PDA

View Full Version : SẤm TrẠng TrÌnh


ICQ
14-12-2003, 01:16 AM
Trên diễn đàn chắc nhiều người đã từng nghe đến Sấm Trạng Trình. Mặc dù Sấm Trạng Trình được rất nhiều người biết đến, nhưng những nội dung chi tiết của Sấm thì thường chưa được nghe đến bao giờ. Vì diễn đàn ta chắc sẽ có rất nhiều người có quan tâm đến Sấm Trạng Trình nên ICQ đưa lên đây bản dịch của tác giả không tên, nhà xuất bản không biết, hi vọng mọi người có dịp được thoả trí tò mò.

Mạn đàm: Quê nội của ICQ ở cùng làng với Trạng Trình (Cổ Am, Vĩnh Bảo, Hải Phòng), nên từ ngày nhỏ đã rất hay nghe bố ICQ kể về Sấm Trạng Trình, tất nhiên với tất vả lòng tự hào và thán phục. Có một số câu chuyện về Sấm Trạng Trình mà do nghe bố kể nhiều quá, ICQ nhớ luôn nên kể lại đây cho mọi người cùng nghe, tất nhiên, chỉ là những chuyện truyền miệng nên nội dung chính xác xin được bỏ qua cho.

0. Chuyện đoán trước tên nước Việt Nam
Ngay những dòng đầu tiên của bài sấm có viết:
1 - Vận lành mừng gặp tiết lành
2 - Thấy trong quôc ngữ lập thành nên câu
3 - Một câu là một nhiệm màu
4 - Anh hùng gẫm được mới hầu giá cao
5 - Trải vì sao mây che Thái ất
6 - Thủa cung tay xe nhật phù lên
7 - Việt Nam khởi tổ xây nên
ICQ từng nghe nói, Trạng Trình đã dự đoán trước việc hình thành chữ Quốc Ngữ, dự đoán trước việc hình thành nên niên hiệu nước Việt Nam, nhưng trước kia không tin lắm (!?), ban đầu không để ý đến nên không nhớ ra, đến khi đọc đi đọc lại bài sấm, nhìn thấy những dòng này mới nhớ ra câu truyện trước kia, tạm chèn thêm nó vào đây, lấy đề mục là 0 để mọi người cùng tham khảo.

1. Chuyện Bác Hồ về giải phóng thủ đô.
Trong bài Sấm này, từ dòng 410-413 có viết:
410 - Cửu cửu kiền khôn dĩ định
411 - Thanh minh thời tiết hoa tàn
412 - Trức đáo dương đầu mã vĩ
413 - Hồ binh bát vạn nhập trường an
Chắc mọi người cũng đã đoán được việc gì, theo như cách diễn dịch của một số học giả, đoạn thơ trên là Trạng Trình đã dự đoán trước (500 năm) sự kiện bộ đội cụ Hồ về giải phóng thủ đô năm 1954.

2. Chuyện các lãnh đạo Đảng và nhà nước ta về thăm Vĩnh Bảo.
Có một đoạn đồng dao khác, không được viết trong đây, tương truyền là của Trạng Trình:
1 - Khi nào Yên Xá (not sure) bổ đôi
2 - Sông Hàn nối lại thì tôi lại về
Nói đến sông Hàn (hay còn gọi sông Hoá) chắc nhiều người đã nhớ lại ngay sự kiện con voi của Trần Hưng Đạo bị lầy và mất trên sông này trong lúc Trần Hưng Đạo trên đường đi dẹp quân Nguyên. Có điều làm sao để bổ đôi được (huyện, làng, xã) Yên Xá, hay làm cách nào để nối lại được sông Hàn thì chịu.
Năm 1991 làng Yên Xá tách thành 2 làng nhỏ. Nhân dịp khách thành cây cầu lớn bắc qua sông Hàn, bác Phạm Văn Đồng cùng một số đồng chí lãnh đạo đảng và nhà nước có về tham dự. Nhân dịp đó, bác Phạm Văn Đồng có qua ngôi nhà xưa của Trạng Trình mà giờ đã thành nhà trưng bày, để thăm viếng Trạng Trình nhân dịp 500 năm ngày sinh. Lúc đó người ta mới ngớ ra và nhớ lại câu đồng dao trước kia, hóa ra Trạng Trình đã biết trước việc bác Phạm Văn Đồng đến thăm 500 năm sau.

3. Đoán trước việc đổ bia (mộ).
1 - Cha con thă`ng Phả
2 - Đánh ngã bia t_ao
3 - Đền t_ao ba hào
4 - Thì t_ao tha tội
Những câu đồng dao trên thực ra đã được kiểm chứng từ khá lâu rồi. Theo như bố ICQ kể, thì cha con thằng Phả ở trên kia là 2 bố con ông bắt ếch, không biết sao sau hôm đi bắt ếch ở khu mả cụ Trạng Trình về thì ốm liệt giường, chữa sao cũng không khỏi. Một hôm có ông đồ đi qua mới hỏi kĩ lí do sao lại bị bịch, bị từ hôm nào, rồi hôm đó có chuyện gì không? Tất nhiên cha con thă`ng Phả chẳng biết gì, nhưng sau nói chuyện hay đi bắt ếch ở gần khu mộ Trạng Trình thì ông đồ mới ớ người ra, bảo ra thăm mộ cụ thì thấy y như rằng bia mộ đã bị đổ úp xuống từ khi nào, ông đồ bảo thă`ng Phả cứ y như lời đồng dao, đem 3 hào ra cúng ở mộ cụ thì tự nhiên về khỏi bệnh.
Chuyện đánh đổ bia mộ cụ Trạng Trình chỉ là truyền miệng, tuy nhiên mẹ ICQ mỗi lần nghe bố ICQ kể thì hay chép miệng: "Cái ông đó cũng đanh đá, gớm mặt thật."

Mà, đại thể chuyện phiếm cũng có thế, ICQ chỉ kể ra những chuyện cụ thể nhất có liên hệ đến bây giờ và đã được kiểm chứng, còn ngoài ra trong bài sấm còn nhiều những nội dung khác tường thuật lịch sử, việc chính sự rối ren, hoặc những đoạn nội dung khó hiểu, dường như đang nói về ai đấy, về việc gì đấy mà chẳng biết là ai, là việc gì thì rất nhiều. Dưới đây là nội dung bài sấm:


Sấm Trạng Trình
Nguyễn Bỉnh Khiêm

Chương Nhất
1 - Vận lành mừng gặp tiết lành
2 - Thấy trong quôc ngữ lập thành nên câu
3 - Một câu là một nhiệm màu
4 - Anh hùng gẫm được mới hầu giá cao
5 - Trải vì sao mây che Thái ất
6 - Thủa cung tay xe nhật phù lên
7 - Việt Nam khởi tổ xây nên
8 - Lạc Long ra trị đương quyền một phương
9 - Thịnh suy bỉ thới lẽ thường
10 - Một thời lại một nhiễu nhương nên lề
11 - Đến đinh Hoàng nối ngôi cửu ngũ
12 - Mở bản đồ rủ aó chấp tay
13 - Nhự đao phút chốc đổi thay
14 - Tập bát tử rày quyền đã nổi lên
15 - Đông a âm vị nhi thuyền
16 - Nam phương kỳ mộc bổng liền lại sinh
17 - Chấn cung hiện nhật quang minh
18 - Sóng lay khôn chống trường thành bền cho
19 - Đoài cung vẽ rạng trăng thu
20 - Ra tay mở lấy đế đô vạn toàn
21 - Sáng cửu thiên ám vầng hồng nhật
22 - Dưới lẫn trên n( vẫn uống quen
23 - Sửa sang muôn việc cầm quyền
24 - Ngồi không ai dễ khẫng nhìn giúp cho
25 - Kià liệt vương khí hư đồ ủng
26 - Mặc cường hầu ong ỏng tranh khôn
27 - Trời sinh ra những kẻ gian
28 - Mặt khôn đổi phép, mặc ngoan tham taì
29 - Áo vàng ấm áp đà hay
30 - Khi sui đấp núi khi say xây thành
31 - Lấy đạt điền làm công thiên hạ
32 - Được mấy năm đất lở giếng mòn
33 - Con yết ạch ạch tranh khôn
34 - Vô gìa mợ hội mộng tôn làm chùa
35 - Cơ trời xem đã mê đồ
36 - Đã đô lại muốn mở đô cho người
37 - ấy lòng trời xuôi lòng bất nhẫn
38 - Suốt vạn dân cưu giận nhân than
39 - Dưới trên dốc chí lo toan
40 - Những đua bán nước bán quan làm giàu
41 - Thống rủ nhau làm mồi phú quí
42 - Mấy trung thần có chí an dân
43 - Đua nhau làm sự bất nhân
44 - Đả tuần bốn bể lại tuần đầu non
45 - Dư đồ chia xẻ càn khôn
46 - Mối giềng man mác khiếp mòn lòng nhau
47 - Vội sang giàu giết người lấy của
48 - Sự có chăng mặc nọ ai đôi
49 - Việc làm thất chính tơi bời
50 - Minh ra bổng lại thất thôi bấy giờ
51 - Xem tượng trời đả gia ra trước
52 - Còn hung hăng bạc ngược qúa xưa
53 - Cuồn phong cả sớm liền trưa
54 - Đả đờn cửu khúc còn thơ thi đề
55 - ấy Tần Vương ngờ u mê chẳng biết
56 - Để vạn dân dê laị giết dê
57 - Luôn năm trật vật đi về
58 - Âm binh ở giửa nào hề biết đâu
59 - Thấy nội thành tiếng kêu ong ỏng
60 - Cũng một lòng trời chống khác nào
61 - Xem người dường vững chiêm bao
62 - Nào đâu còn muốn ước ao thái bình
63 - Một góc thành làm tâm chứng quỷ
64 - Đua một lòng ích kỷ hại nhân
65 - Bốn phương rơì rở hồng trần
66 - Làng khua mỏ cá lãng phân điếm tuần
67 - Tiếc là những xuất dân làm bạo
68 - Khua dục loài thỏ cáo tranh nhau
69 - Nhân danh trọn hết đâu đâu
70 - Bấy giờ thiên hạ âu sầu càng ghê
71 - Hùm già lạc dấu khôn về
72 - Mèo non chi chí tìm về cố hương
73 - Chân dê móng khởi tiêu tường
74 - Nghi nhau ai dễ sửa sang một mình
75 - Nội thành ong ỏng hư kinh
76 - Đầu khỉ tin sứ chèo thành lại sang
77 - Bở mồ hôi Bắc giang tái mã
78 - Giữa hai xuân bỗng phá tổ long
79 - Quốc trung kinh dụng cáo không
80 - Giữa năm giả lại kiểm hung mùa màng
81 - Gà đâu sớm gáy bên tường
82 - Chẳng yêu thì cũng bất tường chẳng không
83 - Thủy binh cờ phất vầng hồng
84 - Bộ binh tấp nập như ong kéo hàng
85 - Đứng hiên ngang đố ai biết trước
86 - ấy Bắc binh sang việc gì chăng ?
87 - Ai còn khoe trí khoe năng
88 - Cấm kia bắt nọ tưng bừng đôi nơi
89 - Chưa từng thấy đời nào sự lạ
90 - Bổng khiến người dá hoạ cho dân
91 - Muốn bình sao chẳng lấy nhân
92 - Muốn yên sao chẳng dục dân ruộng cày
93 - Đả nên si Hoàn Linh đời Hán
94 - Đúc tiền ra bán tước cho dân
95 - Xung xoe những rắp cậy quân
96 - Chẳng ngờ thiên đạo xây dần đã công
97 - Máy hoá công nắm tay dễ ngõ
98 - Lòng báo thù ai dễ đã ngờ uôi
99 - Thung thăng tưởng thấy đạo trời
100 - Phù Lê diệt Mạc nghỉ dời quân ra
101 - Cát lầm bốn bể can qua
102 - Nguyễn thì chẳng được sẽ ra lại về
103 - Quân hùng binh nhuệ đầy khe
104 - Kẻ xưng cứu nước kẻ khoe trị đời
105 - Bấy gia+ý càng khốn thay ôi
106 - Quỉ ma trật vật biết trời là đâu ?
107 - Thương những kẻ ăn rau ăn giới
108 - Gặp nước bung con cái ẩn đâu
109 - Báo thù ấy chẳng sai đâu
110 - Tìm non có rẩy chừng sau mới toàn
111 - Xin những kẻ hai lòng sự chúa
112 - Thấy đâu hơn thì phụ thưả ân
113 - Cho nên phải báo trầm luân
114 - Ai khôn mới được bảo thân đời này
115 - Nói cho hay khảm cung rồng dấy
116 - Chí anh hùng xem lấy mới ngoan
117 - Chữ rằng lục thất nguyệt gian
118 - Ai mà nghĩ được mới gan anh tài
119 - Hể nhân kiến đã dời đất cũ
120 - Thì phụ nguyên mới chổ binh ra
121 - Bốn phương chẳng động can qua
122 - Quần hùng các xứ điều hoà làm tôi
123 - Bấy gia+ý mở rộng qui khôi
124 - Thần châu thu cả mọi nơi vạn toàn
125 - Lại nói sứ Hoàng Giang sinh thánh
126 - Hoàng phúc xưa đã định tây phong
127 - Làu làu thế giới sáng trông
128 - Lồ lộ mặt rồng đầu có chử vương
129 - Rỏ sinh tài lạ khác thường
130 - Thuấn Nghiêu là chí Cao Quang là tài
131 - Xem ý trời có lòng đaĩ thánh
132 - Đốc sinh hiền điều đỉnh nội mai
133 - Chọn đầu thai những vì sao cả
134 - Dùng ở tay phụ tá vương gia
135 - Bắc phương chính khí sinh ra
136 - Có ông Bạch sĩ điều hoà hôm mai
137 - Song thiên nhật rạng sáng soi
138 - Thánh nhân chẳng biết thì coi cho tường
139 - Đời này thánh kế vị vương
140 - Đủ no đạo đức văn chương trong mình
141 - Uy nghi trạng mạo khác hình
142 - Thác cư một gốc kim tinh phương đoài
143 - Cùng nhau khuya sớm dượng nuôi
144 - Chờ cơ sẽ mới ra tài cứu dân
145 - Binh thơ mấy quyển kinh luân
146 - Thiên văn điạ lý nhân luân càng mầu
147 - Ở đâu anh hùng hẳn biết
148 - Xem sắc mây đã biết thành long
149 - Thánh nhân cư có thụy cung
150 - Quân thần đã định gìn lòng chớ tham
151 - Lại dặn đấng tú nam chí cả
152 - Chớ vội vàng tất tả chạy rong
153 - Học cho biết lý kiết hung
154 - Biết phương hướng bội chớ dùng làm chi
155 - Hể trời sinh xuống phải thì
156 - Bất kỳ chi ngộ màng gì tưởng trông
157 - Kià những kẻ vội lòng phú quí
158 - Xem trong mình một thí đều không
159 - Ví dù có gặp ngư ông
160 - Lưới chài đâu sẵn nên công mà hòng
161 - Xin khuyên đấng thời trung quân tử
162 - Lòng trung nghi ai nhớ cho tinh
163 - Âm dương cơ ngẩu ngô sinh
164 - Thái nhâm thái ất trong mình cho hay
165 - Văn thì luyện nguyên bài quyết thắng
166 - Khen Tử Phòng cũng đấng Khổng Minh
167 - Võ thông yên thủy thần kinh
168 - Được vào trận chiến mới càng biến cơ
169 - Chớ vật vờ quen loài ong kiến
170 - Biết ray tay miệng biếng nói không
171 - Ngỏ hay gặp hội mây rồng
172 - Công danh choi chói chép trong vân đaì
173 - Bấy giờ phỉ sức chí trai
174 - Lọ là cho phải ngược xuôi nhọc mình
175 - Nặng lòng thật có vĩ kinh
176 - Cao tay mới gẩm biết tình năm nao
177 - Trên trời có mấy vì sao
178 - Đủ no biền tướng anh hào đôi nơi
179 - Nước Nam thường có thánh tài
180 - Ai khôn xem lấy hôm mai mới tường
181 - So mấy lời để tàng kim quỉ
182 - Chờ hậu mai có chí sẽ cho
183 - Trước là biết nẽo tôn phò
184 - Sau là cao chí biết lo mặc lòng
185 - Xem đoài cung đến thời bất tạo
186 - Thấy vĩ tinh liệu rạo cho mau
187 - ngờ uôi lòng tham tước tham giàu
188 - Tìm nơi tam hiểm mới hầu bảo thân
189 - Trẻ con mang mệnh tướng quân
190 - Ngở oai đã dấy ngở nhân đã nhường
191 - Ai lấy gương vua U thủa trước
192 - Loạn ru vì tham ngược bất nhân
193 - Đoài phương ong khởi lần lần
194 - Muôn sinh ba cốc cầm binh dấy loàn
195 - Man mác một đỉnh Hoành Sơn
196 - Thừa cơ liền mới nổi cơn phục thù
197 - ấy là những binh thù Thái Thái
198 - Lòng trời xui ai nấy biết ru ?
199 - Phá điền đầu khỉ cuối thu
200 - Tái binh mới động thập thò liền sang
201 - Lọ chẳng thường trong năm khôn xiết
202 - Vẽ laị thêm hung kiệt mất mùa
203 - Lưu tinh hiện trước đôi thu
204 - Bấy giờ thiên hạ mây mù đủ năm
205 - Xem thấy những sương săm tuyết lạnh
206 - Loài bất bình tranh mạnh hung hăng
207 - Thành câu cá, lưả tưng bừng
208 - Kẻ ngàn đông Hải người rừng Bắc Lâm
209 - Chiến trường chốn chốn cát lầm
210 - Kẻ nằm đầy đất kẻ trầm đầy sông
211 - Sang thu chín huyết hồng tứ giả
212 - Noi đàng dê tranh phá đôi nơi
213 - Đua nhau đồ thán quần lê
214 - Bấy giờ thiên hạ không bề tưạ nương
215 - Kẻ thì phải thủa hung hoang
216 - Kẻ thì binh hoả chiến trường chết oan
217 - Kẻ thì mắc thửa hung tàn
218 - Kẻ thì bận của bổng toan khốn mình
219 - Muông vương dựng ổ cắn tranh
220 - Điều thì làm chước xuất binh thủ thành
221 - Bời bời đua mạnh tranh giành
222 - Ra đâu đánh đấy đem binh sớm ngày
223 - Bể thanh cá phải ẩn cây
224 - Đất bằng nổi sấm cát bay mịt mù
225 - Nào ai đã dễ nhìn U
226 - Thủy chiến bộ chiến mặc dù đòi cơn
227 - Cây bay lá lưả đôi ngàn
228 - Một làng còn mấy chim đàn bay ra
229 - Bốn phương cùng có can qua
230 - Làm sao cho biết nơi nào bảo thân
231 - Đoài phương thức có chân nhân
232 - Quần tiên khởi nghỉa chẳng phân hại người
233 - Tìm cho được chốn được nơi
234 - Thái nguyên một giãi lần chơi trú đình
235 - Bốn bề núi đá riểu quanh
236 - Một đường tiểu mạch nương mình dấy an
237 - Hể đông nam nhiều phen tàn tạc
238 - Tránh cho xa kẻo mắc đao binh
239 - Bắc kinh mới thật đế kinh
240 - Dấu thân chưa dễ dấu danh được nào
241 - Chim hồng vổ cánh bay cao
242 - Tìm cho được chốn mới vào thần kinh
243 - Ai dễ cứu con thơ sa giếng
244 - Đưa một lòng tranh tiếng dục nhau
245 - Vạn dân chịu thủa u sầu
246 - Kể dư đôi ngủ mới hầu khoan cho
247 - Cấy cày thu đải thời mùa
248 - Bấy giờ phá ruộng lọ chờ mượn ai
249 - Nhân ra cận duyệt viễn lai
250 - Chẳng phiền binh nhọc chẳng nài lương thêm
251 - Xem tượng trời biết đường đời trị
252 - Gẩm về sau họ Lý xưa nên
253 - Giòng nhà để lấy dấu truyền
254 - Gẩm xem bốn báu còn in đời đời
255 - Thần qui cơ nổ ở trời
256 - để làm thần khí thủa nơi trị trường
257 - Lại nói sứ Hoàng Giang sinh thánh
258 - Sông Bảo Giang thiên định ai hay
259 - Lục thất cho biết ngày dày
260 - Phụ nguyên ấy thực ở dầy tào khê
261 - Có thầy nhân thập đi về
262 - Tả phụ hửu trì cây cỏ làm binh
263 - Giốc hết sức sưả sang vương nghiệp
264 - Giúp vạn dân cho đẹp lòng trời
265 - Ra tay điều chỉnh hộ may
266 - Bấy giờ mới biết rằng tài yên dân
267 - Lọ là phải nhọc kéo quân
268 - Thấy nhân ai chẳng mến nhân tìm về
269 - Năm giáp tý vẽ khuê đã rạng
270 - Lộ ngủ tinh trinh tượng thái hanh
271 - Ân trên vũ khí vân hành
272 - Kẻ thơ ký tuý kẻ canh xuân đài
273 - Bản đồ chảng sót cho ai
274 - Nghìn năm lại lấy hội nơi vẹn toàn
275 - Vấng nền vương cha truyền con nối
276 - Doỉ muôn đời một mối xa thư
277 - Bể kình tâm lặng bằng tờ
278 - Trăng thanh ai chẳng ơn nhờ gió xuân
279 - Au vàng khỏe đặt vững chân
280 - Càng bền thế nước vạn xuân lâu daì
Chương Nhì
281 - Vưà năm nhâm tý xuân đầu
282 - Thanh nhàn ngồi tựa hương câu nghĩ đời
283 - Quyển vàng mở thấy sấm trời
284 - Từ đinh đổi đời chí lửục thất gian
285 - Một thời có một tôi ngoan
286 - Giúp trong việc nước gặp an thái bình
................................
................................
287 - Luận chung một tập kim thời
288 - Tướng quyền tử sĩ nam nhi học đòi
289 - Trượng phu có chí thời coi
290 - Những câu nhiệm nhặt đáng đôi nhành vàng
291 - Tài nầy nên đấng vẽ vang
292 - Biết chừng đời trị biết đường đời suy
293 - Kể từ nhân đoản mà đi
294 - Số chưa gặp thì biết hoà chép ra
295 - Tiếc thay hiền sĩ bao già
296 - Ước bằng Bành Tổ ắt là Thái Công
297 - Thử cho tay giúp ra dùng
298 - Tài này so cùng tài trước xem sao
299 - Trên trời kể chín tầng cao
300 - Tay nghe bằng một ti hào biết hay
301 - Hiềm vì sinh phải thời này
302 - Rấp thù mở nước tiếc thay chưng đời
303 - Hợp đà thay thánh nghìn tài
304 - Giáng sinh rủi kiếp quỉ ma nhà trời
305 - Nói ra thì lậu sự đời
306 - Trái tai phải lụy tài trai khôn luần
307 - Nói ra ám chúa bội quân
308 - Đương thời đời trị xoay vần được đâu
309 - Chờ cho nhân đoản hết sau
310 - Đến chừng đời ấy thấy âu nhiều nàn
311 - Trời xui những kẻ ắt gian
312 - Kiếp độc đạo thiết làm loàn có hay
313 - Vua nào tôi ấy đã bày
314 - Trên đầu bất chính duới nay dấy loàn
315 - Đua nhau bội bạn nghịch vi
316 - ích gia phi kỷ dân thì khốn thay
317 - Tiếc tài gẩm được thời hay
318 - Đã sao như vậy ra tay sẽ dùng
319 - Tài trai có chí anh hùng
320 - Muốn làm tướng suý lập công xưng đời
321 - Khá xem nhiệm nhặt tộ trời
322 - Cơ mưu nhiệm nhặt mấy trai anh hùng
323 - Đi tìm cho đến đế cung
324 - Rấp phù xuất lực đế cung được toàn
325 - Bảo nhau cương kỷ cho tường
326 - Bốn phương cũng được cho yên trong ngoài
327 - Chờ cho động đất chuyển trời
328 - Bấy giờ thánh sẽ nên tay anh hùng
329 - Còn bên thì náu chưa xong
330 - Nhân lực cướp lấy thiên công những là
331 - Đời ấy những quỉ cùng ma
332 - Chẳng còn ở thật người ta đâu là
333 - Trời cao đất rộng bao xa
334 - Làm sao cho biết cửa nhà đế vương
335 - Dù trai ai chửa biết tường
336 - Nhất thổ thời sĩ Khảm Phương thuở này
337 - Ý ra lục thất gian nay
338 - Thời vận đã định thời nầy hưng vương
339 - Trí xem nhiệm nhặt cho tường
340 - Bảo Giang thánh xuất trung ương thuở nầy
341 - Vua ngự thạch bàn xa thay
342 - Đại ngàn vắng vẻ những cây cùng rừng
343 - Gà kêu vượn hót vang lừng
344 - Đường đi thỏ thẻ dặm chưn khôn dò
345 - Nhân dân vắng mạt bằng tờ
346 - Sơn lâm vào ở đổ nhờ khôn thay
347 - Vua còn cuốc nguyệt cày mây
348 - Phong điều vũ thuận thú rày an dân
349 - Phong đăng hoà cóc chứa chang
350 - Vua ở trên ngàn có ngũ sắc mây
351 - Chính cung phương khảm vần mây
352 - Thức thay thiên tử là nay trị đời
353 - Anh hùng trí lượng thời coi
354 - Công danh chấng ngại tìm đòi ra đi
355 - Tìm lên đến thạch bàn khê
356 - Có đất sinh thánh bên kia cuối làng
357 - Nhìn đi nhìn lại cho tường
358 - Chửa có sinh vương đâu là
359 - Chẳng tìm thì đến bình gia
360 - Thánh chưa sinh thánh báo ca địa bình
361 - Nhìn xem phong cảnh cũng xinh
362 - Tả long triều lại có thành đợt vây
363 - Hửu hổ uấn khúc giang này
364 - Minh đường thất diệu trước bày mặt tai
365 - Ở xa thấy một con voi
366 - Cúi đầu quen bụi trông hồ sâu
367 - ấy điềm thiên tử về chầu
368 - Tượng trưng đế thánh tô lâu trị đời
369 - Song thiên nhật nguyệt sáng soi
370 - Sinh đặng chúa ấy là ngôi chẳng cầu
371 - Đến đời thịnh vượng còn lâu
372 - Đành đến tam hợp chia nhau sẽ làm
373 - Khuyên cho đông bắc nam tây
374 - Muốn làm tướng suý thì xem trông này
375 - Thiên sinh thiên tử ư hoả thôn
376 - Một nhà họ Nguyễn phúc sinh tôn
377 - Tiền sinh cha mẹ đà cách trở
378 - Hậu sinh thiên tử Bảo Giang môn
379 - Kià cơn gió thổi lá rung cây
380 - Rung bắc sang nam đông tới tây
381 - Tan tác kiến kiều an đất nước
382 - Xác xơ cổ thụ sạch am mây
383 - Sơn lâm nổi sóng mù thao cát
384 - Hưng điạ tràng giang hoá nước đầy
385 - Một gió một yên ai sùng baí
386 - Cha con người Vĩnh Bảo cho hay
387 - Con mùng búng tít con quay
388 - Vù vù chong chóng gió bay trên đài
389 - Nhà cha cửa đóng then cài
390 - ...mầm sấm động hỏi người đông lân
391 - Tiếc tám lạng thương nửa cân
392 - Biết rằng ai có du phần như ai
393 - Bắt tay nằm nghĩ dông dài
394 - Thương người có một lo hai phận mình
395 - Canh niên tân phá
396 - Tuất hợi phục sinh
397 - Nhị ngủ dư bình

398 - Long hổ xà đầu khởi chiến tranh
399 - Can qua tứ xứ loạn đao binh
400 - Mã đề dương cước anh hùng tận
401 - Thân dậu niên lai kiến thái bình
402 - Non đoài vắng vẻ bấy nhiêu lâu
403 - Có một đàn xà đánh lộn nhau
404 - Vượn nọ leo cành cho sỉ bóng
405 - Lợn kia làm quái phải sai đầu
406 - Chuột nọ lăm le mong cản tổ
407 - Ngựa kia đủng đỉnh bước về tàu
408 - Hùm ở trên rừng gầm mới dậy
409 - Tìm về quê củ bắt ngứa tàu
* * *
410 - Cửu cửu kiền khôn dĩ định
411 - Thanh minh thời tiết hoa tàn
412 - Trức đáo dương đầu mã vĩ
413 - Hồ binh bát vạn nhập trường an
* * *
414 - Baỏ Giang thiên tủ xuất
415 - Bất chiến tứ nhiên thành
416 - Lê dân bảo bảo noản
417 - Tứ haỉ lạc âu ca
* * * 418 - Dục đức thánh nhân hương
419 - Qúa kiều cư bắc phương
420 - Danh vi Nguyễn gia tử
421 - Kim tịch sinh ngưu lang
422 - Thượng đại nhân bất nhân
423 - Thánh ất dĩ vong ân
424 - Bạch hổ kim đaí ấn
425 - Thất thập cổ lai xuân
* * *
426 - Bắc hữu kim thành tráng
427 - Nam tạc ngọc bích thành
428 - Hỏa thôn đa khuyển phệ
429 - Mục giả dục nhân canh
* * *
430 - Phú quí hồng trần mộng
431 - Bần cùng bạch phát sinh
432 - Anh hùng vương kiếm kích
433 - Manh cổ đổ thái bình
434 - Nam Việt hữu Ngưu tinh
435 - Quá thất thân thủy sinh
436 - Điạ giới sĩ vị bạch
437 - Thủy trầm nhi bắc kinh
438 - Kỷ mã xu dương tẩu
439 - Phù kê thăng đại minh
440 - Trư thử giai phong khởi
441 - Thìn mão xuất thái bình
* * *
442 - Phân phân tùng Bắc khởi
443 - Nhiểu nhiểu xuất đông chinh
444 - Bảo sơn thiên tử xuất
445 - Bất chiến tự nhiên thành
446 - Thủy trung tàng bảo cái
447 - Hứa cập thánh nhân hương
448 - Mộc hạ châm châm khẩu
449 - Danh thế xuất nan lương
450 - Danh vi nguyễn gia tử
451 - Tinh bản tại ngưu lang
452 - Mại dử lê viện dưỡng
453 - Khởi nguyệt bộ đại giang
454 - Hoặc kiều tam lộng ngạn
455 - Hoặc ngụ kim lăng cương
456 - Thiên dử thần thức thụy
457 - Thụy trình ngũ sắc quang
458 - Kim kê khai lựu điệp
459 - Hoàng cái xuất quí phương
460 - Nhân nghĩa thùy vi địch
461 - Đạo đức thực dữ đương
462 - Tộ truyền nhị thập ngũ
463 - Vận khải ngũ viên trường
464 - Vận đáo dương hầu ách
465 - Chấn đoài cương bất trường
466 - Quần gian đạo đanh tự
467 - Bách tính khổ tai ương
468 - Can qua tranh đấu khởi
469 - Phạm địch tánh hung hoang
470 - Ma vương sát đại quỉ
471 - Hoàng thiên tru ma vương
472 - Kiền khôn phú taỉ vô lương
473 - Đào viên đỉnh phát quần dương tranh hùng
474 - Cơ nhị ngũ thư hùng vị quyết
475 - Đảo Hoàn Sơn tam liệt ngũ phân
476 - Ta hồ vô phụ vô quân
477 - Đào viên tán lạc ngô dân thủ thành
478 - Đoài phương phước điạ giáng linh
479 - Cửu trùng thụy ứng long thành ngũ vân
480 - Phá điền thiên tử giáng trần
481 - Dũng sỉ nhược hải mưu thần như lâm
482 - Trần công naỉ thị phúc tâm
483 - Giang hồ tử sĩ đào tiềm xuất du
484 - Tướng thần hệ xuất y chu
485 - Thứ ky phục kiến đường ngờ u thi hành
486 - Hiệu xưng thiên hạ thaí bình
487 - Đông tây vô sứ nam thành quốc gia

Bạch Vân Thi Tập Chung

Nguyễn Bỉnh Khiêm

ICQ
14-12-2003, 01:17 AM
Nguyễn Bỉnh Khiêm

Nguyễn Bỉnh Khiêm sinh năm 1491, mất năm 1585, người làng Trung Am, huyện Vĩnh Lại (nay là xã Cổ Am, huyện Vĩnh Bảo, ngoại thành Hải Phòng). Sinh trưởng trong một gia đình vọng tộc (cháu ngoại quan thượng thư Nhữ Văn Lan) có học vấn, cả hai thân mẫu đều là những người có văn tài học hạnh nên Nguyễn Bỉnh Khiêm từ sớm đã hấp thụ truyền thống gia giáo kỷ cương. Nhất là phụ mẫu của Nguyễn Bỉnh Khiêm, tương truyền bà là người giỏi giang văn tài và tinh thông địa lý, tướng số. Ngay từ khi Nguyễn Bỉnh Khiêm cất tiếng khóc chào đời, thấy con mình có tướng mạo khác thường, bà đã dốc lòng đào tạo con trai thành một tài năng giúp nước, cứu đời. Niềm thôi thúc đó khiến Nguyễn Bỉnh Khiêm sớm tìm được thầy học có đạo cao đức cả là cụ bảng nhãn Lương Đắc Bằng. Với trí tuệ mẫn tiệp, thông minh từ nhỏ, lại gặp thầy giỏi khác nào như rồng gặp mây. Nguyễn Bỉnh Khiêm sớm thành tài năng kiệt xuất nổi tiếng. Và sau này, tài học vấn uyên thâm của ông đã vượt xa thầy. Tương truyền Lương Đắc Bằng là người giỏi lý học, đã đem sách Thái ất thần kinh ra dạy cho học trò, nhưng có những điều trong sách ấy Lương Đắc Bằng cũng không hiểu được mà chỉ có Nguyễn Bỉnh Khiêm sau này mới tinh thông.

Lớn lên trong một giai đoạn lịch sử nhà Lê suy thoái, các phe phái trong triều đố kỵ, chém giết lẫn nhau. Năm 1572, Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê lập ra một triều đại mới. Thế là suốt cuộc đời thanh niên trai trẻ, Nguyễn Bỉnh Khiêm phải sống trong ẩn dật, không thi thố được tài năng. Mãi tới năm 1535. Lúc này đã 45 tuổi, ông mới đi thi. Ba lần thi Hương, thi Hội, thi Đình ông đều đỗ đầu và đỗ Trạng nguyên. Từ đấy, ông làm quan với tân triều, nhà Mạc phong chức Tả thị lang (chức đứng hàng thứ ba trong bộ Hình). Triều đình nhà Mạc rất trân trọng Nguyễn Bỉnh Khiêm. Ông hy vọng triều đại nhà Mạc có thể xây dựng lại đất nước. Lúc này, Mạc Đăng Dung đã nhường ngôi cho con là Mạc Đăng Doanh và rút về làm Thái thượng hoàng. Doanh là người tỏ ra có chí khí đảm lược. Nguyễn Bỉnh Khiêm, một nhà học giả uyên thâm, một trí thức dân tộc đã nhìn thấy điều đó. Và ông hy vọng: với nhân vật này, triều đại mới có thể đưa đất nước thoát khỏi tình trạng rối ren mà vua tôi nhà Lê và các tập đoàn phong kiến trước đó gây ra.

Nhưng niềm tin đó bị thất vọng. Là một học giả, học rộng biết nhiều, trong thơ ông hay nhắc tới sự thăng trầm "thương hải biến vi tang điền" (biển xanh biến thành nương dâu) của trời đất, tạo vật và cuộc đời trôi nổi như "phù vân". Ông thương xót cho "vận mệnh" quốc gia và cảm thông sâu sắc tình cảnh của "dân đen", "con đỏ". Ông thật sự mong muốn đất nước thịnh vượng, thái bình. Tương truyền, hình như để tránh những cuộc binh đao khói lửa, tương tàn cho chúng dân và nhìn thấy trước thời cuộc, "vận mệnh" của đất nước trong hoàn cảnh ấy chưa thể có những lực lượng đảm đương được việc thống nhất, nên khi các tập đoàn phong kiến đến hỏi kế sách, ông đều bày cho họ những phương sách khác nhau để giữ thế "chân vạc". Năm 1568, Nguyễn Hoàng thấy anh là Nguyễn Uông bị Trịnh Kiểm sát hại, lo cho "số phận" nên đã ngầm cho người hỏi kế an thân, Nguyễn Bỉnh Khiêm nói: "Hoành sơn nhất đa'i, vạn đại dung thân" (ngụ ý nói: Dựa vào một dải Hoành sơn có thể lập nghiệp được lâu dài). Thế là Nguyễn Hoàng tức tốc xin anh rể là Trịnh Kiểm cho vào trấn thủ đất Thuận Hóa (từ Đèo Ngang trở vào).

Tại Thăng Long, thời ấy chúa Trịnh cũng ra sức ức hiếp vua Lê và muốn phế bỏ, liền cho người hỏi ý kiến Nguyễn Bỉnh Khiêm. Ông không trả lời và lẳng lặng dẫn sứ giả ra thăm chùa và nói với nhà sư: "Giữ chùa thờ Phật thì ăn oản", ngụ ý muốn khuyên chúa Trịnh cứ tôn phò nhà Lê thì quyền hành tất giữ được. Nếu tự ý phế lập sẽ dẫn đến binh đao. Còn đối với nhà Mạc, sau những cuộc chiến tranh liên miên, phải bỏ chạy lên Cao Bằng thế thủ, vua Mạc cho người về hỏi ý kiến Nguyễn Bỉnh Khiêm, ông đã trả lời: "Cao Bằng tuy thiển, khả diên sổ thể" (Cao Bằng tuy đất hẹp, nhưng có thể giữ được vài đời). Quả nhiên, mãi đến năm 1688, sau ba đời giữ đất Cao Bằng, nhà Mạc mới bị diệt. Các truyền thuyết trên đây muốn chứng tỏ rằng Nguyễn Bỉnh Khiêm là người có tài tiên đoán, đo nắm được bí truyền của sách Thái ất thần kinh. Vả lại còn truyền thuyết nữa về Trạng Trình với tập Trình quốc công sấm ký. Tương truyền trong tập sách đó, ông đã tiên tri và biết trước các sự việc nhân tình thế thái, thời cuộc xảy ra "năm trăm năm sau". Thực, hư thế nào, còn là vấn đề cần phải nghiên cứu khẳng định hay phủ định của các nhà học giả Việt Nam sau này để trả lại giá trị xứng đáng cho Nguyễn Bỉnh Khiêm. Đương nhiên, một điều cần khẳng định: Nguyễn Bỉnh Khiêm thật sự là nhà học giả "thượng thông thiên văn, hạ tri địa lý, trung tri nhân sự" (trên trời hiểu thiên văn, dưới đất tường địa lý, ở giữa hiểu con người).

Nguyễn Bỉnh Khiêm đã để lại cho hậu thế những tác phẩm văn thơ có giá trị như: Tập thơ Bạch Vân (gồm hàng trăm bài thơ chữ Hán còn lưu lại) và hai tập: Trình quốc công Bạch vân thi tập và Trình quốc công Nguyễn Bỉnh Khiêm thi tập hay còn gọi là Bạch Vân quốc ngữ thi (với hàng trăm bài thơ chữ Nôm). Thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm giàu chất liệu hiện thực, mang tính triết lý sâu xa của thời cuộc. Ông phê phán gay gắt bọn tham quan ô lại hút máu, hút mủ của dân. Thơ ông còn truyền đạt cho đời một đạo lý đối nhân xử thế, đạo vua tôi, cha con và quan hệ bầu bạn, hàng xóm láng giềng. Đọc thơ ông là thấy cả một tấm lòng lo cho nước, thương đời, thương dân, và một tâm hồn suốt đời da diết với đạo lý: "Tiên thiên hạ chi ưu nhi ưu, hậu thiên hạ chi lạc nhi lạc" (lo trước cái lo của thiên hạ, vui sau cái vui của thiên hạ). Vì thế khi về ở ẩn, ông vẫn mở trường dạy học, mong đào tạo cho đời những tài năng "kinh bang tế thế". Học trò của ông cũng có người trở thành danh tướng, Trạng nguyên như: Phùng Khắc Khoan, Lương Hữu Khánh, Nguyễn Quyền...

Có thể nói ở thế kỷ 16, Nguyễn Bỉnh Khiêm là nhà triết học lớn của Việt Nam. Tư tưởng triết học của ông "không bận tâm đi vào xu hướng duy lý... đi tìm khái niệm bản thể luận như Lão Tử, như triết học Phật giáo hay cái phóng nhiệm nhiều lúc đến ngụy biện của Trang Tử. Ông hiểu sâu sắc triết học Tống Nho nhưng không đi vào sự câu nệ vụn vặt, không lý giải quá sâu cái lý, có khi rắc rối, hoặc chẻ sợi tóc làm tư để tìm hiểu, biện giải nhiều thứ mơ hồ rối rắm trong những khái niệm hỗn tạp đó. Với sự uyên thâm vốn có, ông được triều đình nhà Mạc và sĩ phu đương thời phong là Trình tuyền hầu, tức là một vị Hầu tước khơi ngờ uồn dòng suối triết học của họ Trình (tức Trình Di, Trình Hiện - hai nhà triết học khai phá ra phái Lạc Dương của Tống Nho), hoặc đời còn gọi ông là cụ Trạng Trình. Tuy vậy, triết học của ông là triết học đã được sống dậy, biểu hiện trong thơ như sự gợi ý mách bảo của cuộc sống thực tiễn. Ông chắt lọc từ trong nhận thức triết học mà mình thu lượm được, phép biện chứng nhìn bên ngoài có vẻ như thô sơ để giải đáp nhiều hiện tượng tự nhiên và xã hội nảy sinh ở quanh mình. Trong thơ ông, ngoài mặt triết lý nhân sinh, nổi bật lên những suy ngẫm chiêm nghiệm, đúc kết như muốn vươn lên khái quát "luật" đời bằng những phạm trù triết học. Vì lẽ đó, ông rất hay dùng đến những cặp phạm trù đối lập như: đen - trắng, tốt - xấu, đầy - vơi, sinh - diệt, vuông - tròn, để giãi bày quan niệm triết lý nhân sinh của mình.

Tuy nhiên, "một hạn chế dễ nhận thấy trong tư tưởng triết học của Nguyễn Bỉnh Khiêm là tuy nắm được phép biện chứng, nhưng vẫn nặng về duy tâm. Quan niệm về sự phát triển của ông còn nằm trong khung tròn khép kín chứ chưa phải là vòng tròn xoáy ốc. Đó là sự phát triển tuần hoàn, là cái phép biện chứng của Chu dịch... ông đã nhận được trong nền giáo dục Nho học đương thời, cộng với phép biện chứng thô sơ của Lão Tử trong Đạo đức kinh. Đó cũng là những hạn chế đương nhiên của rất nhiều nhà triết học cổ đại" (Đào Thái Tôn).

Nhìn lại toàn bộ tiến trình lịch sử và con người thế kỷ 16, Nguyễn Bỉnh Khiêm(1) xứng đáng là "cây đại thụ", nhà học giả, nhà triết gia của thế kỷ.

Source: Ai muốn biết xin được cung cấp riêng.

Ngô Từ
15-12-2003, 11:29 AM
Có vài băn khoăn xin được hỏi bác ICQ, mong được bác giải đáp:
- Như thế nào thì được gọi là sấm? Cụ Trạng Trình ngồi viết sấm với chủ ý "tiên tri" hay là người ta lấy tập thơ của cụ rồi gọi là sấm?
- Trong "bài sấm" của cụ Trạng Trình, có chỗ nào sấm đoán sai không? Em nhìn nó dưới góc độ khoa học một chút theo kiểu xác xuất, vậy nên rất muốn biết sai bao nhiêu phần trăm và đúng bao nhiêu phần. Những câu thơ đa nghĩa, liệu có xảy ra tình trạng cụ NBK nói một đằng, thiên hạ hiểu một nẻo không nhỉ?

Em có vài chỗ không hiểu như vậy, xin được bác ICQ chỉ giáo. Mong bác bớt chút thời giờ vào đây trả lời cho em, cám ơn bác thật là nhiều!

Kính bút

ICQ
15-12-2003, 10:20 PM
ICQ đã nói rõ ở trên rằng những chuyện này chỉ là truyền miệng và không chịu trách nhiệm về tích chính xác của nó, thế mà vẫn bị bác TTMT vặn tơi bời.

ICQ thì cũng không rành rọt lắm để có thể trả lời bác TTMT trọn vẹn được, nhưng cũng xin đưa ra một vài ý kiến (sau khi đã có sự tìm hiểu thêm về vai trò và vị trí của Sấm Trạng Trình).

1./ Lời sấm truyền thường được hiểu là lời tiên tri về một việc trong tương lai. Một cách khoa học mà nói, bài sấm này được viết trong tập Bạch Vân Thi tập (như trong source), nghĩa là tập thơ viết ở am Bạch Vân (ie: am Mây Trắng), nên trước hết phải nhìn nhận nó là một bài thơ. Trạng Trình sinh trưởng trong thời Lê, làm quan cho nhà Mạc, từ quan khi thời loạn, thêm nữa lại là một nhà nho tinh thông kinh dịch, am hiểu tướng số và thời cuộc, thơ ông mang tính triết lý và giáo huấn nhiều hơn.
ICQ có cùng cảm giác với TTMT khi đọc bài sấm này, rằng trước tiên nó là một bài thơ rồi được người đời diễn giải thành lời tiên tri.

VD: Đoạn 410-413 được diễn giải như sau:
410 - Cửu cửu kiền khôn dĩ định --> Trời đã định rằng 9x9 = 81
411 - Thanh minh thời tiết hoa tàn --> không có lời giải
412 - Trức đáo dương đầu mã vĩ --> Vào cuối năm Ngọ (mã vĩ), đầu năm dê (dương đầu) = 1954
413 - Hồ binh bát vạn nhập trường an --> Tám sư đoàn bộ đội cụ Hồ về giải phóng thủ đô
Rõ ràng rằng có sự gượng gạo ở đây, và lời diễn giải này rất có vẻ như là là để cho phù hợp với sự việc đã xảy ra.

Tuy nhiên, có một tập sấm ký được Trạng Trình viết với chủ đích tiên tri thực sự, mang tên Trình Quốc Công Sấm Ký, tương truyền trong tập sách đó ông đã tiên tri những sự việc nhân tình thế thái hay những chuyện hàng trăm năm sau, tiếc là (hình như) nó đang được lưu trữ để nghiên cứu bởi bộ Văn Hóa và không thấy được phổ biến.

Tương truyền, Trạng Trình có cơ duyên gặp được sách Thái Ất Thần Kinh, là bộ sách về Kinh Dịch và thuật số, và nhờ thấu hiểu sách đó, ông có tầm nhìn cả về sự tuần hoàn của xã hội (tựa như triết học biện chứng), đoán trước được các sự việc tương lai (hiểu nôm na kiểu thầy bói cấp cao, ngoài bói về phong thổ, tướng số còn biết trước vận mệnh xã hội).

Những chuyện đó tất nhiên có một phần được cường điệu hóa do những người quá yêu quý ông, tuy nhiên có một sự thật không thể phủ nhận rằng, ngoài là một danh nhân văn hóa, một triết gia của thế kỉ 16 ở Việt Nam, Nguyễn Bỉnh Khiêm còn có một vị trí khá cao trên thế giới với vai trò là một nhà tiên tri.

2./ Không biết trong Trình Quốc Công sấm ký cụ nói thế nào (có lẽ cũng bằng thơ thôi), chứ nếu cứ đọc bài sấm này cho tường tận thì chắc bác TTMT không phải hỏi câu hỏi ấy. Những chuyện Trạng Trình "úp úp mở mở" thì chẳng có thời gian cụ thể nào để nói khi nào thì nó sẽ xảy ra để nói là đúng hay sai, sau năm Ngọ thì bao giờ chẳng là năm Mùi, vả lại cụ nói là dẫn binh vào Tràng An chứ có phải Hà Nội đâu, nên có chăng cũng chỉ là tương đối thôi.
Có một vài câu nghe như "sấm", trích ra cho bà con xem:

430 - Phú quí hồng trần mộng --> đại khái là kẻ giàu sang ăn chơi chác táng
431 - Bần cùng bạch phát sinh --> bọn nhà nghèo cay quá vùng lên
432 - Anh hùng vương kiếm kích --> là anh hùng thì vung dao vung kiếm
433 - Manh cổ đổ thái bình --> đánh nhau thì ta hết thái bình
434 - Nam Việt hữu Ngưu tinh --> Nam Việt có con trâu thần
435 - Quá thất thân thủy sinh --> sinh sống bảy phần ở dưới nước
436 - Điạ giới sĩ vị bạch -->??
437 - Thủy trầm nhi bắc kinh
438 - Kỷ mã xu dương tẩu
439 - Phù kê thăng đại minh
440 - Trư thử giai phong khởi
441 - Thìn mão xuất thái bình --> năm thìn Thìn mão thì có thái bình

*

450 - Danh vi nguyễn gia tử --> có chú nhà họ Nguyễn
451 - Tinh bản tại ngưu lang --> Sinh ra tuổi con trâu
452 - Mại dử lê viện dưỡng --> (cái gì đó có dính đến con dê)
453 - Khởi nguyệt bộ đại giang --> Bắt ngờ uồn từ ... con sông lớn
454 - Hoặc kiều tam lộng ngạn --> hoặc...
455 - Hoặc ngụ kim lăng cương --> hoặc ở kim lăng cương
456 - Thiên dử thần thức thụy --> Có sắc thái thiên tử
457 - Thụy trình ngũ sắc quang --> ...

*

373 - Khuyên cho đông bắc nam tây /* đoạn này không càn chú, đọc tự hiểu */
374 - Muốn làm tướng suý thì xem trông này
375 - Thiên sinh thiên tử ư hoả thôn
376 - Một nhà họ Nguyễn phúc sinh tôn
377 - Tiền sinh cha mẹ đà cách trở
378 - Hậu sinh thiên tử Bảo Giang môn
379 - Kià cơn gió thổi lá rung cây
380 - Rung bắc sang nam đông tới tây
381 - Tan tác kiến kiều an đất nước
382 - Xác xơ cổ thụ sạch am mây
383 - Sơn lâm nổi sóng mù thao cát
384 - Hưng điạ tràng giang hoá nước đầy



Mấy cái này là ICQ chọc linh tinh rút ra cho mọi người xem, khéo toàn là chuyện cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm đoán không trúng, mà cũng có thể là chuyện chưa xảy ra, hoặc cụ làm thơ về cụ thôi (am mây = Bạch Vân am) đại khái là để hiểu rằng cụ Trạng Trình cũng có ý tiên tri chứ không phải là dân ta tùy tiện đặt ra như vậy.

cannabis
20-12-2003, 08:46 PM
Có thể nói ở thế kỷ 16, Nguyễn Bỉnh Khiêm là nhà triết học lớn của Việt Nam. Tư tưởng triết học của ông "không bận tâm đi vào xu hướng duy lý... đi tìm khái niệm bản thể luận như Lão Tử, như triết học Phật giáo hay cái phóng nhiệm nhiều lúc đến ngụy biện của Trang Tử. Ông hiểu sâu sắc triết học Tống Nho nhưng không đi vào sự câu nệ vụn vặt, không lý giải quá sâu cái lý, có khi rắc rối, hoặc chẻ sợi tóc làm tư để tìm hiểu, biện giải nhiều thứ mơ hồ rối rắm trong những khái niệm hỗn tạp đó.

Nói về Nguyễn Bỉnh Khiêm, tôi nghĩ việc đầu tiên là phải khẳng định ông là một nhà Lý học. Ông luôn nhi`n vạn vật trong cái nhi`n biện chứng. Kiểu như bác Nguyễn Trãi bảo là :
Kiền khôn bĩ rồi lại thái
Nhật nguyệt hối rồi lại minh
Những cái đó đều mở rộng quan niệm âm dương của phương Đông cổ đại.
Vậy tư tưởng nền tảng của NBK theo ICQ là từ đâu vậy? Từ Nho học chăng?

ICQ
21-12-2003, 01:35 PM
Nói về Nguyễn Bỉnh Khiêm, người ta hay nói về một người có tầm học vấn quảng bác, thường được ví như "cây đại thụ của thế kỷ 16".
Ông tinh thông kinh dịch và thuật số, ừ thì nói ông là nhà lý học cũng được (thầy dạy ông là Lương Đắc Bằng, là một nhà lý học). Ông hiểu sâu sắc tư tưởng Nho giáo, học trò của ông như trạng Nguyên Giáp Hải, trạng Bùng Phùng Khắc Khoan cùng rất nhiều các vị quan, danh tướng khác đều là những người thấu hiểu tư tưởng Nho học, vậy có nên gọi ông là một nhà Nho học?
Nói đùa chút vậy thôi, người ta vẫn thường hay nói, tư tưởng của Nguyễn Bỉnh Khiêm là tư tưởng lấy dân làm gốc (TTXHCN?), có lẽ bởi được các học giả dưới thời XHCN phân tích, nếu quả thực như thế, tư tưởng của ông vượt thời đại, và thật khó để gán ghép cho ông một ngờ uồn gốc tư tưởng ở đâu.

Dưới đây là một bài viết có nói về tư tưởng của Nguyễn Bỉnh Khiêm của Hoài Việt Hoài, nếu thấy tò mò thì đọc qua một chút.

Người đời thường biết đến Nguyễn bỉnh Khiêm dưới danh hiệu Trạng Trình , có những bài "sấm" trứ danh đoán những việc xảy ra tới hằng trăm năm sau khi ông mất, hoặc là một nhà thơ ẩn dật cầu nhàn sau khi chán nản trước công danh. Tuy là một người tinh thông dịch số, nhưng Bạch Vân cư sĩ ( Người ẩn sĩ ở am Mây Trắng) không phải chỉ là một tiên tri như nhiều người lầm tưởng, ông cũng chẳng phải là một người bi quan hưởng nhàn của Đạo gia. Thực ra, ông là một kẻ sĩ với lòng yêu nước thương nòi, cả đời bận tâm đến sự an nguy hạnh phúc của dân hơn cả chính bản thân. Nơi ông, văn cũng như người, đã biểu lộ một tâm hồn trong sáng thanh cao, với đạo lý rạng ngời của Nho gia kết hợp cùng vẻ đẹp của truyền thống Việt. Qua cuộc đời và tác phẩm, chúng ta cùng tìm hiểu một con người mà "bóng mát đạo đức" đã trùm lên gần cả 1 thế kỷ đau thương của quê hương và dân tộc : Thời Nam Bắc triều, sẽ mở màn cho cuộc Trịnh Nguyễn phân tranh.

I. "ỨƠC MỘT TÔI HIỀN, CHÚA THÁNH MINH"

Nguyễn bỉnh Khiêm chào đời vào những năm thịnh đạt cuối cùng của triều Vua Lê Thánh Tông. Sau đó là thời suy sụp của nhà Hậu Lê, với những vị vua yếu đuối ăn chơi , hoặc bất tài, hung bạo . Trong triều, quyền lực đã lần lượt rơi vào tay các dũng tướng như Trịnh duy Sản, Trịnh Tuy,Trần Chân, Nguyễn hoằng Dụ ...Ngoài xã hội thì giặc giã nổi lên, dân chúng khổ sở, lầm than. Cho tới năm 1527 , Mạc đặng Dung đã thanh toán hầu hết các thế lực bên ngoài, ép Vua Lê nhường ngôi, lập ra triều đại mới : nhà Mạc.

Kẻ sĩ Nguyễn bỉnh Khiêm đã chào đời và lớn lên trong hoàn cảnh đó. Năm 1534 , ông ứng thi và đậu giải nguyên dưới triều vị vua xuất sắc nhất của nhà Mạc : Mạc đặng Doanh. Những người không hiểu rõ chữ Trung của Nho giáo, câu nệ theo học thuyết Tống Nho của Trình, Chu; đã cho rằng việc ông phò nhà Mạc làø một lầm lẫn : vì họ Mạc là phản thần tiếm vị vua Lê, phò tá kẻ "soán ngụy" thì còn đâu là trung nghĩa ?Nhất là khi ông là người tinh thông lý số, biết luật thiên địa tuần hoàn và mệnh Trời sẽ trở lại với nhà Lê, sao vì chút công danh mà không giữ tròn tiết tháo ?

Thật ra quan niệm "Tôi trung không thờ hai chủ" bắt ngờ uồn từ học thuyết Tống Nho nghiệt ngã, đã được các vua Chúa của ta vào thời Lê Nguyễn ca ngợi, tiếng là để giữ vững đạo lý kỷ cương, nhưng thực ra là để củng cố ngôi vị của mình và của dòng họ. Phù trợ một dòng họ chính thống để dân chúng chịu khổ vì sưu cao thuế nặng, đất nước loạn ly vì binh đao giặc cướp. Hay làm l cuộc đổi đời như Hồ quý Ly đời Trần, Mạc đặng Dung đời Hậu Lê, hầu đem lại thái bình, no ấm cho dân ? Chữ "Trung", nếu hiểu theo đúng nghĩa của Khổng học lúc ban đầu, hẳn phải trở về với thuyết "Chính Danh" của Khổng Tử, để các tầng lớp xã hội được" định phận". Aùp dụng vào cuộc đời của Nguyễn bỉnh Khiêm cũng vậy, ông thật có lý lúc ra giúp nước khi gặp vua hiền, hơn là vào Nam theo mấy ông tướng như Trịnh duy Sản, Nguyễn hoằng Dụ để phò Vua Lê trên hư vị, sau đó là tranh chấp quyền hành . Hơn nữa, nào ông đã nhận gì bỗng lộc của nhà Lê mà bắt ông phải trung trinh giữ tròn tiết tháo ? Vả lại, ông là người đã quan sát thời cuộc và suy nghĩ kỹ càng trước khi dấn thân vào hoạn lộ. Oâng đã bỏ qua sáu khoa thi thời nhà Lê suy đồi (18 năm). Sau này, dù nhà Mạc đã có những cải cách quan trọng lúc ban đầu, nhưng ông cũng bỏ thêm 2 khoa thi nữa để chờ đợi và suy nghĩ, 6 năm là 1 thời gian dài để những người lên án ông là bộp chộp hoặc say "mộng công hầu", phải làm thinh. Chúng ta cùng giở lại "Đại Việt Sử Ký" của nhà Lê, tuy đối địch với nhà Mạc, nhưng cũng thành tâm ca ngợi những năm thịnh trị của thời Đại Chính (4) : ??Nhà Mạc xuống lệnh cấm các xứ trong ngoài dân chúng không được cầm giáo mác, dao nhọn, binh khí đi đường, ai trái lệnh thì bị bắt. Từ đó kẻ buôn bán hành nhân đều đi lại tay không. Đêm không trộm cướp. Người ta đuổi trâu bò ra đồng chẳng cần lùa về, 1 tháng kiểm điểm 1 lần, có khi đẻ con ra thêm thì chẳng biết súc vật nhà nào nữa. Trong mười năm liền đi đường không lượm đồ rơi, cửa ngoài không cần đóng kín ??...Đủ thấy sự hợp lý của Nguyễn bỉnh Khiêm khi ra hợp tác với Tân triều. "Ước một tôi hiền Chúa thánh minh", tưởng như rồng đã gặp mây, hoạn lộ thênh thang, ông dấn thân vào triều đình để giúp dân giúp nước.

II. "CÔNG DANH HAI CHỮ ĐÃ NHƯỜNG NGƯỜI"

Năm Đại Chính thứ sáu, ông đỗ trạng nguyên và được bổ làm Đông Các hiệu thư, chuyên soạn thảo, sửa chữa các văn thư triều đình. Ông đã sung sướng khi thấy vua nghe lời mình và các quan đồng liêu, sửa lại Quốc tử Giám và nhà Thái Học, củng cố việc học, ban hành giáo hoá ; nhất là chấn chỉnh nhân tâm và đào tạo hiền tài, đó là cái gốc của quốc gia trong mọi thời đại. Dần dần, ông được bổ vào chức Hình Bộ Tả Thị Lang coi về hình luật ; Ở đây, ông bắt đầu vấp phải những tranh danh đoạt lợi của người đời, không được hoàn toàn hành xử theo phép nước cho ích quốc lợi dân. Thấy vậy, nhà Vua đưa ông sang làm Lại Bộ Tả Thị Lang,đây là nơi bổ nhiệm các quan lại, một chỗ ngồi béo bở cho những người kiếm lợi lộc, nhưng cũng là nơi làm đau lòng những con người chân chính đầy trách nhiệm nhưng lại không đủ quyền hành như ông . Đang lúc đó, thì Vua Mạc đặng Doanh lại qua đời khi tuổi vừa 41 (năm 1540), người "tôi trung" thật bàng hoàng khi mất chỗ dựa để thực thi hoài bão của mình. Năm sau , tới lượt Thượng hoàng Mạc đặng Dung cũng lìa cõi thế. Mạc phúc Hải lên ngôi, lại rơi vào vết xe của triều đại cũ : bất tài, nhu nhươcï, trọng đãi gian thần. Triều Mạc bắt đầu có dấu hiệu suy vong.

Ở đây, chúng ta thấy tâm trạng day dứt của Nguyễn bỉnh Khiêm. Một đàng" Nghĩa cả luống quên ơn Chúa cũ", muốn ở lại triều đình để giúp dân giúp nước ; đàng khác lại bất lực trước bè lũ gian thần,"Thề xưa nỡ phụ nước non xanh",không làm được gì để "tế thế an dân". Ông muốn về quy ẩn để lòng không vướng bợn nhơ, giáo hoá dân chúng, nêu cao đạo lý thánh hiền. Trách ông không làm được gì khi còn tại vị ư ? Thật ra trong suốt 8 năm làm quan,ông chưa bao giờ có đủ thực quyền để làm 1 việc gì to lớn cả, chức Tả Bộ Lại Thị Lang chỉ là phụ tá cho 1 Thượng Thư đứng đầu 1 bộ. Nếu là người an phận cầu nhàn, thì ông đã " mũ ni che tai", mượn câu " minh triết bảo thân" để yên lặng hưởng nhàn ; nhưng như thế thì còn gì là khí tiết của Nho gia,còn gì là trách nhiệm của sĩ phu vì dân vì nước. Và ông đã can đảm viết sớ tâu Vua xin chém đầu 18 nịnh thần. Tuy trọng nể ông là người ngay thẳng, nhưng Vua không nghe, vì những người ông đòi chém là những sủng thần trong triều. Thế là:

Quân tử ngẫm xem nơi xuất xử

Aét là khôn hết cả hoà hai

Khi Xuất (ở triều đình) thì ông lập công danh, lo việc chính sự. Khi Xử (về ở ẩn) thì giữ tròn khí tiết, làm việc nghĩa cho đời, không lo lắng bon chen, lấy thiên nhiên làm bạn, dân chúng làm người thân, an vui trong hiện tại. Khi làm quan cũng như làm dân, ông luôn có tư cách trong sạch, thái độ phân minh, luôn lo lắng cho đời và cho người.

III." HÃY ĐEM BÓNG MÁT CHE DÂN CHÚNG"

Về quê, ông đã nghĩ ngay đến dân làng : dân là "gốc" của quốc gia, phải làm cho gốc ấy được luôn vững bền. Ông đã lập ta" Trung Tân Quán" để dạy dỗ dân, và dựng Am Bạch Vân làm nơi ở, cũng là nơi sáng tác những bài thơ giáo huấn, răn đời. Tuy vui thú với" Một mai, một cuốc, một cần câu", "thản nhiên vô sự lòng không vướng", nhưng lại" Tân Quán ngày đêm mở cửa hoài" để sống gần và sống có ích cho dân. Những người mà càng gần gũi thì ông càng yêu mến; vì ông đã thấy rõ rằng : những tranh giành danh lợi, suy đồi phong hoá, chỉ có ở tầng lớp quan quyền giàu có, còn đa số dân chúng thì vẫn sống lành mạnh với truyền thống tốt đẹp của dân tộc . Tuy nhiên, ông vẫn khuyên dân đừng bắt chước những người quyền thế, không biết nghĩa nhân, chỉ ưa điều lợi, là điều dễ đưa đến sự hỗn loạn. Ông giảng dạy, làm thơ , nói về đạo lý, mà chính là phản đối những phe phái đang tranh giành lợi lộc trong triều, đưa quốc gia đến suy vong. Điểm đặc sắc của Nguyễn bỉnh Khiêm là những bài thơ về nhân tình thế thái, đề cao đạo lý Thánh hiền, có tính giáo huấn rất cao :

Ông khuyên con người, dù giàu dù nghèo, nên sống khiêm tốn :

Dầu sang trọng, cũng do Trời

Ta có chi, kiêu với ai ?

Đừng quá quan trọng cái được cái mất ở đời

Có chẳng giữ giàng, không chẳng lụy

Được không háo hức, mất không lo

Và cũng không nên quá tham lam

Đủ no hay vậy, xin thong thả

Sục sạo làm chi, luống nhọc nhằn

Nếu đã tham hơn thì phải thiệt

Hãy ghi lời ấy để mà răn.

Trong xãhội, người mua kẻ bán, người giàu kẻ nghèo, nên nương nhau mà sống :

Kẻ khó thường làm ích kẻ giầu

Ở thì phải gẫm, biết nhường nhau

Bán kia chẳn nỡ mua cho rẻ

Vay nọ, xin đừng lấy lãi đau

Hàng xóm láng giềng, nên ở với nhau cho thân thiện, đạo nghĩa

Hào hoa tụ hội, nhà liền vách

Nhân hậu theo lề tục tốt lành

Nhờ vậy, sẽ có được tình xóm làng đẹp đẽ

Chọn được lòng nhân tình đẹp tốt

Hướng về xóm đức cảnh vui vầy

Hằng năm bô lão vui hương ẩm

Cười nói tình quê, tay nắm tay

Ngoài xã hội đã vậy, trong gia đình thì phải kính trên nhường dưới, mới mong có được cuộc sống hạnh phúc vui tươi. Đối với cha mẹ thì :

Hay khi ấm mát, trọn cung dưỡng

Siêng năng sớm tối, việc hỏi han

Dẫu có giận hờn, càng kính thuận

Vâng lời sai khiến, dám phàn nàn

Và nàng dâu thì phải

Yêu nể, càng giữ gìn lễ phép

Bị giận hờn, cũng chớ thẫn thờ

Về phần cha mẹ nên

Quét cửa Nho, chờ khách đến

Trồng cây đức, để con ăn

Còn anh em thì phải nhường nhịn nhau

Chân tay gẫm lại, ai hơn nữa

Tranh cạnh làm chi, lỗi phép nhà

Chồng đối với vợ thì

Lỗi nhỏ, thứ cho đừng nên giận

Tình thân, nghĩ đến cũng nên thương

Ngay với đầy tớ, ông cũng có lời khuyên

Đạo làm đầy tớ, ở cho ngay

Mấy tơ hào cũng chẳng riêng tây

Tóm lại, trên cũng như dưới, trong gia đình cũng như ngoài xã hội, mỗi người phải giữ danh phận của mình :

Tôi hết lòng chầu chực Chúa

Con hằng thảo, kính thờ cha

Anh em chớ nỡ điều hơn thiệt

Bầu bạn cho hay nết thực thà.

IV. "THIÊN HẠ CHẲNG TƯ , ẤY CỦA CHUNG "

Một điểm son trong cuộc đời của Trạng Trình, là nghĩ tới tiền đồ đất nước khi đào tại 1 thế hệ tương lai . Học trò của ông là những văn thần võ tướng nổi tiếng thời bấy giờ : Trạng nguyên Giáp Hải, trạng Bùng Phùng khắc Khoan, danh tướng Nguyễn Quyện, rồi Lương hữu Khánh, Nguyễn Dữ, Đinh thì Trung.Và ở đây, khi đào tạo nhân tài cho đất nước, chúng ta thấy "cái hay" trong sự giáo dục của Nguyễn bỉnh Khiêm : Tuy ông làm quan với nhà Mạc, nhưng Phùng khắc Khoan và Lương hữu Khánh thì vào Nam theo vua Lê, Nguyễn Dữ lại ở ẩn như thầy và viết ra bộ "Truyền kỳ mạn lục" nổi tiếng. Đành rằng ông là người thầy luôn tôn trọng chí hướng của học trò, nhưng ông còn có cái nhìn xa và rộng của 1 người yêu dân yêu nước, đôi khi vượt trên cả cái nhìn của Nho gia.

Theo Nguyễn bỉnh Khiêm, sự loạn lạc binh đao đã làm cho dân chúng khổ sở lầm than, nhà tan cửa nát. Những cảnh vợ xa chồng, con mất cha, với" núi xương sông máu", chắc đã tạo nhiều ấn tượng và suy nghĩ nơi tâm hồn nhạy cảm của ông, từ đó phát sinh một quan niệm quốc gia chân chính : đất nước không là của riêng ai, hay của một dòng họ nào, mà là của toàn dân. Tại sao cứ phải hẹp hòi với những chữ "trung quân", "chính thống", để gây cảnh "binh đao đầy mắt khổ chưa thôi" cho dân chúng. Đã đành rằng "Sự thế cuộc cờ đâu miễn được", nhưng rõ ràng như ông thấy" lòng người: sông biển cạn mà sâu", chiến tranh trước tiên bắt ngờ uồn ở tự lòng người, những người muốn ngôi cao quyền trọng. Chính vì vậy, ông đã để cho các học trò của mình tự do tìm chí hướng: phù trợ " nhà" nào cũng được, miễn là ích quốc lợi dân, dùng tài kinh bang tế thế mà đem thái bình thịnh vượng cho trăm họ. Điều chính yếu là dân, như Mạnh Tử nói: "Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh". Đó là đạo lý thánh hiền và cũng là nguyên tắc xử thế cho những người vì dân vì nước . Ngay bản thân ông, tuy đã từng làm quan với nhà Mạc, nhưng Chúa Trịnh và Chúa Nguyễn cũng cho người đến hỏi ý kiến ông những chuyện quan trọng (xem phụ lục). Có thể ông là người tinh thông dịch số biết chút ít về hậu vận mai sau, nhưng cũng có thể ông là người giỏi tiên đoán thời cuộc dựa vào những biến cố, và nhất là dựa vào tình yêu nước thương nòi . Câu nói " Giữ chùa thờ Phật thì ăn xôi ăn oản" với Trịnh Kiểm, phải chăng phát xuất từ quan niệm hiếu trung của Nho giáo, và muốn tránh cho nước nhà khỏi thêm nạn binh đao, vì giả như Trịnh Kiểm lật vua Lê để chiếm ngôi thì biết đâu lại có " những Trịnh Kiểm"khác sẽ phò vua Lê mà chống lại, tạo thêm hỗn loạn cho nước, đau khổ cho dân ? Còn câu khuyên nhủ Nguyễn Hoàng vào Nam dung thân, biết đâu cũng phát sinh từ quan niệm vì dân vì nước : đất Thuận Hoá cùng phương Nam bao la nghìn dặm, sao không đưa dân vào khai khẩn, tạo cuộc sống an lành, mở mang bờ cõi; lại cứ tranh giành miền đất Thanh Nghệ và Bắc hà với Vua Mạc, Vua Lê ? Gây cảnh "nồi da xáo thịt" cho quê hương, trong nhà lại mang tiếng anh em bất nghĩa!."Một lời yên ba họ, sau trước việc đều thông", lời ca ngợi của La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp (đời Vua Quang Trung ) cả trăm năm sau còn cho thấy tấm lòng của 1 người muốn đất nước khỏi binh đao, dân được sống ấm no, thanh bình. Ông chẳng ngại dư luận người đời, góp ý cho Mạc, Trịnh, Nguyễn, " nhà" nào cũng được, vì ông không nghĩ tới ngôi nhà của 1 dòng họ, mà là cả" ngôi nhà" tổ quốc, trong đó dân tộc Việt nam được cư ngụ thanh bình

Bốn biển vui theo người đạo đức

Khắp nơi lại thấy cảnh thanh bình

Xưa nay nhân giả là vô địch

Lọ phải khư khư thích chiến tranh.

V. "VẰNG VẶC SOI ĐƯỜNG , BẮC ĐẨU KIA"

Là 1 con người quang minh lỗi lạc : khi gặp Minh Quân thì ra cứu nước an dân, khi hoàn cảnh không cho phép thì lui về ẩn dật giúp đời; ở triều đình can đảm nói lời trung thực, không kể an nguy bản thân, về quê thì dạy dỗ dân lành, nêu gương đạo đức ; làm quan hay dân, giàu hay nghèo, vẫn 1 lòng thanh thản, an bình. Sở dĩ được như vậy, là vì Nguyễn bỉnh Khiêm đã thấm nhuần tư tưởng Nho giáo, đã nghiền ngẫm và hoà nhập tư tưởng đó với truyền thống Việt, 1 truyền thống chuộng hoà bình, yêu lễ nghĩa, trọng điều phải, thương đồng bào. Nhờ đó, ông có thể đứng vững trước sóng gió thời cuộc; được dân chúng, và Vua Chúa quan quyền kính trọng yêu thương. Đến nỗi khi ông mất, Vua nhà Mạc đã cho lập Từ đường để thờ và đích tay viết hoành phi trước cổng:" Mạc Triều Trạng Nguyên Tể Tướng Từ ", dù trong cuộc đời, ông chưa bao giờ làm tể tướng.

Đối với ông," đạo chẳng ngoài thân", "đạo chẳng xa người", nó nằm ngay ở chữ "Nhân". Trước tiên, con người phải biết sông nhân ái với chính mình : tu thân tích đức, giữ mình trong điều thiện. "Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ"ï, là trật tự mà kẻ sĩ cần phải theo, trong đó " tu thân" đứng hàng đầu. Còn việc giúp người, giúp đời, thì tuy rằng thế thái nhân tình"nhạt như nước ốc bạc như vôi", nhưng kẻ sĩ nếu có lòng nhân ái thì sẽ sống gần gũi yêu thương mọi người, sẽ vượt trên vinh hoa phú quý để có thể sống " an bần lạc đạo", sẽ không coi trọng lợi lộc để yêu điều nhân nghĩa, sẽ không câu nệ tiểu tiết để luôn sống phóng khoáng, có thể hi sinh danh dự cá nhân để vì "đại nghĩa diệt thân".

Nguyễn bỉnh Khiêm mãi mãi thanh khiết như "Vầng mây trắng", nhưng lại không ở trên cao xa xôi, mà lại luôn gần gũi bao bọc dân chúng, yêu mến quê hương. Dù ngay trong thời gian ở ẩn, "sống thung dung ưu nhàn trên 40 năm, mà tâm địa chưa từng ngày nào quên đời, lòng lo đời và thương người thế tục thể hiện ra văn thơ ". Ông vẫn lo duy trì đạo đức cho dân, và đào tạo cho đất nước 1 thế hệ tương lai ưu tú. Quả thật Ông là 1 người "công tuy không trùm thiên hạ nhưng đức có thể sánh với trăng sao". Chúng ta có thể dùng chính câu thơ của ông để nói về ông rằng :

Chon von đức trọng lâu dài mãi

Vằng vặc soi đường, Bắc Đẩu kia

" Đạo của thánh nhân từ tiên sinh mà truyền ra, bờ cõi thánh nhân duy tiên sinh là thấu đáo", lời văn bi thiết của học trò Đinh thì Trung trong đám tang của ông đã nói lên sự trân trọng đối với 1 bậc thầy, không chỉ là của đám môn sinh thời bấy giờ hay của dân làng Trung Am, nhưng còn là bậc thầy của mai sau trong đường xử thế. Và ông sẽ mãi mãi là tấm gương trung hậu cho những ai yêu mến quê hương, dân tộc Việt nam.