PDA

View Full Version : Vẫn Trong Vũ điệu Của Cái Bô


Ngô Từ
10-11-2003, 01:44 PM
Tác giả: Lại Nguyên Ân

Khi dự định viết bài này, tâm trí tôi thỉnh thoảng lại nhớ đến tên một truyện ngắn của Nguyễn Quang Thân, truyện "Vũ điệu của cái bô". Ấy là truyện đầu thời mở cửa, anh kỹ sư thời bao cấp nay lâm cảnh thất nghiệp, rồi tìm được việc làm tại tư gia một thiếu phụ bỗng chốc giàu lên, hoặc do vốn tự có hoặc nhờ có chồng đi tàu viễn dương. Công việc của anh kỹ sư trong vai trò mới là gia sư kiêm bảo mẫu, tựu trung xoay quanh "vũ điệu của cái bô". Tôi nhớ cái tên truyện ấy, vì đang chứng kiến những chuyện có vẻ rất khác thế nhưng hình như vẫn giống như thế.

Chả là tôi có quen ba bốn chị bạn, bây giờ phải gọi là bà bạn. Mấy bà này sau thời đại học, đã yên vị ở một cái Viện tọa lạc giữa thủ đô, đã kịp sang Nga hoặc Ðông Âu kiếm về cái bằng phó tiến sĩ ("hữu nghị" hay không, chả cần bàn); cách đây dăm bảy năm một buổi sáng thức dậy nghiễm nhiên đồng loạt trở thành tiến sĩ; công việc thì cực kỳ an nhàn: mỗi tuần đến Viện một lần, mỗi năm đưa đăng chừng 01 bài báo trên tạp chí của Viện; còn lại, thời giờ là của mình, ai giỏi giang thì "đánh" dăm bảy công-ten-nơ hàng bán sang bên Nga bên Tiệp, hoặc kinh doanh nhà đất, ai tự thấy tài lực ít thì lại có dư thời gian chăm sóc chồng con, lo cho chồng con lên chức, lo cho con du học sang Mỹ sang Úc. Những người đàn bà thành đạt ấy hễ gặp nhau ở Viện thì chỉ dành thời gian hỏi thăm nhau về con cái, rồi bàn tán chuyện váy áo, chứ mấy khi nói chuyện học thuật chuyên môn!

Cứ tưởng như đã đạt đến tiễn sĩ rồi thì chẳng cần làm gì nữa, đã ngồi ở cái viện "cả nước chỉ có một" này thì chẳng có gì phải phấn đấu nữa. Thế mà vài ba năm nay, mấy bà tiến sĩ này bỗng chạy đôn chạy đáo, phấn đấu cật lực.

Thì ra, họ tính toán với nhau cả rồi. Này nhé, đã có học vị tiến sĩ rồi, phải phấn đấu để có học hàm phó giáo sư, thì mới được xê dịch tuổi nghỉ hưu được thêm năm năm nữa so với tuổi nghỉ hưu thông thường của viên chức. Ở xứ nào kia người ta mới hoài nghi cái việc người lao động nhảy dựng lên đòi làm việc nhiều hơn mức mà chủ sử dụng yêu cầu, chứ ở ta đây, muốn cống hiến nhiều nhất, muốn giữ trọng trách đến nhắm mắt tắt hơi, muốn về hưu muộn, vẫn là tâm thế chung của công chức Việt Nam. Mà ai không tin cái "nói chung" ấy thì thông cảm với cái "nói riêng" này, rằng ở tuổi năm mươi lăm, các bà trẻ này vẫn còn trẻ lắm, còn có thể làm thêm nhiều việc lắm (kể cả đẻ thêm vài lứa nữa!). Nếu tiếp tục gặp nhau ở Viện mà chuyện gẫu về con về cháu, về ô sin, về cưới hỏi, về váy áo... liền liền dăm bảy năm nữa thì vẫn hay hơn là ở nhà, loanh quanh giữa mấy cái chợ, cái siêu thị, cái máy tập thể dục, cái tivi!

Tính toán đâu vào đấy rồi, họ phấn đấu, thực hiện cho bằng được! Phải có được tổng cộng mấy trăm giờ dạy cho bậc cao đẳng, đại học; phải hướng dẫn thành công một số nghiên cứu sinh bậc thạc sĩ hoặc tiến sĩ.

Mấy bà tiến sĩ này, tôi biết, vốn ngại lắm chuyện dạy học, thế mà nay bỗng nháo nhào tìm nơi thỉnh giảng. Ở Hà Nội hiếm chỗ dạy thì đi xa, Thái Nguyện, Hải Phòng, Nghệ An, Ðà Lạt, Quy Nhơn... Tàu xe có vất vả chút ít thì được bù lại ở cách đối xử: ở Hà Nội mỗi tiết dạy may ra được tính gấp đôi, nhưng ở xa có thể tính gấp ba gấp bốn lần. Tổng số giờ dạy chẳng mấy mà đủ. Chuyện tìm nghiên cứu sinh có khó hơn, nhưng càng nơi xa càng dễ tìm. Ở các trường đại học, cao đẳng nơi ấy có thiếu gì những giảng viên trẻ, chỉ mới có học vị cử nhân, chỗ đứng trên bục giảng còn chông chênh nếu không gắng gia cố bằng tấm bằng thạc sĩ. Những cử nhân là phụ giảng hay giảng viên ấy, ngay tại nơi "vùng sâu vùng xa" của mình bỗng gặp được các tiến sĩ về thỉnh giảng. Chuyện tưởng như chỉ có trong mơ. Và với nỗ lực của hàng trăm tiến sĩ như mấy bà tôi quen, hàng ngàn nghiên cứu sinh tỉnh lẻ được ân cần đưa đường ra Hà Nội làm luận án thạc sĩ, tiến sĩ.

Ngô Từ
10-11-2003, 01:45 PM
Ở Việt Nam luôn luôn có những chuyện trái nhau.

Ví như để vào đại học, bạn phải tự mình ra thành phố lớn dự thi, phải tự lo lều chõng cơm nắm cơm đùm, tự mình chen chúc tàu xe, tự tìm tự lo chỗ trọ; đủ thứ khó khăn, bạn phải tự mình chịu lấy, vượt qua. Người ta gạt đi không hết những người muốn trở thành sinh viên, nhưng hình như người ta phải thắp đèn đi tìm nghiên cứu sinh. Chả thế mà giới giáo sư đại học cưng họ lắm. Tôi nhớ ông Hiến ông Sử từng kể: "Bọn nó thi ngoại ngữ chẳng biết gì, đáng 0 điểm; chúng tôi vớt cả"; "Bọn nó bảo vệ đề cương, chẳng ra gì, đáng 2 điểm; chúng tôi vớt, cho 8 điểm. Không cho đỗ lấy đâu ra nghiên cứu sinh cao học?"

Ðại khái thế thôi. Chuyện thủ tục làm nghiên cứu sinh cũng rườm rà, rầy rà lắm. Ở xứ ta, khi con người kết nối thành cơ chế, bao giờ nó cũng hành hạ kẻ muốn lọt qua, muốn được OK. Nhưng con người xứ ta cũng có trăm kế ngàn phương để lọt qua cánh các cửa tưởng rất khó mở. Rốt cuộc thì mọi thủ tục sẽ xong. Cái khó còn lại là nội dung luận án. Các nữ tiến sĩ đóng vai trò bà thầy hiểu rõ điều này. Họ đã nhận các nghiên cứu sinh kia là trò họ sẽ ra tay cứu giúp.

Ðề cương luận án dĩ nhiên các bà thầy phải soạn cho nghiên cứu sinh thì mới qua được các hội đồng. Bảo vệ đề cương xong rồi, mấy cô cậu ấy lên tàu về trường rồi, các bà thầy lo làm tư liệu, làm dàn bài dàn ý cho bọn họ. Cố nhiên các bà thầy chẳng chịu ngồi tra cứu lâu trong thư viện làm gì, chỉ cần đến cổng thư viện ở phố Tràng Thi, hẹn hò trò chuyện với mấy nhân viên thư viện, nêu yêu cầu tìm cho những tài liệu abc của những tác giả xyz trên những tờ báo này tạp chí kia của năm này năm kia, có thì chụp photocopy cho v.v… Dăm bữa nửa tháng sau, đơn đạt hàng sẽ được thực hiện. Danh mục tư liệu tham khảo cho luận án của nghiên cứu sinh đến đấy coi như căn bản xong. Công đoạn quan trọng nhất vẫn là nghiên cứu sinh tự viết ra luận án, bà thầy sẽ đọc, góp ý và giúp sửa chữa, bổ sung nâng cao, hoàn chỉnh dần cho đến lúc đưa ra bảo vệ thử...

Ðáng lẽ làm nghiên cứu sinh tức là làm người nghiên cứu; làm luận án cốt để chứng tỏ người nghiên cứu biết tự đề xuất và giải quyết những nhiệm vụ nghiên cứu độc lập; trên một đề tài cụ thể phải có những phát hiện mới so với những người nghiên cứu đi trước.

Nhưng đấy là mẫu mực lý tưởng, nó xa vời lắm. Ở xứ ta, giúp nghiên cứu sinh thành công trong luận án trước hết là lợi ích của các thầy hướng dẫn. Mỗi thầy cần có thêm một số trò từ cử nhân trở thành thạc sĩ, tiến sĩ. Khi đã vào cuộc đến nửa đường rồi, các nghiên cứu sinh sẽ nhận ra điều ấy, và nếu cần họ sẽ tận dụng cơ hội. Cố nhiên có những nghiên cứu sinh biết tự giải quyết công việc của mình. Nhưng những nghiên cứu sinh cần đến các bà thầy tiến sĩ mà tôi quen vốn không phải là người học giỏi. Viết một bài luận hàng trăm trang, dù đã sẵn hàng trăm công thức diễn giải có sẵn, đối với họ vẫn là việc quá khó. Dù đã đứng giảng ở bục giảng đại học, cao đẳng, họ vẫn viết câu sai, hoặc nói cho rõ hơn, họ không hề biết những chỗ sai khi họ viết. Hiểu biết chung, kiến thức chung, cần có để diễn giải cái vấn đề của luận án, hình như họ rất thiếu. Các bà thầy, ở chỗ riêng thường lắc đầu bảo nhau: "Chúng nó chẳng biết gì cả, chẳng đọc gì cả, chẳng hiểu gì cả!" Thế nhưng cái quyết tâm biến bọn người "chẳng biết gì cả" ấy thành thạc sĩ, thành tiến sĩ của các bà vẫn không lay chuyển. Nghe những cái đề các bà thầy chọn cho nghiên cứu sinh thì thật to tát: Chất nghịch dị trong văn Nam Cao; chất nghịch dị trong văn Vũ Trọng Phụng, đại khái thế. Thế mà hình như nghiên cứu sinh còn không biết nghịch dị là cái gì, còn chưa đọc hết tác phẩm Nam Cao, tác phẩm Vũ Trọng Phụng...

Họ chưa biết nhiều thứ nhưng đừng xem thường họ. Họ đã là công chức, đã là thầy giáo. Trở lại làm nghiên cứu sinh là trở lại làm học trò, họ sẽ không quên các phép thuật của học trò trong thi cử mà tựu trung khá giống chuyện kinh tế, nghĩa là sao cho có lợi nhất, tốn ít sức nhất, đạt hiệu quả cao nhất. Một bài học nghiên cứu sinh thời Liên Xô còn được rỉ tai nhau làm mẫu. Anh phó tiến sĩ nọ, con quan, cũng là con nhà văn, từ Việt Nam sang Nga thêm một lần làm nghiên cứu sinh bậc đốc-tờ, nay ở Việt Nam gọi là tiến sĩ khoa học, để phân biệt với những phó tiến sĩ được gọi là ("tiến sĩ" không "khoa học"). Anh ta cân nhắc rồi thực hiện bản luận án khoa học có tên (dịch): "Chủ nghĩa quốc tế của nền văn học Xô viết"; phụ đề là: "Ðề tài Việt Nam trong sáng tác của các nhà văn Liên Xô". Nghĩa là, trên thực tế, anh ta chỉ làm cái việc tập hợp một mớ thơ văn thù ứng cảm khái hữu hảo khi một số vị nhà văn kia làm khách mời đến xứ nhiệt đới này. Cái mớ tác phẩm mà chắc các tác giả cũng chỉ coi như thoảng qua, không thuộc phần chính yếu của văn nghiệp mình. Làm cái công việc cỏn con ấy nhưng lại dành được cái học vị cao nhất mà trường đại học có thể tạo ra, thế thì rẻ quá, lãi quá còn gì!

Mấy nghiên cứu sinh là học trò mấy bà thầy tiến sĩ, do thầy chọn cho các đề tài quá sức mình, đã vận dụng bài học "hiệu suất tối đa" của tiền bối kia bằng cách khéo léo sao cho trăm dâu đổ một đầu... thầy; thầy nghĩ ra đề thì thầy đi mà viết!

Mà các bà thầy viết thật. Cầm tay chỉ việc mãi trò vẫn không viết được, mấy bà thầy bảo nhỏ với nhau: Thà mình viết thẳng ra còn hơn! Cố nhiên chẳng ai quên cái luận văn vẫn mang tên học trò. Mà công sức và sự hy sinh cho các học trò của các bà thầy nào chỉ có thế thôi đâu! Còn bao nhiêu việc trước mắt từ nay đến lúc bảo vệ thử, bảo vệ thật, nào nghe ngóng việc lập hội đồng, nào phản biện kín phản biện hở, nào thăm dò khả năng bỏ phiếu chung cuộc! Cho đến lúc đám bạn bè của họ có thể tặng hoa, mở sâm banh, còn nhiều việc lắm. Việc của trò, của nghiên cứu sinh cả. Nhưng các bà thầy biết, mình phải lo tất tần tật. Hao công lắm, đôi khi còn phải bù chút xíu tiền túi của mình nữa. Làm chuyện lớn thế kia mà! Biến một số cô cậu vào loại không biết gì thành tiến sĩ là chuyện lớn hẳn đi chứ, dễ mấy ai làm được? Trò đỗ tiến sĩ, thầy sẽ có đủ điểm cho kỳ xét duyệt chức danh tới đây.

Ðang ngồi viết giúp luận văn cho cô cậu nghiên cứu sinh học trò mình mà những ý nghĩa đầy phấn chấn cứ náo nức trong đầu mấy bà thầy. Tay các bà múa lên trong vũ điệu...

Vũ điệu của cái bô!

Thật thế. Tôi chẳng biết có bao nhiêu tiến sĩ hàng năm được ấp nở ra theo kiểu trên đây. Dẫu số lượng tiến sĩ có nhờ thế mà trở nên đông đảo, dẫu số lượng phó giáo sư có nhờ thế mà nhanh chóng nhiều lên, tôi vẫn không tin rằng chuyện này có giúp gì cho sự tăng trưởng của đội ngũ chuyên gia giỏi, cho sự tăng trưởng của khoa học.

huyenmy
11-11-2003, 10:06 PM
bác TTMT có thể giới thiệu cho em ông hay bà tiến sỹ nào muốn đào tạo thạc sỹ ko >?? cho em theo với :D :D

nanosoft
23-11-2003, 12:43 PM
Bây giờ ra ngoài đương hỏi anh chi đang lam gì thi:Hoằc đang làm việc ở một công ty nào đo,hoặc đang di học cao học:So nay chủ yếu là thất nghiẹp không co việc làm nên đi học.Đúng là việt Nam chỉ toàn chuyện hài hươc thoi.Em noi thế mấy bác PhD tha thứ bỏ qua nhé.
To :Admin ,Bác chỉ cho em cách trâu vói.Em đang cần trâu đây nhưng khó quá.co người chỉ bảo vẫn hơn.Bac cứ nhắn tin cho em.Cam ỏn bác trước

Duca
23-11-2003, 03:02 PM
Anh thấy ông Lại Văn Sâm à quên ông Lại Nguyên Ân này thắc mắc rất buồn cười, đã là cái bô thì vũ điệu cũng phải là vũ điệu của cái bô chứ lại đòi vũ điệu của cái gì nữa, vũ điệu Tây Ban Nha chắc :D

Thì ra, họ tính toán với nhau cả rồi. Này nhé, đã có học vị tiến sĩ rồi, phải phấn đấu để có học hàm phó giáo sư, thì mới được xê dịch tuổi nghỉ hưu được thêm năm năm nữa so với tuổi nghỉ hưu thông thường của viên chức. Ở xứ nào kia người ta mới hoài nghi cái việc người lao động nhảy dựng lên đòi làm việc nhiều hơn mức mà chủ sử dụng yêu cầu, chứ ở ta đây, muốn cống hiến nhiều nhất, muốn giữ trọng trách đến nhắm mắt tắt hơi, muốn về hưu muộn, vẫn là tâm thế chung của công chức Việt Nam


Ông này không hiểu một điều quá đơn giản là (về cơ bản) thằng nào cũng muốn kiếm được nhiều tiền trong khả năng mà nó có thể. Ở "xứ nào kia" người ta hoài nghi về cái việc xung phong làm thêm giờ của "người lao động" là vì chả ai ngờ u mà lại làm không công chứ nếu mà trả thêm tiền cho cái việc xung phong kia thì chỉ có thằng x biêt gì mới hoài nghị, các chú công nhận không. Còn "ở đây" thì khác, theo ông này đã kể lể, là làm việc đã nhàn, lại được đi tán gẫu, so mốt quần áo, cả năm cần vài bài đăng trong tạp chí của Viện thế mà lương lậu vẫn nhận đều đều, thế thì việc gì mà không xung phong.

Cái nữa là ông này có vẻ cường điệu hoá vấn đề (một cách x hiểu gì):
Ðề cương luận án dĩ nhiên các bà thầy phải soạn cho nghiên cứu sinh thì mới qua được các hội đồng. Bảo vệ đề cương xong rồi, mấy cô cậu ấy lên tàu về trường rồi, các bà thầy lo làm tư liệu, làm dàn bài dàn ý cho bọn họ. Cố nhiên các bà thầy chẳng chịu ngồi tra cứu lâu trong thư viện làm gì, chỉ cần đến cổng thư viện ở phố Tràng Thi, hẹn hò trò chuyện với mấy nhân viên thư viện, nêu yêu cầu tìm cho những tài liệu abc của những tác giả xyz trên những tờ báo này tạp chí kia của năm này năm kia, có thì chụp photocopy cho v.v… Dăm bữa nửa tháng sau, đơn đạt hàng sẽ được thực hiện

Làm qué gì cả năm tán gẫu so mốt mà hướng dẫn được đồ án Thạc sỹ Tiến sỹ cho mấy thằng cu dốt được, có mà loạn. Lại còn nói chỉ cần nhờ copy mấy bài báo trong thư viện mới buồn cười. Đã bịa mà lại còn không biết đường mà bịa, khi nêu tên được các bài báo cần đọc rồi thì tức là đã có nó để đọc rồi, thế mà lại còn vào thư viện để nhờ copy. Hơn nữa thư viện thì đa số toàn báo cũ, một người mà không nghiên cứu, không cập nhật kiến thức, chỉ xem mấy tạp chí cũ có mà tìm đề tài Ph.D. vào mắt. Lại còn nói viết hộ luôn cho sinh viên, thế thì giỏi cụ nó rồi, phải phong giáo sư ngay để còn được cống hiến tiếp là phải còn kêu gì nữa.

Cái gì tồn tại có nghĩa là nó có nguyên nhân và lý do để tồn tại. Nếu mình đang phải ở trong, anh xin lỗi, cái bô, mà không hiểu tại sao lại thế thì đừng có thắc mắc (ngớ ngẩn) làm gì cả. Lúc nào ra được khỏi cái bô lúc đấy tha hồ mà nhảy nhót, vũ điệu gì cũng được mà không phải là vũ điệu của cái bô, tất nhiên. Phải không nào :P

PS: Các ví dụ nêu ra toàn là về dân xã hội nên anh nghĩ bác này chắc cũng thế. Anh thì không để ý lắm nhưng nhiều thằng nó bảo giai xã hội tư duy logic rất chi là kém, có khi cũng phải đồng ý phát. Nói thật là gái mà sướt mướt lèm bèm vớ vỉn tí có khi còn cố mà chịu được chứ giai mà thế thì thật chỉ muốn đạp cho phát vào mặt, nhỉ các chú nhỉ. :unsure:

Ngô Từ
25-11-2003, 06:07 AM
E hèm, bác Duca chửi rát quá nên bà con không vào trả lời đây. Em thì không dám cho rằng con trai xã hội tư duy kém, chỉ nghĩ là đa phần thì không được như con trai tự nhiên thôi, do đặc điểm của khoa học xã hội. Nhưng em tin các giáo sư đầu ngành phải là những người rất khá!. Còn con trai tự nhiên, kô phải ngành nào cũng đòi hỏi logic cao, và kô phải ai cũng hơn con trai XH!

Lại Nguyên Ân có lẽ viết riêng cho tình hình ở Việt Nam, dựa theo những gì ông ta biết. Người ta vẫn nói: Không ở trong chăn thì làm sao biết chăn có rận. Em không ở trong cùng cái chăn như LNA, và cả bác Duca cũng thế, nên cũng chỉ dám dè dặt nhận xét thôi, có gì bác cho thêm ý kiến. Nhưng, có lẽ ở VN tình hình chung là vậy bác ạ. Ngay cả những giáo sư nổi tiếng như cụ Trần Quốc Vượng, khi hướng dẫn thì bài của học trò toàn là sửa lại từ của thầy thôi. Đấy là trong ngành XH. Còn với KH Tự Nhiên thì hình như cũng tuỳ từng nơi. Tất nhiên là LNA nói thậm xưng một chút, nhưng ông ta cũng không nói tất cả mọi người, tất cả những bằng TH. S. hay T.S đều làm như vậy. Em nghĩ cũng có nhiều người cơ hội, cũng nghĩ ra lắm trò quái dị, nghĩ ra đủ cách để mua danh thôi. Bởi vì một khi cái danh có thể mua được, không phải dựa trên thực lực, thì họ mua ngay. Trước đây thì người ta mua bằng đại học, đi học chuyên tu tại chức kiếm mảnh bằng. Bây giờ thì họ kiếm cái chữ "Tiến sĩ" hay "Phó tiến sĩ" để cho đời thêm đẹp.

Ngày xưa giáo sư Văn Như Cương có một câu khá nổi tiếng: "Đến con bò đi qua Matxcơva cũng trở thành phó tiến sĩ" :P . Buồn cười quá. Mà cũng không phải là không có cơ sở, dù rằng hơi chua chát.

lazycat
25-11-2003, 02:56 PM
Chuyện xưa như diễm rồi bà con ạ. Không làm thay cho tụi nó thì thầy làm sao kiếm được danh. Tụi nó viết nhăng viết cuội thì thầy cũng mang tiếng chết. Tốt hơn hết là giúp nó cho xong! Vả lại qua đó kiếm thêm vài đồng nuôi vợ/chồng và con chứ. Cơ chế cộng sinh mà lị! B)

À, con bò hay con người đều là con cả - dạy nó như thế nào thì nó sẽ làm lại i sì foóc như thế. Thói quen qua nhiều thế hệ và khó thay đổi! Hy vọng mấy bác nhà ta không nhiễm thói quen đó. Ooops, như thế chưa chắc đã được yên đâu nhé. Nhập gia tuỳ tục mà lị! B)

lazycat
25-11-2003, 03:16 PM
Cần chấn chỉnh quy trình đào tạo tiến sĩ

So với các nước trong khu vực, xét về số lượng cán bộ có học vị cao (kể cả việc đào tạo ở nước ngoài thì hiện nay số người có học vị tiến sĩ (TS) và tiến sĩ khoa học (TSKH) là gần 13 nghìn người) Việt Nam chiếm vị trí đầu bảng. Song số lượng công trình đăng trên các tạp chí quốc tế trong 27 bộ môn khoa học, Việt Nam còn xếp hạng sau Singapore, Malaysia và Thái-lan. Rõ ràng, chất lượng đào tạo TS đang có khoảng cách xa với chuẩn mực quốc tế

Trong bối cảnh toàn cầu hóa chất lượng và hiệu quả đào tạo đóng vai trò hết sức quan trọng. Số lượng công trình nghiên cứu đã đăng và được trích dẫn thuộc các tạp chí quốc tế có uy tín, hoặc bằng sáng chế được quốc tế thừa nhận, được coi là hai tiêu chuẩn chung đánh giá về trình độ và tiềm năng khoa học - công nghệ (KHCN) của một nước. So với các nước trong khu vực, xét về số lượng cán bộ có học vị cao (kể cả việc đào tạo ở nước ngoài thì hiện nay số người có học vị tiến sĩ (TS) và tiến sĩ khoa học (TSKH) là gần 13 nghìn người) Việt Nam chiếm vị trí đầu bảng. Song số lượng công trình đăng trên các tạp chí quốc tế trong 27 bộ môn khoa học, Việt Nam còn xếp hạng sau Singapore, Malaysia và Thái-lan. Rõ ràng, chất lượng đào tạo TS đang có khoảng cách xa với chuẩn mực quốc tế, việc rà soát và chấn chỉnh lại quy trình đào tạo TS đang là đòi hỏi khách quan của xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, khu vực. Mục tiêu đào tạo và sử dụng văn bằng TS, mã số ngành nghề, tiêu chuẩn khoa học của luận án, và việc thành lập Hội đồng chấm luận án TS là một vài vấn đề cơ bản nhất, cần được nghiên cứu kỹ và xem xét lại trước tiên.

Mục tiêu: người có học vị từ TS trở lên ở nước ngoài được coi là bác học, mà nghề nghiệp chính làm lý luận, nghiên cứu và sáng tạo, đi tìm cái mới. Việc đào tạo TS chủ yếu phục vụ nghiên cứu khoa học tại các phòng thí nghiệm, giảng dạy ở bậc đại học và cho sản xuất, chế tạo. Trừ một số ban, ngành liên quan nhiều đến học thuật như các bộ khoa học, giáo dục, y tế, văn hóa..., còn các bộ, ban, ngành khác không nhất thiết đòi hỏi phải có văn bằng TS làm tiêu chuẩn quan trọng để bổ nhiệm cán bộ quản lý. Lãnh đạo, quản lý có yêu cầu riêng, nó đòi hỏi nhiều về khả năng tập hợp, tổ chức và hoạt động thực tiễn. Nói như vậy không có nghĩa ở các vị trí lãnh đạo không đòi hỏi bằng cấp cao, song cũng xin lưu ý: các nước tiên tiến cũng không đặt vấn đề đào tạo TS cho mục tiêu quan chức. Việc sử dụng văn bằng TS trong hệ thống quản lý và bổ nhiệm cần phải được cân nhắc và xem lại. Nhận thức chưa chuẩn xác văn bằng TS khi lên kế hoạch đào tạo, sẽ tạo ra sự thừa thiếu giả tạo trong xã hội.

Mã ngành đào tạo: Hệ thống mã ngành đào tạo là cốt móng của thiết kế giáo dục - đào tạo, là văn bản hệ trọng của quốc gia. Bổ sung mã ngành là việc làm cần thiết trong giai đoạn mới, song thay đổi hẳn nguyên tắc, và xem nhẹ truyền thống, thì vấn đề trở nên nghiêm trọng. Hệ thống mã ngành đào tạo đại học và sau đại học (SÐH ) được xem là một trong những thành tựu rất lớn do Bộ Ðại học và Trung học chuyên nghiệp xây dựng trong khoảng 30 năm tồn tại của mình, và nó liên quan đến mã ngành quốc tế. Việc cấu trúc lại bậc đại học và SÐH, bỏ học vị TSKH và thêm bậc thạc sĩ (ThS) tạo ra sự xáo trộn và nhầm lẫn không cần thiết. Mã ngành ThS và TS phải tiến hành đăng ký lại trong khoảng 10 năm nay, vừa làm tăng thêm sự rắc rối theo kiểu "xin cho", vừa làm cho công việc này rơi vào tình trạng bế tắc. Ai cũng biết, TS đòi hỏi kiến thức sâu rộng hơn và cao hơn bậc ThS, song thực tế có nơi đăng ký một mã ngành ThS, nhưng lại có hai mã ngành TS (!?) là không thuận (là nghịch). Mọi sự so sánh đều là khập khiễng, song có thể chọn một thí dụ minh họa để nắm được bản chất của vấn đề. Hệ thống mã số của gần 400 ngành đào tạo (trong hơn ba nghìn ngành nghề khác nhau của xã hội) được ví như bản gia phả của một dòng họ nhiều đời. Sự thay đổi từ "phụ hệ" sang nguyên tắc "ai lớn tuổi làm anh" và phải viết lại bản gia phả này, thì sự phức tạp là điều ai cũng có thể hình dung được. Sự bất ổn hệ thống mã ngành đào tạo cần được sớm giải quyết. Cảnh "hỗn loạn" mã ngành gây nên nhiều hậu quả nghiêm trọng. Chỉ xin đơn cử hai việc đã biết: 1- Việc không xử lý được kết quả thi vào đại học và cao đẳng năm qua để thực thi chủ trương đúng đắn "ba chung", đã làm xã hội phải trả giá đắt; 2- Việc xây dựng chương trình và viết sách giáo khoa cho bậc đại học và cao đẳng cũng không thành công, mặc dù huy động hàng chục nghìn cán bộ của cả ngành đại học và cao đẳng trong 10 năm đổi mới, làm đi làm lại ba bốn lần, song kết quả đến nay thầy và trò vẫn thiếu sách hết sức trầm trọng.

Chất lượng luận án: KHCN trong vài thập kỷ gần đây vốn là sân chơi chung trên thế giới. Công trình quốc tế và bằng phát minh sáng chế được coi là sản phẩm KHCN đích thực, và được sử dụng để đánh giá sự sáng tạo. Dựa vào hai tiêu chuẩn này luận án TS (Ph.D) được đánh giá khách quan và là cách làm chung của giới học thuật quốc tế. Số lượng công trình nhìn chung được đòi hỏi cho TS như nhau, riêng khối Liên Xô (trước đây), phần viết luận văn TS và tổng quan được chú trọng và đòi hỏi cao hơn. TS là bậc đào tạo cuối cùng, ghi nhận người đó có khả năng độc lập trong nghiên cứu, hay có trình độ nhất định trên con đường tìm tòi khoa học. Ðể trở thành nhà khoa học thật sự ở nước ngoài, người có bằng TS còn đòi hỏi phải trải qua một hay hai khóa "hậu" TS, hay nôm na gọi "thực tập sau khi có bằng TS" từ ba đến sáu năm ở các viện, trường đại học, nhóm nghiên cứu danh tiếng. Nhiều nước TS tự viết thêm một luận án TSKH, mà nó đòi hỏi sự sáng tạo và đóng góp lớn hơn cho khoa học. Các chuẩn mực quốc tế để xem xét luận án TS cần sớm vận dụng vào Việt Nam để nâng cao giá trị TS ngang tầm quốc tế và khu vực. Theo thống kê quốc tế, số lượng công trình đăng trên các tạp chí uy tín của Thái-lan có trung bình khoảng 250 bài/năm. Vậy số người bảo vệ luận án TS, nằm ở con số khoảng 120 - 130 người là bảo đảm chất lượng. Việt Nam còn đứng sau Thái-lan về số lượng công trình, mà dự kiến đào tạo hàng nghìn cán bộ có trình độ TS/năm (1) là một kế hoạch không thực tế ! Trong khoa học, số lượng và chất lượng liên quan mật thiết với nhau, nhưng số lượng được khẳng định không hẳn thay thế được chất lượng.

Hội đồng chấm luận án: Trừ những nghiên cứu liên quan bí mật quốc gia, về nguyên tắc luận án TS phải bao gồm các kết quả đã được công bố công khai và rộng rãi trong cộng đồng học thuật trong ngoài nước. Xét một cách cơ bản, Hội đồng chấm luận án chỉ xác nhận sự hiểu biết sâu rộng và khả năng độc lập, cũng như kết quả mới mà nghiên cứu sinh đã nhận được. Hội đồng xem xét luận án TS thường được tổ chức theo hai cách: 1 - Hội đồng loại một tạm gọi là hội đồng "cố định" có thời hạn (4 - 5) năm, gồm những nhà khoa học đầu ngành của quốc gia, có mã ngành đào tạo giống nhau và có học vị cao ít nhất 5 năm; 2 - Hội đồng loại hai tạm gọi là "Hội đồng lâm thời" chỉ có giá trị một lần, do cơ quan khoa học (ở Việt Nam gần đây là cơ quan "hành chính") có trách nhiệm lựa chọn một số người theo một tiêu chí nào đấy. Nói một cách hết sức "thô sơ" để dễ hình dung, việc thành lập hai loại hội đồng trên tương tự như "Hội đồng chấm thi" vào đại học và "Hội đồng chấm phúc tra". Việt Nam là một nước đang phát triển, số lượng các nhà khoa học thời kỳ đầu còn ít, trình độ học thuật còn hạn chế, việc thành lập "Hội đồng lâm thời" đào tạo bậc TS có lý do lịch sử riêng của nó. Việc hành chính hóa kiểu "Hội đồng lâm thời" và lại tiếp tục phân cấp cho cơ sở đào tạo sẽ thiếu khách quan và có nhiều nghịch lý. Nghiên cứu kỹ quy trình đào tạo TS của Bộ Giáo dục và Ðào tạo ban hành có điểm được, song nhiều điểm phải xem lại. Quy trình này vừa rắc rối kiểu hành chính, mất nhiều thời gian, tốn kém, song lại thiếu cơ sở khoa học. Xin đơn cử: 1 - Việc thông báo kết quả tại bộ môn, xem xét sơ bộ luận án TS trước khi giới thiệu làm thủ tục bảo vệ là một quy định đúng đắn, song rất tiếc bộ môn trong các trường đại học còn có nơi đã xóa bỏ (?!); 2 - Chưa bàn đến tính khoa học, trước khi bảo vệ chính thức nghiên cứu sinh phải đi xin khoảng 20 nhận xét luận án TS trong ngoài hội đồng, riêng việc đi lại chầu trực đã mất ít nhất 40 lần đi lại.

Tóm lại, chẳng cứ gì việc đào tạo SÐH, mà nói chung, giáo dục đại học cũng cần chấn chỉnh lại một cách hệ thống dựa vào tư tưởng Hồ Chí Minh, kinh nghiệm của ngành đại học và cao đẳng cách mạng để lại, các chuẩn mực quốc tế: từ nền móng, thiết kế và mô hình đại học (phải làm rõ khái niệm bộ môn, khoa, trường), mạng lưới các trường, chương trình và sách giáo khoa, tài liệu... đến hệ thống tổ chức và nhân sự. Nhớ ngày xưa, Việt Nam chưa có mấy GS, TS nhưng giáo dục đại học của Việt Nam hơn hẳn Thái-lan, nay trường đại học tốt nhất của Việt Nam lại kém Thái-lan khoảng 50 bậc. Những điều này nêu ra không phải muốn trầm trọng hóa tình hình hay làm cho nó rối thêm mà chỉ mong cùng mọi người lần ra đầu mối mà tháo gỡ. Từ thực tế đó, cần nhanh chóng có các giải pháp mạnh mẽ, hợp lý giúp cho đào tạo sau đại học của đất nước phát triển về quy mô và bảo đảm về chất lượng. Một vấn đề có tính nguyên tắc muôn thuở là: có chủ trương đúng nhưng phải có đội ngũ cán bộ thực thi - trước tiên là các nhà khoa học am hiểu vấn đề thiết kế và chỉ đạo thi công, có tâm và có tầm ngang với nhiệm vụ. Chúng ta có, nhưng phải biết chọn và dùng!

-------------------------
GS, TSKH NGUYỄN XUÂN HÃN

Theo báo Nhân dân

1 - Theo dự thảo chiến lược phát triển giáo dục - đào tạo 2001 - 2010 của Bộ Giáo dục và Ðào tạo, kế hoạch đào tạo TS theo số lượng nghiên cứu sinh (NCS) năm 2000 là 3.870; năm 2005 là 7.500 NCS và 2010 là 15.000 NCS

Duca
25-11-2003, 09:51 PM
Hehe, Unclosed, xã hội hay tự nhiên là nói cho xôm chứ phân biệt gì. Nhưng dù sao thì anh thấy cái kiểu viết của Lại Nguyên Ân không biết thuộc cái dạng gì. Nếu là bài viết mang tính học thuật thì phải đi kèm các số liệu cụ thể như bài của chị lazycat bốt lên, ví dụ chỉ cần nhìn vào thông tin vê số lượng báo cáo khoa học trên các tạp chí uy tín của ngành của một PhD trong một năm cũng có thể đánh giá khá chính xác về chất lượng rồi; còn nếu là bài viết kiểu chuyện phiếm vỉa hè thì không nên đưa vào các thông tin cụ thể như kiểu "tôi nhớ ông Hiến ông Sử từng kể..." rồi lại đi kèm với những từ rất thiếu tính thuyết phục: "đại khái thế...". Còn cái chuyện chăn với rận thì anh cũng đồng ý với chú tuy nhiên ý của anh là cái chăn mà bẩn thì thế nào chả có rận, la toáng lên làm gì. Vấn đề là làm sao cho cái chăn hết bẩn mới khó (tất nhiên cái việc kêu cái chăn lắm rận cũng là một việc giúp cho người ta biết là cái chăn bẩn nhưng cũng phải kêu thế nào cho người ta còn nghe được, thế thôi). Anh thì nghĩ là vấn đề cải cách giáo dục cũng như chiến lược phát triển con người của ta còn nhiều bất cập nên những hiện tượng tiêu cực chắc chắn không tránh khỏi. Muốn thay đổi được cũng phải từ từ khi mà vấn đề đó được nhận thức một cách đúng đắn bởi các nhà lãnh đạo cũng như các học giả, có khi cũng phải tới cả một thế hệ. Không chỉ là giáo dục mà các lĩnh vực khác cũng thế, rất nhiều vấn đề mang tính thời sự và bức xúc, sự phê phán lúc này là cần thiết, tuy nhiên những ý kiến phê bình mang tính xây dựng bao giờ cũng tốt hơn là những lời châm biếm đả kích, phỏng ạ.

:)