lui hui", người ta tạo thêm các chữ "lúi húi" rồi "lụi hụi". Ðã có từ "chừ bự", người ta tạo thêm các từ mới: chư bư, chừ bư, chừ bử, chử bử, chứ bứ, chự bự. Ðã có "trật lất", người ta tạo thêm: trết lết, trét lét, trớt lớt, trớt huớt... (5) Ðã có từ "ngoại" vay mượn từ chữ Hán, chúng ta tạo thêm hay từ khác: "ngoài" để các quan hệ không gian cũng như thời gian và "ngoái" để chỉ quan hệ về thời gian: "năm ngoái".

Biện pháp biến âm như vậy đã dẫn đến một hiện tượng khá thú vị trong tiếng Việt: hiện tượng từ tương tự, tức những từ hao hao gần nhau về cả ngữ âm lẫn ngữ nghĩa, chẳng hạn: các chữ bớt và ngớt; đớp, tợp, hớp và đợp; bẹp, xẹp, lép, khép, nép và nẹp; khan, khàn và khản; xẻ, chẻ, bẻ và xé; xoăn, xoắn, quăn và quắn; tụt, rụt và thụt; véo, nhéo, và béo; v.v...

Các từ tương tự ấy có khi khác nhau về từ loại nhưng lại tương thông tương ứng với nhau về ý nghĩa, chẳng hạn: chúng ta có cái nẹp để kẹp, cái nêm để chêm, cái nan để đan, cái mõ để gõ, cái nệm để đệm, cái vú để bú; hoặc chúng ta cưa thì thành khứa, rung thì rụng, phân thì có từng phần, dựng thì đứng, thắt thì chặt, đập thì giập, dìm thì chìm, ép thì ẹp, dứt thì đứt, chia thì lìa, gạn thì cạn, v.v....

Mới đây, đọc báo, không hiểu tại sao, tình cờ tôi lại chú ý đến chữ "đút" trong một câu văn không có gì đặc biệt: "Chị ấy đút vội lá thư vào túi quần..." Từ chữ "đút" ấy, tôi chợt liên tưởng đến chữ "rút": cả hai từ làm thành một cặp phản nghĩa: đút (vào) / rút (ra).

Ðiều làm tôi ngạc nhiên là cả hai từ đều có phần vần giống nhau: "-ÚT". Chúng chỉ khác nhau ở phụ âm đầu mà thôi: một chữ bắt đầu bằng phụ âm "đ-" (đút) và một chữ bằng phụ âm "r-" (rút). Hơn nữa, cả từ "đút" lẫn từ "rút", tuy phản nghĩa, nhưng lại có một điểm giống nhau: cả hai đều ám chỉ sự di chuyển từ không gian này sang không gian khác. "Ðút" cái gì vào túi hay "rút" cái gì từ túi ra cũng đều là sự chuyển động từ không gian trong túi đến không gian ngoài túi hoặc ngược lại.

Tôi nghĩ ngay đến những động từ có vần "-ÚT" khác trong tiếng Việt và thấy có khá nhiều từ cũng có nghĩa tương tự. "Sút" là động tác đưa bóng vào lưới. "Hút" là động tác đưa nước hoặc không khí vào miệng. "Mút" cũng là động tác đưa cái gì vào miệng, nhưng khác "hút" ở chỗ vật thể được "mút" thường là cái gì đặc. "Trút" là đổ cái gì xuống. "Vút" là bay từ dưới lên trên. "Cút" là đi từ nơi này đến nơi khác do bị xua đuổi. "Nút" hay "gút" là cái gì chặn lại, phân làm hai không gian khác nhau.

Thay dấu sắc (ÚT) bằng dấu nặng (ỤT), ý nghĩa chung ở trên vẫn không thay đổi. "Trụt" hay "tụt" là di chuyển từ trên xuống dưới. "Vụt" là di chuyển thật nhanh, thường là theo chiều ngang. "Lụt" là nước dâng lên quá một giới hạn không gian nào đó. "Cụt" là bị cắt ngang, không cho phát triển trong không gian. "Ðụt" (mưa) là núp ở một không gian nào đó, nhỏ hơn, để tránh mưa ngoài trời. Vân vân.

Nếu những động từ có vần "-ÚT" thường ám chỉ việc di chuyển (hoặc việc ngăn chận quá trình di chuyển ấy) giữa hai không gian thì những động từ có vần "-UN" lại ám chỉ việc dồn ứ lại thành cục trong một không gian nhất định nào đó, thường là có giới hạn. "Ùn", "chùn", "dùn", hay "đùn" đều có nghĩa như thế. "Thun" hay "chun" cũng như thế, đều chỉ cái gì bị rút, bị co. "Cùn" là bẹt ra. "Hùn" là góp lại. "Vun" là gom vào. "Lún" hay "lụn" là bẹp xuống. Cả những chữ như "lùn" hay (cụt) "lủn", (ngắn) "ngủn", "lũn cũn"... cũng đều ám chỉ cái gì bị dồn nhỏ hay thu ngắn lại.

Với cách phân tích như vậy, nếu đọc thật kỹ và thật chậm các cuốn từ điển tiếng Việt, chúng ta sẽ dễ thấy có khá nhiều khuôn vần hình như có một ý nghĩa chung. Chẳng hạn, phần lớn các động từ hay tính từ kết thúc bằng âm ÉT hay ẸT đều chỉ những động tác hay những vật thể hẹp, thấp, phẳng. "Kẹt" là mắc vào giữa hai vật gì; "chẹt" là bị cái gì ép lại. "Dẹt" là mỏng và phẳng; "tẹt" là dẹp xuống (kiểu mũi tẹt); "bét" là nát, dí sát xuống đất; "đét" là gầy, mỏng và lép. Những dộng từ kết thúc bằng âm EN thường chỉ các động tác đi qua một chỗ hẹp, một cách khó khăn, như: "chen", "chẹn", "chèn", "len", "men", "nghẽn", "nghẹn", "nén". Những từ láy có khuôn vần ỨC – ÔI thì chỉ những trạng thái khó chịu, như "tức tối", "bức bối", "bực bội", "nực nội", "nhức nhối", v.v...

Những ví dụ vừa nêu cho thấy hai điều quan trọng:

Thứ nhất, nếu chịu khó quan sát, chúng ta sẽ phát hiện trong những chữ quen thuộc chúng ta thường sử dụng hàng ngày ẩn giấu những quy luật bí ẩn lạ lùng. Tính chất bí ẩn ấy có thể nói là vô cùng vô tận, dẫu tìm kiếm cả đời cũng không hết được. Ðiều này khiến cho không ai có thể an tâm là mình am tường tiếng Việt. Ngay cả những nhà văn hay nhà thơ thuộc loại lừng lẫy nhất vẫn luôn luôn có cảm tưởng ngôn ngữ là một cái gì lạ lùng vô hạn.

Thứ hai, vì có những quy luật, những điểm chung tiềm tàng giữa các chữ như vậy cho nên việc học tiếng Việt không quá khó khăn. Nói chung, người Việt Nam đều có khả năng đoán được ý nghĩa của phần lớn các chữ mới lạ họ gặp lần đầu. Lần đầu gặp chữ "thun lủn", chúng ta cũng hiểu ngay nó ám chỉ cái gì rất ngắn. Lý do là vì chúng ta liên tưởng ngay đến những chữ có vần "UN" vừa kể ở trên: cụt ngủn, ngắn ngủn, v.v... Lần đầu gặp chữ "dập dềnh", chúng ta cũng có thể đoán là nó ám chỉ một cái gì trồi lên trụt xuống do sự liên tưởng đến những chữ có khuôn vần tương tự: bấp bênh, gập ghềnh, khấp khểnh, tập tễnh, v.v...

Nói tiếng Việt vừa dễ vừa khó là vì thế.

Melbourne 21.10.2000

Nguyễn Hưng Quốc (Melbourne, Australia)

(Văn Học, số 193, tháng 5.2002)

Intelson
23-09-2003, 07:06 PM
VIET NAM NET, 26/8/ 2003
Báo động tình trạng học văn của học sinh Thân thể người lái đò rất tráng lệ; Nguyễn Tuân rất hung bạo... là những câu trong bài thi tuyển sinh ĐH, CĐ vừa qua. Nhiều giáo viên chấm văn nhận xét, mỗi năm bài làm của học sinh lại kém hơn một chút. Có những lỗi sai không thể chấp nhận được, có những bài thi giám khảo không sao đọc được, có những câu văn của học sinh, giám khảo ôm bụng cười tới năm phút sau mới chấm tiếp được.
Một giảng viên văn ở Hà Nội, sau chấm thi môn văn kì tuyển sinh đại học, cao đẳng vừa qua, đã đưa ra nhiều dẫn chứng cụ thể.
"Thân thể ông lái đò hết sức tráng lệ"(!)
Ở đây chúng tôi không đề cặp đến những trường hợp khó viết đúng chính tả như: truyện ngắn, câu chuyện ...(những lỗi này thì nhiều vô kể), nhưng những lỗi sau đây, theo chúng tôi, là không thể tha thứ được.
- Xuống dòng, chữ đầu dòng không viết hoa.
- Tên riêng của người không viết hoa. Ví du: huy cận, nguyễn tuân...
- Cả bài viết không có dấu câu nào.
- Những từ đơn giản thông thường không viết đúng chính tả: lo nắng, í tưởng, Việt lam, đoạn quối truyện...
Chúng tôi cũng không cần bàn tới chuyện học sinh phải dùng từ cho đúng phong cách, dùng những từ thật "đắt" mà chỉ dùng từ cho đúng nghĩa. Học sinh rất hay nhầm lẫn những từ có âm gần giống nhau. Ví dụ:
- Thân thể ông lái đò rất tráng lệ (phải chăng học sinh định viết là cường tráng?).
- Cách dùng từ của Huy Cận rất thuần tuý (phải viết là tinh tuý).
- Những cánh đồng được phù sa bồi đắp trở nên rất phù du, màu mỡ (phải viết là phì nhiêu).
- Ở giai đoạn này ý chí của người dân đang ở mức tuột đỉnh (tột đỉnh).
- Đoạn thơ thể hiện sự vui sướng, hí hửng của tác giả (hớn hở).
- Qua tác phẩm người lái đò sông Đà em rất ngưỡng mộ những cuộc giao hữu của ông lái đò với sông Đà (giao chiến chăng?).
- Nhan đề bài thơ tiếng hát con tàu của Chế Lan Viên có ý nghĩa rất sâu cay (sâu sắc).
Rất nhiều trường hợp học sinh dùng từ sai, song chúng tôi cũng không biết học sinh định diễn đạt cái gì và thay thế bằng từ gì:
- Đó là một cụm từ gợi cho ta nỗi buồn, nó bê tha đến nhường nào.
- Nguyễn Tuân là một nhà văn cổ kính.
" Nguyễn Tuân rất hung bạo"?!
Có thể kể ra vô vàn những câu văn của học sinh mà người đọc không thể hiểu nổi học sinh đó muốn viết gì. Điều này chứng tỏ học sinh rất lơ mơ về kiến thức ngữ pháp tiếng Việt, đồng thời cũng chứng tỏ tư duy cũng hết sức rối rắm. Có những giáo viên khi chấm bài đã không thể chịu đựng được đã phê: "Thần kinh không bình thường". Xin kể vài trường hợp:
- Từ lâu đến nay nói tới con sông Đà nhớ ngay tới Nguyễn Tuân vì Nguyễn Tuân có lúc rất hung bạo, một mình ông cũng ngồi trên một chuyến để lái đò và ông cứ xoáy sâu vào hình tượng sông Đà.
- Trong nền văn học Việt Nam thì có rất nhiều nhà văn mà chúng ta được biết thì chúng ta không thể nói hết về nhà văn nhà thơ được mà Nguyễn Tuân là một nhà văn rất quen thuộc với bao cô cậu học trò cũng đang in rõ sâu trong lòng nhà thơ.
- Chế Lan Viên là một nhà thơ xuyên suốt cuộc đời trong lãnh tụ của Đảng và nhân dân cũng như tất cả các cán bộ.
Cần phải nhìn nhận một thực tế bây giờ là rất ít học sinh viết rung động đối với bài thơ hay, câu văn đẹp. Vì vậy khi viết văn các em toàn diễn xuôi hoặc "thô thiển hoá" văn chương. Một bài thơ hay, sau khi được các em phân tích, bình giảng bỗng trở nên một thứ ngớ ngẩn, không thể nào chấp nhận được, đọc mà nhiều lúc phát tức. Chúng ta hãy nghe thử một số lời bình sau đây:
- Lời bình câu thơ: Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy.
Cảnh đông tàn rét mướt khiến cho con người không muốn quét tước gì nữa, để rồi sau khi nắng lên, sau lưng thềm lá đã rụng đầy như một bãi rác.
- Lời bình câu thơ: Mùa thu nay khác rồi.
Đấy mới hôm nào đấy quay về thì phong cảnh ở đây đã khác rồi, không ai đoán trước được chữ ngờ.
- Lời bình câu thơ: Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu.
Mở đầu bài thơ tác giả đưa ngay ra một cái cồn nhỏ. Cồn của người khác thì rậm rạp còn cồn của Huy Cận thì lơ thơ vài loại cây. Cây cối của Huy Cận chỉ đủ dùng cho một luồng gió.
Lời bình câu thơ: Sông dài, trời rộng, bến cô liêu.
"Bến cô liêu" thì có nghĩa cô liêu là tên của một bến đò. Và "Cô" ở đây chỉ cô gái đứng cô đơn một mình.
Còn đây là một cách mở bài rất điệu đàng và hoa mỹ: Mỗi khi nghe tiếng sóng dữ dội đập vào bờ biển đầy rẫy những hòn đá là em lại chợt rùng mình trong lòng như tê tái có một điều gì đó làm em lo sợ. Đúng rồi, đó là tiếng sóng dữ dội mà ông lái đò từng trải qua mà em đã từng được học trên lớp.
Nếu nói văn là người thì qua những câu văn vừa rồi, bạn sẽ hình dung một lớp người như thế nào? Thật là lạ, lớp người ấy vừa đỗ tú tài! Làm sao đây để học sinh thích học môn văn?
(Theo Tuổi Trẻ)
Các bạn chuyên văn Lam Sơn có ý kiến gì về tình trạng học văn của học sinh Việt nam nói chung không?

CIQ
23-09-2003, 11:59 PM
Đọc mấy bài viết về tiếng Việt vui thật, bài trên thì kiến thức uyên thâm (dù có hơi mang chất "Hải ngoại" tí), còn bài dưới thì dân dã nhưng cũng buồn-cười thật, đúng cái chất của vnn.vn.

Mr. Intelson đưa 2 bài viết trên lên mà chưa cho được một lời bình luận nào cả, không biết bác định có suy nghĩ gì không?
Còn nói về các em hs chuyên Văn Lam Sơn, vì là dân chuyên Văn rồi nên có lẽ cũng hơi xa rời với "thực tế" một chút, có lẽ là chuyện học văn của các em sẽ ít gặp những tình huống như thế. Có điều nghĩ về bản thân CIQ, giờ đọc lại những chuyện này lại nghĩ đến mình ngày xưa, không biết lúc thầy cô giáo đọc bài mình có suy nghĩ giống vậy không.
Ngày còn học cấp 2, cấp 3, suy nghĩ còn là trẻ con, học văn với phần lớn mọi người là học một môn bắt buộc. Cảm nhận, thưởng thức là chuyện thứ yếu, trên cái giá trị của cảm thụ văn học là việc làm sao bắt chước thầy cô giáo - người lớn - để tìm thấy cái hay theo cách của họ, có thế mới được điểm cao, có thế thì mới cần phải học thầy cô giáo. Nói hơi ngoa một chút, thầy cô giáo như người dạy khỉ , rồi sau này thấy con khỉ nó ngọ ngờ uậy bắt chước mình thì quay lại nhìn mà cười hỉ hả, rồi doạ nạt, rồi chê trách...
Biết làm sao được khi trong con mắt của thầy cô giáo, phải là những bài văn "giống" những bài văn mẫu, phải là những ngôn từ "giống" sách để học tốt văn thì mới là những bài văn hay với ngôn từ giàu và đẹp. Đôi khi CIQ nghĩ, không biết những cái thầy cô giáo dạy rồi liệu có phải là những gì họ cảm nhận được không, hay lại là những gì đã trở thành lối mòn qua năm qua tháng, qua trường lớp qua giảng đường được tôi luyện mà nên. Chợt nhận ra suốt cả những năm cấp 2, cấp 3 học văn, CIQ chưa từng được thầy cô giáo nào dạy cho biết cách "cảm thụ văn", hết chứng minh rồi phân tích, chỉ thấy làm bài nộp lên khi nhận về được điểm cao hay thấp thì biết vậy, mà thường thì làm bài nào giống với các sách hướng dẫn thì điểm sẽ cao hơn, cũng chưa từng được thầy cô giáo nào chỉ cho khi cảm xúc như vậy thì nên dùng từ nào diễn tả, cái đẹp như thế là cái đẹp kiểu nào, lớn rồi tự biết, nhưng nghĩ vậy nên lại chẳng muốn cười trẻ con.

Lại dài dòng rồi, nhưng cũng lâu chưa viết cái gì tử tế, bà con rỗi thì đọc chơi, có gì tham gia bình luận cho vui.

huyenmy
24-09-2003, 04:10 AM
Biết làm sao được khi trong con mắt của thầy cô giáo, phải là những bài văn "giống" những bài văn mẫu, phải là những ngôn từ "giống" sách để học tốt văn thì mới là những bài văn hay với ngôn từ giàu và đẹp. Đôi khi CIQ nghĩ, không biết những cái thầy cô giáo dạy rồi liệu có phải là những gì họ cảm nhận được không, hay lại là những gì đã trở thành lối mòn qua năm qua tháng, qua trường lớp qua giảng đường được tôi luyện mà nên. Chợt nhận ra suốt cả những năm cấp 2, cấp 3 học văn, CIQ chưa từng được thầy cô giáo nào dạy cho biết cách "cảm thụ văn", hết chứng minh rồi phân tích, chỉ thấy làm bài nộp lên khi nhận về được điểm cao hay thấp thì biết vậy, mà thường thì làm bài nào giống với các sách hướng dẫn thì điểm sẽ cao hơn, cũng chưa từng được thầy cô giáo nào chỉ cho khi cảm xúc như vậy thì nên dùng từ nào diễn tả, cái đẹp như thế là cái đẹp kiểu nào, lớn rồi tự biết, nhưng nghĩ vậy nên lại chẳng muốn cười trẻ con.


Hơ hơ theo em nghĩ là thế này bac CIQ ạ, khi mà chúng ta học văn cấp 2, 3 gì gì đó, thì cái thực trạng như bác nói y chỉ đúng với dân không phải chyên văn như anh em chúng ta thôi. Có lần em cãi nhau với bạn Datrang về dạy và học văn ỏt phổ thông he he cuói cùng được biết rằng các bạn chuyên văn viết bài hoàn toàn là cảm thụ của họ , không hề bắt trước ai cả ... không như những gì mà anh em dân Toán Lí Hoá hay làm. Giáo viên dạy chuyên văn cũng vậy, họ chấm điểm cũng không phải chấm như kiểu anh Nin nói ... nói chung là chuyên văn khác chúng ta .

Còn nói về cách dạy như bác CIQ nói, thì em tự hỏi rằng, phải chăng để cảm thụ được một bài văn thì con người ta cần có một kiến thức nhất đinh, và cách dạy văn theo kiểu bắt học sinh học thuộc lòng là để trang bị cho học sinh một phần nhỏ trong lượng kiến thức nhất đinh đó ( lượng kiến thức nhất định bao gồm đủ mọi loại kiến thức thu được từ trương lớp , từ cuộc sống .... đủ hết). Nếu học sinh chưa biết những cái a, b, c như vậy thì chưa đủ kiến thức để cảm nhận một bài văn. Và cũng với lượng kiến thức đó, học sinh sau khi ra đại học , lớn lên có thể tự đọc tự hiểu thêm, tự trang bị thêm cho mình những kiến thức khác để cảm thụ được những bài văn hay .

Mỗi người một cách cảm nhận, vì vậy bác CIQ bảo thầy cô hướng dẫn cho cách cảm nhận thì cũng khó, không hiểu bác bào hướng dẫn cách cảm nhận ấy như thế nào ????

CIQ
24-09-2003, 05:22 PM
Anh cũng đã nói ở trên rằng đã là HS chuyên Văn thì "có lẽ" những chuyện như thế này sẽ ít xảy ra rồi đó sao! Nói "có lẽ" để nói rằng không phải tất cả mọi hs chuyên Văn đều vậy, được chọn lọc, thi cử để vào lớp Văn ắt hẳn về học văn họ phải có gì đó khác với hs bình thường nhưng một kì thi cũng không phải là tất cả....

Chuyện những bài văn được đưa lên trên bài báo kia (đều là phân tích "người lái đò sông Đà" của Nguyễn Tuân?) chắc là lấy từ một kì thi tốt nghiệp hay vào ĐH nào đó, và nó là "thực tế" học văn của phần lớn học sinh.

Nói đến việc cảm nhận, và học cảm nhận một bài văn. Mỗi người có cách cảm nhận riêng vì cảm nhận hoà vào trong hiểu biết của từng người, nhưng trong cái riêng đó luôn có cái chung, đó là nội dung tác giả muốn truyền tải, hiệu ứng văn học mà lời văn đẹp tạo ra....
Chắc chú Tuyến cũng chưa từng được thầy cô giáo nào dạy cho biết cách cảm nhận văn nên nói vậy. Anh lấy chút ví dụ từ việc anh học trong lớp tiếng Anh: Bọn anh có học một giờ tiếng anh là "Phân tích nghệ thuật dùng từ trong các lời quảng cáo!". Vì là quảng cáo, ngôn từ thường chau chuốt và dùng nhiều hiệu ứng khác nhau, học sinh trước tiên phải phát biểu cảm giác của mình khi đọc mẩu quảng cáo đó: Thấy thế nào, muốn mua hàng không, muốn tìm hiểu thông tin không, thấy ấn tượng không, có chỗ nào không hiểu để phải đọc lại không..... sau đó là tại sao lại có cảm giác đó: Từ nào tạo ra hình ảnh đó, ấn tượng đó có được từ đâu, từ từ vựng hay cú pháp, văn hoá hay văn học..... sau đó là thay thế các từ đó bằng từ đồng nghĩa, hiệu quả chuyển tải sẽ như thế nào.....
Một bài văn hay có thể hay do toàn bộ bố cục, nhưng có thể chỉ một đoạn văn thuộc đỉnh cao..., việc phân tích, học văn cụ thể có lẽ nằm ngoài phạm trù anh nên bàn luận, cái anh muốn nói ở đây chỉ đơn giản là, trình độ của học sinh có phản ánh cả trình độ của thầy cô dạy họ, vậy có nên chỉ cười mình học sinh!

CIQ
01-10-2003, 10:23 AM
Đấy, khổ một cái, một học sinh mà năm nào cũng được thầy cô giáo cho điểm tổng kết Văn giỏi như anh mà còn không nhớ được là đã được thầy cô giáo dạy cho phát biểu cảm tưởng với suy nghĩ thế nào thì nói gì đến học sinh học bình thường. Có thể anh thuộc lớp người cũ rồi, nhưng cũng phải nhìn nhận một thực tế là giáo dục nước mình còn nhiều mặt kém phát triển, không thể đổ lỗi hết cho học sinh được.

huyenmy
01-10-2003, 02:20 PM
bác CIQ phát biểu còn hơn cả Trần Mạnh Hạo he he. Nền giáo dục nước nhà ......