PDA

View Full Version : Lich Su Rock & Jazz !


Banana
04-05-2004, 11:13 PM
Dưới đây la` 1 ba`i cực hay và co' ý nghĩa quan trong về nghiên cứu !
Nhưng vì nhiều quá, hơn 30 chương nên tui chỉ chọn ra những gì hay nhất và quan trọng nhất thôi , nếu ai có điều kiện nên save lại để đọc dần !


Chương 4 :Ragtime (1890-1920)Phong cách tiêu biểu đầu tiên của Jazz và có lẽ là phong cách phổ biến nhất đầu tiên ở Mỹ là Ragtime, dựa trên chủ yếu là nền nhạc piano solo.
Vì Ragtime được xây dựng chủ yếu trên một nền nhạc solo, kỹ thuật sử dụng piano ở đây được coi trọng và rất phát triển. Phần bên trái được sử dụng để chơi các âm thanh trầm và hợp âm, phần tay phải chơi đệm cho bài hát. Vào thời điểm đó, cách chơi này là khá khó khăn và đòi hỏi những kỹ năng nhất định. Song song với những âm thanh mạnh mẽ của Ragtime là một số lượng lớn các nốt nhấn lệch khá rắc rối.
Hầu hết các bản nhạc và lời của Ragtime đã được soạn trên giấy. Lý do đơn giản là các nhạc sỹ đã có thể bán để kiếm tiền như các ca sỹ bán băng và đĩa như hiện nay. Vào thời đó, TV, radio, còn chưa được phát minh hoặc chưa được phổ biến rộng rãi, vì vậy, nhu cầu giải trí tại gia là rất lớn.
Chơi piano vào những năm cuối thế kỷ IXX là khá phổ biến, mọi người dân đều có thể tự chơi nhạc tại nhà, ngay cả nếu họ không biết/muốn chơi, họ vẫn có thể trả tiền để mời một nhạc công tới chơi. Nhờ cách đó, Ragtime đã được nghe và phổ biến trên khắp nước Mỹ.
Nhờ tính phổ biến của mình, Ragtime được sử dụng trong nhiều hoàn cảnh , hội hè, trong khách sạn, quán ăn, Những cuộc thi Ragtime trên khắp nước Mỹ cũng được tổ chức, và thậm chí dân chúng cũng có thể nhẩy múa dựa trên phong cách Jazz phổ biến này.
Ragtime được cấu tạo dựa trên rất nhiều các chất liệu cổ điển phương Tây. Mỗi Rag chứa 4 giai điệu chính và quan trọng ngang nhau. Tuy vậy các phần trong nhạc Rag lại khá đối lập nhau, phần đầu rất ồn ào ầm mỹ trong khi phần thứ hai lại ngược lại hoàn toàn.
Nghệ sỹ viết và chơi nhạc Ragtime nổi tiếng nhất có lẽ là Scott Joplin. Joplin được đào tạo chính quy để viết opera. Một số các nhạc sỹ quan trọng khác là Tom Turpin, Joseph Lamb, và James Scott.
Ragtime dần dần lụi tàn vào khoảng năm 1920 khi các dòng nhạc Jazz khác phát triển. Vào những năm 1970, Ragtime(đặc biệt kể đến Scott Joplin) đã một lần nữa phát triển lại dòng nhạc này trong bộ phim nổi tiếng “The Sting” được đóng bởi Robert Redford và Paul Newman. Soundtrack của bộ phim này đã được giải thưởng của Viện Hàn lâm trong cùng năm đó. Những nhà đạo diễn và cả những người dân Mỹ một lần nữa lại tìm ra phong cách nhạc độc đáo này sau nửa thế kỷ Scott Joplin không còn tồn tại nữa.


Chương 7 : Big band swing(1932-1945)

Sự sụp đổ của thị trường chứng khoán Mỹ vào năm 1929 đã kéo theo sự khủng hoảng nền kinh tế mà bây giờ được gọi là Great Depression. Sau những bước nhảy vọt về kinh tế và xã hội vào đầu những năm 1920, Mỹ đã chững lại, kéo theo 25% dân số trong tuổi đi làm thất nghiệp cộng với một số lượng lớn người dưới tuổi làm việc. Chúng ta đã thấy sự ảnh hưởng của kinh tế ở trong các giai đoạn trước và dường như đây cũng không phải là một ngoại lệ.
Trong những năm đầu tiên của thập niên 30, thu nhập của người dân bị giảm xuống một cách trầm trọng, nhiều câu lạc bộ nhỏ đã phải phá sản vì không còn đủ kinh phí để tiếp tục. Những nhà kinh doanh chợt nhận ra rằng, khi biểu diễn ở các câu lạc bộ lớn, lãi suất bình quân trên đầu người có thể giảm những tổng số lãi lại cao hơn rất nhiều. Và các câu lạc bộ lớn đã ra đời, các ban nhạc cũng dần dần mở rộng cường độ các nhạc cụ của mình. Bằng việc này, một dòng nhạc Jazz lại được ra đời với cái tên Big Band Swing và nhanh chóng được phổ biến rộng rãi.
Trước khi Big Band Swing thực sự được phát triển, một dòng nhạc phụ, Pre-Swing, được biết tới như một sự chuyển tiếp vào những năm 1930. Khi các band sử dụng các nhạc cụ lớn hơn, âm thanh đã thay đổi. Chicago Dixieland chỉ sử dụng 4 nhạc công bộ kèn hơi thì giờ đây Pre-Swing đã sử dụng từ 7-8 nhạc công. Bộ kèn hơi được nhanh chóng chia thành các phần nhỏ hơn, nhạc cụ hơi làm bằng gỗ (woodwind) bao gồm saxophone và clarinet, kèn đồng(brass) như trumpet và trombone. Với sự mở rộng này việc sáng tác cũng trở nên khó hơn và các nhạc sỹ đã phải thay đổi quan niệm của mình khi sáng tác.
Fletcher Henderson và Don Redman là hai nghệ sỹ đầu tiên thích ứng với cách sáng tác này. Henderson đã giải quyết vấn đề này bằng cách sử dụng woodwind, brass, và phần cầm nhịp song song với việc sử dụng các nhạc cụ solo riêng biệt. Nền móng do ông tạo ra vẫn còn được sử dụng cho tới ngày nay.
Swing được phổ biến trong dân chúng Mỹ và cả toàn thế giới một cách rộng rãi đáng ngạc nhiên. Cả những người trưởng thành lẫn thanh niên đều yêu thích thứ nhạc này. Các chuẩn mực về nhạc cụ cũng đã được hình thành trong thời điểm này và đã được sử dụng cho tới tận ngày hôm nay. Nhạc cụ bao gồm phần saxophone(woodwind) gồm 5 nhạc cụ : hai alto, hai tenor, và một baritone; 4 kèn trumpet;4 trombone;và phần nhịp điệu bao gồm piano, guitar, đàn bass dây, và bộ gõ. Phần trumpet và trombone được gọi là bộ kèn đồng(brass). Chúng ta có thể không tưởng tượng là ban nhạc lớn nhất thời đấy đã có từ 30-40 người. Mặc dù nói rằng những nhạc cụ trên là “chuẩn” tuy vậy các ban nhạc vẫn tìm tòi để tạo ra những âm thanh của riêng mình. Đồng thời các ban nhạc lớn cũng cố gắng để tạo ra chuẩn mực riêng cho mình, ví dụ, Glenn Miller sử dụng clarinet để làm lead cho phần woodwind của mình, còn Woody Herman sử dụng 3 tenor và một baritone thay cho phần saxophone nói chung.
Vào thời đó, dancing đã bắt đầu phổ biến và các ban nhạc lớn thường chơi để phục vụ dancing. Những điệu nhảy giật gân(jitterbug) đã phát triển trong thời kỳ swing này, tuy vậy, các ban nhạc lớn cũng rất thành thạo trong việc chơi các bản ballad đệm cho các điệu nhảy slow.
Dancing và nghe các big swing band chơi nhạc là một lối thoát cho những người Mỹ chán nản thời thế lúc đó. Từ những thị trấn nhỏ cho đến những sảnh lớn đều có thể tụ tập tới 5000 người nhảy múa. Trong khi dancing, ngoài những người đang đam mê với các điệu nhảy của mình là những đám đông đứng sát sàn biểu diễn để nghe như những buổi biểu diễn Rock hoành tráng ngày nay.
Nền công nghiệp thu âm đã phát triển mạnh vào thời kỳ này và có ảnh hưởng lớn tới sự phát triển của swing. Để vừa vặn mới phần thời gian của đĩa(khoảng 2½ phút tới 3 phút), các band thường thu âm các bản nhạc đã được rút gọn lại và thành công trong các buổi diễn. Những chiếc đĩa này được nghe ở khắp mọi nơi, thậm chí là ở các máy hát tự động(juke-box) đặt ở khắp nơi trên đất Mỹ. Dân chúng Mỹ giờ đây đã có thể tham dự các buổi live-show của các ban nhạc mà họ hâm mộ hoặc nghe những bài hát mới nhất qua đĩa.
Rất nhiều các ban nhạc nổi tiếng được mời ghi âm cho nhạc nền của film ở Holywood và Holywood cũng thường sử dụng các ban nhạc này để quảng cáo và làm cho các bộ film của mình thêm phần nổi tiếng.
Một trong những band nhạc nổi tiếng nhất lúc bấy giờ là “King of Swing”, Benny Goodman (clarinet). Tiếng kèn của Gooodman đã là một chuẩn mực để các nhạc công lúc đó phải ngưỡng mộ và học tập theo ông. Song song với tiếng kèn tuyệt vời và khả năng lãnh đạo ban nhạc hoàn hảo, Goodmann đã góp phần phá vỡ hàng rào phân biệt chủng tộc trong lĩnh vực giải trí trên toàn thế giới. Bằng cách thuê những nghệ sỹ da đen tài năng như Lionel Hampton(vibraphone), Teddy Wilson(piano), cộng với việc không biểu diễn nếu không có đủ các thành viên của ban nhạc, Gooodman đã bắt buộc chính phủ phải phá vỡ hàng rào phân biệt chủng tộc của mình.
Chúng ta hãy dừng lại với Gooodman ở một lời bình luận của tạp chí “T.V.guide” 15 tháng 3 năm 1986, “Goodman là một nghệ sỹ clarinet vĩ đại hơn bất cứ nghệ sỹ clarinet nào. Có lẽ ông đã dành thời gian để trau chuốt tiếng kèn của mình gấp 15 lần toàn bộ ban nhạc của ông cộng lại …”
Glenn Miller cũng là một nghệ sỹ trombone nổi tiếng lúc đó. Ban nhạc “In the Mood” của ông được coi là một trong những ban nhạc lớn nhất vào thời đó. Rất tiếc, Miller cũng như bao nghệ sỹ khác đã gia nhập quân đội chiến đấu vào những năm Thế chiến thứ II và đã hy sinh ở chiến trận.
Còn rất nhiều các nghệ sỹ quan trọng đầy sáng tạo khác trong thời điểm này mà chúng ta chưa nhắc tới như William "Count" Basie (piano); Harry James (trumpet); Duke Ellington (piano/composer); Billie Holiday (vocal); Ella Fitzgerald (vocal); Woody Herman (clarinet/saxophone); Tommy Dorsey (trombone); Jimmy Dorsey (saxophone); Coleman Hawkins (saxophone); Lester Young (saxophone); và Artie Shaw (clarinet).
Sự bắt đầu của cuộc chiến tranh Thế giới lần thứ II cũng là điểm kết thúc của thời đại Big Swing Band. Xăng dầu và cao su để sản xuất lốp bị hạn chế vô cùng và các ban nhạc rất khó khăn trong việc di chuyển. Rất nhiều các nhạc công gia nhập quân đội, và các ban nhạc mất dần đi những tài năng của mình. Người Mỹ yêu thích những bản nhạc swing, nhưng Jazz đã đi bước tiếp theo trong sự phát triển của mình, BOP.

Chương 8 : BOP(1945-1950)

Bop jazz(đôi khi được gọi là Be-bop hay Re-bop) là một cuộc cách mạng nghệ thuật so với loại nhạc đã sinh ra mình. Trong suốt thời đại của swing, các ban nhạc khá lớn và không phải không có những hạn chế của mình. Các nhạc công chơi bè khá gò bó nếu không ban nhạc sẽ chỉ phát ra những âm thanh lộn xộn. Tuy vậy, các nhạc công Bop đã thay đổi điều này bằng một cuộc cách mạng.
Thế chiến thứ II đang quyết liệt và thế giới là một hành tinh đầy lo âu và xáo động. Nghệ thuật, vào thời điểm này phản ảnh chân thực xã hội và Bop phản ảnh những gì xảy ra trên thế giới. Bằng những ý tưởng loé lên trong đầu, một phong cách soạn phối âm giai điệu mới đã ra đời, một khái niệm tự do mới về nhịp điệu được hình thành và đã sẵn sàng đối đầu với swing để mở rộng Jazz.
Các ban nhạc Jazz lớn thường sử dụng nhiều nhạc công, tuy nhiên Bop đã sử dụng phần nhịp điệu(piano,bass,bộ gõ…) giống hệt như Dixieland và thêm hai đến ba kèn hơi. Do các nhạc công của Bop muốn được chơi tự do hơn Swing, nhạc của họ được viết ra không cứng nhắc và phức tạp như Swing. Thông thường một ca khúc được soạn 8 nhịp, lặp lại, sau đó lại 8 nhịp tiếp theo, rồi lại 8 nhịp ban đầu theo cấu trúc AABA. Thông thường 32 nhịp đầu tiên không thay đổi và phần sau đó là do sự ngẫu hứng của các nhạc công. Bop được kết thúc bằng cách quay lại 32 nhịp đầu tiên. Bằng cách mở rộng giới hạn của giai điệu và hoà âm, thậm chí là các hợp âm được thay đổi thường xuyên trong mỗi lần biểu diễn, Bop đã mang lại một thứ nhạc mới mẻ.
Phần nhịp điệu cũng đã thay đổi rất nhiều trong Bop. Trong thời của Swing, phần này dùng để gắn kết cả ban nhạc lại với nhau, nhưng với Bop mỗi nhạc công có một nhiệm vụ khác nhau và có thể chơi solo với nhạc cụ của mình. Bass dây trở thành người cầm nhịp và làm nền tảng cho toàn bộ hoà âm của bản nhạc. Bộ gõ cũng đã phong phú hơn nhiều với trống bass và chũm choẹ, snare drum để thêm những dấu nhấn. Bop đã được xây dựng trên quan điểm “Nghệ thuật vị nghệ thuật”, phản bác hoàn toàn lại người nghe lúc đó. Nếu mọi người thích thì tốt, không thích cũng tốt. Ban nhạc Bop thường mặc giống nhau, khác hẳn với cách trang điểm lúc đó. Cùng với Bop, từ “hợp thời” (hip và hipster) đã được nói tới thường xuyên.
Hai người cần phải nhắc tới trong thời điểm này là Charlie "Bird" Parker (saxophone/composer) và Dizzy Gillespie (trumpet/composer). Cả hai nghệ sĩ đều có đóng góp rất lớn trong việc phát triển nghệ thuật ngẫu hứng và kỹ thuật chơi nhạc Jazz.
Bop là một cuộc cách mạng đối với Swing, nhưng chưa hết, Cool lại là cả một cuộc cách mạng đối với Bop.


Chương 9 : COOL (1950-1955)
Sau Thế chiến lần thứ II, rất nhiều các nhạc sỹ bị ép buộc phục vụ trong quân đội giờ đây đã có đủ điều kiện vào các trường Đại học theo một chương trình lần đầu tiên xuất hiện của chính phủ Mỹ, G.I.Bill. Cùng lễ tốt nghiệp ra trường của mình, các nhạc sỹ này đã mang những thành tố mới đến với Jazz. Cool Jazz đối lập hẳn với thứ nhạc trước nó, Bop. Nếu như Bop nhanh và thay đổi bất thường, Cool lại rất đằm, giản dị, thoải mái(laid-back), và êm dịu. Bop Jazz có thể ví như những màu tươi sáng như đỏ và xanh, trong khi Cool Jazz là những màu nhạt ví dụ xanh nhạt.
Những ảnh hưởng của nhạc cổ điển có thể thấy rõ qua một số nhạc cụ vào thời kỳ này. Một số các nhạc cụ giao hưởng như oboe, bassoon(kèn fagôt), sáo French, và các loại sáo khác đã tham gia vào buổi trình diễn Jazz. Cool chỉ có một điểm chung với Bop, đó là để nghe chứ không phải để nhảy.
Với sự phát triển trong công nghệ thu âm, giờ đây các ca sỹ đã có thể ghi những bài dài hơn(trước là từ 2½ tới 3 phút), do vậy, các nhạc sỹ đã tự do hơn trong việc sáng tác và nhất là những đoạn ngẫu hứng của mình. Độ dài của cả bản nhạc và đoạn ngẫu hứng đã được co giãn hơn nhiều. Giới hạn về số khuông nhạc dần bị phá bỏ và đoạn solo của các nghệ sỹ thường kết thúc khi họ cảm thấy đấy là điểm kết thúc.
Một trong những nhạc công nổi tiếng nhất của thời đó, Dave Brubeck (pianist/composer), đã nói về cuộc đời mình như sau:
“…Trước đây mọi người luôn nói về tôi “ Có lẽ anh ta có một dòng máu mang màu đen chảy trong người”. Tôi đã ở trường đại học, làm việc ở những nơi như Cool Corner ở Stockon, California. Tôi thường là người da trắng duy nhất ở trong câu lạc bộ. Không ai ở trường đại học có thể hiểu tại sao tôi lại làm việc ở đó…
…Tôi có ảnh trên trang nhất của Time năm 1954, rất nhiều người nghĩ là sự nghiệp của tôi bắt đầu với album Time out, nhưng tôi không bao giờ có thể quên được những năm đầu tiên quan trọng đến mức nào. khi nhóm tứ tấu [Dave Brubeck Quarrtet] đầu tiên thành lập…
…Tôi là người da trắng và đã biểu diễn khắp mọi nơi… Rất nhiều câu lạc bộ đã ngăn đôi với người da đen biểu diễn một bên và người da trắng ở một bên. Cũng không mất nhiều thời gian lắm để tấm màn đó có thể được xoá bỏ, tuy vậy tôi không chơi cho bất kỳ một câu lạc bộ nào khi vẫn còn phân biệt như thế…
…Giống như Ellington, Louis Armstrong, và Beethoven, những lời phê phán cũng làm tôi khó chịu. Tuy vậy, tôi đã chơi cùng với một nhóm đông các nghệ sỹ cũng bị phê phán, và khi họ chơi hết mình, thật là khó tưởng. Những lời chỉ trích đôi khi cũng tốt… ”
Một số các nghệ sĩ lớn cần phải kể đến trong thời kỳ này như : Miles Davis (trumpet); Gerry Mulligan (baritone saxophone); Stan Getz (Tenor Sax); Gil Evans (arranger); George Shering (piano); Paul Desmond (alto sax) [thành viên nhóm tứ tấu Dave Brubeck ]; Clark Terry (Fluegal Horn/ trumpet); Lee Konitz (alto sax), và John Coltrane (alto, tenor sax cũng là một nhạc sỹ tiên phong rất quan trọng).
Dưới đây là một đoạn báo do Micheal Bourne viết để nói về nghệ sĩ nhạc Jazz, Gerry Mulligan :
“Mulligan nói “Khi tôi là một đứa trẻ, thế giới của tôi đã tràn ngập âm nhạc từ chiếc radio. Tôi yêu các ban nhạc này. Tôi yêu Jazz, yêu nhạc cổ điển, tất cả những gì tôi nghe được”
Vậy thì lúc nào anh ta biết rằng anh ta là một nhạc sỹ ??? “Dường như trong tôi đã có một ước muốn ngay từ nhỏ rằng tôi sẽ có một ban nhạc, tôi sẽ viết cho ban nhạc đó, sẽ chơi nhạc. Cho dù 100 năm, 1000 năm nữa niềm đam mê được viết những dòng nhạc sẽ không thay đổi…Tôi thực sự muốn vào trường học nhạc và học sáng tác nhưng tôi không có một cơ hội nào. Gia đình tôi nghĩ rằng tôi thật điên rồ, “Nó chỉ nghĩ linh tinh và đến ngày nào đó nó sẽ kiếm được một ý nghĩ tử tế hơn”. Nhưng không, không bao giờ tôi thay đổi. Đối với tôi âm nhạc là tất cả.
Vào cuối những năm 1940, Mulligan đã trở nên nổi tiếng với vai trò nhạc công chơi baritonre lẫn nhà soạn nhạc. Miles Davids đã nói rằng vào lúc đó Cool đã ra đời.
Gia nhập vào một ban nhạc gồm có 9 thành viên, một sự thay đổi lớn đã xảy ra. “ Tôi gia nhập vào một ban nhạc nhỏ vì tất cả các bạn tôi đều gia nhập vào các ban nhạc nhỏ. Đã hết thời của các ban nhạc lớn rồi.
Với thuế “nghệ thuật” của chính phủ, Hiệp hội Âm nhạc đình công, sự thay đổi trong ban nhạc, một số ra đi, Mulligan đau xót nhìn ban nhạc yêu mến của mình tan rã dần dần.
Gerry Mullian đã không còn trẻ nữa, 61 tuổi [vào năm 1988] và ông biết rằng bọn trẻ giờ đây không còn chăm chú lắng nghe radio và mơ ước có một ban nhạc của riêng mình nữa “Nếu không có sự nhiệt tình, bạn không thể làm được gì, nhất là âm nhạc, đó chỉ còn là một bãi rác mà thôi…”
Vào cuối thập kỷ 50, Jazz đã tiến đến giới hạn của các loại nhạc phổ thông và một loại nhạc mới, Rock ‘n’ Roll đã dần trở thành món ăn âm nhạc yêu thích của người dân Mỹ. Jazz tiến vào những vùng sâu hơn mà âm nhạc phổ thông dừng bước. Jazz đã thành một thứ nghệ thuật thực sự, của riêng người Mỹ, không chỉ thành công ở Mỹ mà còn là một mảng nổi bật trong bức tranh âm nhạc của toàn thế giới.


Chương 10 : Thời kỳ Tiền-Rock
Vào những năm thập kỷ 40, Jazz, loại nhạc phổ biến nhất của người Mỹ đã có một bước chuyển đổi quan trọng. Từ loại nhạc đầu tiên của mình, Ragtime, Jazz đã có thể nhảy múa theo, Jazz đã nhanh chóng là loại nhạc phổ thông nhất. Nhưng vào thời kỳ Swing, Jazz đã chuyển sang hoà tấu, và khi Bop một lần nữa là một thể loại Jazz mới, mọi khả năng nhảy múa đã bay hơi hoàn toàn. Đây không phải là sự phát triển thụt lùi của Jazz nếu xét trên quan điểm âm nhạc, nhưng thực tế rằng, Jazz càng ngày càng khó nhảy theo và Bop đã bóp chết khả năng này.
Sau thế chiến lần thứ II, Mỹ lại nổi lên như một cường quốc có tiềm lực kinh tế rất mạnh. Người dân Mỹ sau những sự tàn phá về kinh tế trong lần thứ nhất phố Wall sụp đổ (Great Depression) và sự hỗn loạn trong thế chiến thứ II sẵn dàng bỏ tiền của mình ra để được vui vẻ.
Sau năm 1950, xã hội Mỹ đã chia rõ thành 2 nhóm tuổi, những người trưởng thành và trẻ con. Nhưng vào đầu những năm 1950, một nhóm nhỏ đã bắt đầu hình thành ở Mỹ và một số nước phương Tây khác với từ “teenager”. Họ chưa trưởng thành nhưng không còn là trẻ con nữa, họ cần phải có tiếng nói và sự tôn trọng riêng cho mình. Thế hệ “baby-boom” (đa số sinh khoảng 1942-1964) đã bắt đầu gây ảnh hưởng lên nước Mỹ. Nước Mỹ thời đó khá giàu và thế hệ này không ít thì nhiều cũng đã bắt đầu làm những việc nhỏ và kiếm được không ít tiền.
Các công ty thu âm vào cuối thập kỷ 40 và đầu thập kỷ 50 ở Mỹ có 3 bảng xếp hạng : Pop, Rhythm & Blue , Country and Western. Bảng xếp hạng Pop là bảng xếp hạng có quyền lực kinh tế nhất vì các công ty thu âm lớn thâu tóm nó. Các công ty này có một mạng lưới phát hành lớn trên khắp nước Mỹ và trên toàn thế giới. Nhạc Pop thường bao gồm các ngôi sao lớn thận trọng và hát những bài hát mềm mại ( kể cả nhạc Jazz cũng chỉ là các bài hát mềm mại mà thôi). Lời thì thường chứa những cảm xúc(nói chung) của giới trung lưu da trắng, khá trong sạch và chẳng phê phán ai. Thời đó, Frank Sinatra, Bing Crosby, và Doris Day khá nổi tiếng với loại nhạc này.
R&B là loại nhạc khó nuốt hơn với những lời trần tục, pha chút nhục dục, với những ca từ như muốn người nghe có thể cảm nhận ngay những gì mà ca sỹ hát  được dựa trên nền tảng giai điệu 12 nhịp của blue (cùng với nhiều thành tố khác của Jazz). Không giống như Pop, R&B có thể hát bất cứ những gì mà ca sỹ muốn nói, kể cả hay những công việc thường ngày. Phong cách này không phổ biến trên toàn đất Mỹ(giống như Pop) nhưng lại khá phổ biến ở các thành phố vùng phía nam. Các công ty thu âm ít khi động chạm đến loại nhạc này vì ca từ của nó cũng như việc phần lớn người da đen là nhạc công chính. Một số các công ty độc lập cũng phát hành R&B, nhưng các công ty này không thể có các đại lý rộng khắp trên cả nước như các công ty to, do vậy R&B cũng chỉ phát triển có giới hạn. Một số các nhạc sỹ nổi tiếng vào đầu những năm 50 là Joe Turner, Ray Charles, and Muddy Waters.
Một trong các nghệ sỹ R&B nổi tiếng nhất là Muddy Waters. Muddy có một ảnh hưởng sâu sắc tới tất cả các loại nhạc lúc đó. Một trong những ca khúc nổi tiếng nhất của ông, “Rollin’ Stone”, đã là tên của một ban nhạc Anh nổi tiếng, được Bob Dylan hát lại và là tên của một tạp chí âm nhạc nổi tiếng bây giờ.
Bản xếp hạng thứ ba, C&W, khác với dòng nhạc đồng quê bây giờ rất nhiều. C&W cũng giống như R&B được các công ty con lúc đó sản xuất và phát hành đĩa. C&W được gọi là “nhạc dân gian” lúc bây giờ (hill-billy)). Nó được những người da trắng tầng lớp thấp và trung bình nghe nhiều nhất ở miền Nam nước Mỹ. Nếu so sánh với nhạc đồng quê bây giờ, C&W khá thô kệch ,đơn giản. Không giống như R&B với chất Blues, C&W sử dụng các chất liệu dân ca miền Nam trong giai điệu và ca từ.
Một vài loại C&W lúc đó là Western Swing, hillbilly boogie, honky-tonk(mà sau này kết hợp với Blues tạo ra Rockability) và blue grass.
Những teenager người Mỹ bắt đầu tìm kiếm những dấu ấn riêng của mình và đơn giản là đã tìm được thứ âm nhạc dựa trên sự kết hợp của cả 3 loại nói trên. Vào thập kỷ 50, phần lớn những teenager da trắng trung lưu chưa chấp nhận được những ca từ gợi tình của R&B nhưng lại thích thú với âm nhạc của nó. Và để xoá nhoà ranh giới đó, các nhạc sỹ da trắng đã vay mượn âm thanh của R&B để kết hợp với những ca từ thuần khiết của Pop. Một số những ca sỹ da trắng cũng bắt đầu nổi danh với C&W, do vậy, ảnh hưởng của C&W lên dòng nhạc popular lúc đó cũng tăng lên. Dần dần các ca sỹ bắt đầu quen với sự kết hợp này và một dòng nhạc mới đã được khai sinh. Theo rất nhiều tài liệu lịch sử, 1955 là năm đánh dấu sự ra đời của một dòng nhạc phổ thông mới ở Mỹ mà được biết với tên Rock ‘n’ Roll.


Chương 11 : Bill Haley và the Comets

Năm 1954, Holywood đã cho ra đời bộ film mang tên Năm The Blackboard Jungle. Bộ film này ngay lập tức đã thức tỉnh ý thức nổi loạn của tầng lớp xã hội mới, teenager. Nhạc nền của bộ film là bài “Rock Around the Clock” do Bill Haaley và the Commets thực hiện. Ngọn lửa sục sôi của Rock ‘n’ Roll đã bắt đầu được nhóm lên.
Bill Haley là một ca sỹ hát nhạc C&W. “Rock Around the Clock” được kết hợp bởi ba thứ nhạc phổ thông nhất lúc bấy giờ(Pop, R&B, C&W). Giai điệu, cách hoà âm được lấy từ R&B, lời được sáng tác theo phong cách của Pop, nhưng cây đàn guitar steel và tiếng trống lách cách(clicks) là của C&W chính hiệu .
Một thời gian ngắn sau khi “Rock Around the Clock” xuất hiện, Bill Haley đã cho ra đời “Dim,Dim the Light”. Bài hát này ngay lập tức đứng đầu bảng xếp hạng R&B(một điều chưa từng xảy ra với các ban nhạc của người da trắng). Bill Haley cũng đã “cover” lại bài “Shake, Rattle and Roll” theo phong cách R&B. (từ “cover” được hiểu là khi một ca sỹ hát lại một bài khác đã từng được hát trước đó của một ca sỹ khác).
Cho đến năm 1957, Bill Haley có nguy cơ không còn được yêu thích ở Mỹ nhưng lại tìm được những khán giải mới của mình ở Anh. Ông đã có một tour lưu diễn rất thành công và còn trụ được ở phong độ cao thêm một vài năm nữa.
Cho dù có rất nhiều ca sỹ biểu diễn thành công hơn Bill Haley, nhưng ông là người đầu tiên gõ vào cánh cửa âm nhạc để tiến đến Rock, tạo ra một cơ hội cho các nghệ sỹ khác mở toang nó.


Chương 12 : Elvis Aaron Presley

“Whoa, hãy nhìn đây này, tôi không biết anh chàng ăn chơi nào đã ở đây, nhưng đã có ai đó mở cánh cửa này rồi”---Jerry Lee Lewis
Một vài năm trước các nghệ sỹ da đen có công lớn trong việc hỉnh thành Rock ‘n’ Roll, nhưng không may mắn bởi mầu da của mình, họ đã không được để ý tới và không nhận được sự động viên cũng như ghi nhận mà họ đáng được hưởng. Các công ty thu âm muốn những tài năng âm nhạc người da trắng có đủ uy tín để làm bật lên những âm thanh mới của Rock ‘n’ Roll. Và Elvis Aaron Presley xuất hiện.
Một vài người nói rằng âm nhạc của Elvis mang chất “da đen”, và nếu có thế thì các công ty thu âm đã kêu gọi tùm lum mọi người phản đối âm nhạc của anh mất rồi. Không những Elvis có một giọng ca xuất sắc (mà một số các ca sỹ hát nhạc Rock không thể có được) mà anh còn nhảy rất cừ. Elvis nhảy tới nỗi mà nhiều người có tuổi ghê sợ anh ta(nhưng họ kinh sợ bao nhiêu thì các teenager lại thích bấy nhiêu). Cùng với không khí sẽ được thưởng thức những “trái cấm”, lại thêm khi Elvis xuất hiện trên truyền hình trong chương trình The Ed Sullivan Show, anh chỉ được quay từ phần thắt lưng trở lên khiến cho các teenager lại càng khao khát muốn nhìn vậy phần dưới đấy như thế nào nhỉ 
Elvis đã xuất hiện đúng thời điểm và đúng chỗ cần một người như anh. Gặp được những người quan trọng như Sam Phillips(Sun Records) và sau đó là “Colonel” Tom Parker (người sau này trở thành ông bầu của anh) đã thúc đẩy sự nghiệp của anh rất nhiều.
Khi Tom Parker bắt đầu nhận làm ông bầu cho Elvis, sự nghiệp của anh đang xuống dốc trầm trọng. Ông đã nảy sinh và thực hiện ý nghĩ làm cho Elvis xuất hiện mọi nơi, ký hợp đồng thu âm mới với RCA, hợp đồng đóng film, và quan trọng là hát trên TV. Parker đã là người đầu tiên nhận ra tầm quan trọng của một môi trường mới, TV.
Elvis bị gọi đi lính năm 1958, và trước sự ngạc nhiên của mọi người, anh đã gia nhập quân đội không chút lưỡng lự. Sau hai năm anh đã được giải ngũ trong vinh quang, và khi trở về, anh đã nổi tiếng hơn ai hết. Elvis tiếp tục đóng film và thu âm cho đến năm 1960, năm anh giã từ Rock.
Trong suốt sự nghiệp của mình Elvis đã có 45 đĩa vàng, và quan trọng hơn, anh đã mở cánh cửa tới Rock cho mọi người, da trắng lẫn da đen. Rock ‘n’ Roll đã trở thành một câu chuyện lớn.

Chương 13 : Những ca sỹ la hét…


Ngày nay, những ca sỹ hát Rock được thừa hưởng kỹ thuật hát từ những ca sỹ hay gào thét của Rock ‘n’ Roll thập kỷ 50, và họ thì lại thừa hưởng từ những ca sỹ hát nhạc Blues ở thập kỷ 30 và 40.
Khi vừa hát vừa gào thét (shout style), ca từ được hát theo một cách có nhịp điệu hơn so với lời hát thông thường. Kỹ thuật này được sử dụng rất nhiều trong nhạc cổ điển, một số phong cách Jazz và thậm chí là ở một số dạng dân ca Mỹ. Trong suốt thập kỷ 50, các loại nhạc phổ thông kiên trì theo phong cách tình cảm êm nhẹ của Frank Sinatra, nhưng shout style đã thoả mãn được cái tai đói âm thanh của các teenager. Hai ca sỹ tiêu biểu khởi đầu cho shout style là Richard Penniman(a.k.a Little Richard) và Jerry Lee Lewis(a.k.a The Killer) đã ảnh hưởng nhiều tới các ca sỹ sau này. Richard là người da đen còn Lewwis là người da trắng, nhưng họ có một điểm chung, tiếng hét.
Richard và Lewwis là tiêu biểu cho những người thuộc tầng lớp trung lưu nhưng đầy những cảm xúc dồn nén. Elvis Preley là ca sỹ hát trữ tình, êm dịu, với phong cách của một quý ông ở miền Nam, nhưng Richard và Lewis thì rất hoang dại và khác hẳn với cái kiểu thông thường ai cũng thấy ở thập kỷ 50 này. Cả hai đều ăn mặc khá giống nhau với zoot-suit(áo dài đến đầu gối, quần hẹp-ND), áo giả da và kim tuyến, tóc dài. Cả hai nhạc sỹ đều rất giống nhau trong cách chơi piano, những đoạn lặp dữ dội, những cú nhấn bất ngờ bên tay phải với phong cách chơi chẳng ai có, vừa đứng vừa đánh đàn hay thậm chí là ngồi lên cả piano.
Richard quả thật là một cái máy gào thét; khi giọng ca của anh kết hợp với tiếng kèn saxophone nhún nhảy giục giã, âm nhạc của anh đã tìm được đến với những cảm xúc tột cùng mà những thính giả teenagers đang tìm kiếm. Phần giai điệu của Richard được lấy chủ yếu từ chất liệu R&B, phần lời thì không có gì đáng kể.
Jerry Lee Lewis và cả Little Richard đều biểu diễn rất hoang dại trên sân khấu. Những phụ huynh người da trắng lại càng không thể chấp nhận được anh ta vì một lý do đơn giản anh ta là người da trắng. Hát những bài hát với chủ đề mở nói về nhục dục không chút ngại ngùng, cùng những nốt nhấn mạnh mẽ trên cây đàn piano của mình, Lewwis đã làm thoả lòng thế hệ teenager và làm kinh sợ bố mẹ họ. Vào lúc đó, làm cho các vị phụ huynh nổi giận là mục tiêu luôn được các nghệ sỹ Rock mong muốn.
Một trong những nghệ sỹ khác cũng “la hét” chẳng kém ai mà nhiều người coi là “cha đẻ” của Rock ‘n’ Roll là Chuck Berry(guitar). Berry không chỉ là một nhà soạn nhạc điển hình(một trong những nghệ sỹ Rock vừa sáng tác vừa biểu diễn đầu tiên), Berry còn là một cây guitar có kỹ thuật không thể chê được. Tiếng đàn của ông đã trở thành một cái gì đó để vô số các nghệ sỹ Rock phải ngưỡng mộ và học tập theo.
Không giống như Richard và Lewis, nhạc của Berry dù sao vẫn còn làm các bậc phụ huynh tầng lớp trung lưu yên tâm đôi chút. Những ca từ về cuộc sống của mình, như về các cô gái, về những chuyện tình lãng mạn hay cả những chiếc ô tô tràn ngập trong các bài hát của ông. Berry đã phản ánh trung thực xã hội của các teen thời đó.
Âm nhạc của Chuck Berry vào thập kỷ 50 rất đặc biệt khác hẳn mọi người. Ông sử dụng những nhịp “Rock” rõ nét như trong bài “Maybelline” hoà trong nhịp điệu “rolling” thực hiện bằng cách thay đổi liên tiếp các hợp âm hầu hết sử dụng các nốt nhạc “blues”. Tác phẩm của ông cũng có thể được nhận ra với những đoạn guitar mở đầu than vãn, nhanh, âm vực cao và tổng thể khá ấn tượng với nhịp điệu nhanh như súng máy trong ca từ lưu loát.
Chuck Berry có ảnh hưởng lớn đến thế hệ đàn em sau này như Beachboys, the Beatles, the Rolling Stone, và ngay cả Bob Dylan. The Beatles đã thu âm bài “Roll Over Beethoven” và “Rock and Roll Music". Đĩa đơn của the Rolling Stone là bài “Come on” của Berry và sau đó Stone còn thu âm thêm một số các ca khúc khác của Berry. “Sweet Little Sixteen” của ông được Beachboy phối âm lại và thêm một số ca từ đã trở thành một hit của Beachboy “Surfin’ USA”. Khi Bob Dylan được coi như một nghệ sỹ Hard Rock vào năm 1965 với bài hát “Subterranean Homesick Blues”, ông đã dựa trên hoà âm, khuôn mẫu và thậm chí là cả cảm xúc trong bài “Too Much Monkey Bussiness” của Chuck Berry.
Cũng cần phải nói đến một nhạc công guitar, bạn đồng nghiệp của Berry, Buddy Holly. Một vài năm trước khi qua đời trong một tai nạn máy bay vào năm 1959, ông đã góp phần xác định và làm rõ vai trò của người biểu diễn/người soạn nhạc Rock ‘n’ Roll. Là một nhạc sỹ C&W, tuy vậy Holly yêu thích những âm thanh của R&B và ông đã kết hợp để tạo ra âm nhạc mới cho các teen. Giống như Berry, Holly cũng đánh guitar rất tuyệt, âm nhạc của ông thường được viết trong sáng dễ hiểu. Ông là người tiên phong trong việc thành lập ban nhạc gồm 2 guitar, bass và trống, đồng thời cùng kỹ thuật thu âm có tên double-tracking.


Chương 14 : Ngay cả thần tượng cũng là teen (1958-1962)

Trong một vài năm đầu tiên của nhạc Rock, rất nhiều người, ngay cả các công ty thu âm hàng đầu đều tin rằng thứ nhạc này cũng chỉ là một sở thích kỳ cục dở hơi nhất thời của người Mỹ. Tuy vậy, một khi các công ty nhận thức rõ được lỗi lầm của mình, họ đã cố gắng sửa lại nó bằng cách tham gia vào thị trường nhạc Rock. Một số những nhãn hiệu lớn đã bắt đầu tìm hiểu xem các teenager muốn gì và sản xuất ra những âm thanh phù hợp với ý thích đó. Những sản phẩm này được gọi là “Teen Idol”.
Vào năm 1958, phần lớn các nghệ sỹ tiên phong của Rock không còn chơi nhạc Roock nữa. Elvis đang ở trong quân đội, Little Richard đã trở thành một mục sư dòng Christian, Buddy Holly thì đã chết trong một tai nạn máy bay thảm khốc, Chuck Berry thì đang nghỉ mát trong nhà đá, Jerry Lewis đang bị phản đối vì đi cưới cô cháu gái 13 tuổi của mình sau khi bỏ vợ. Các công ty thu âm thấy rằng tiền chỉ có thể đến với họ khi các ngôi sao nhạc Rock thu âm, bây giờ thì chẳng còn ngôi sao nào cả, và họ đành tự tạo ra các ngôi sao vậy.
Thay vì việc tạo ra các nhạc sĩ thực thụ, các công ty này đi thuê các ca sỹ không chỉ vì giọng hát của họ mà chính là vì hình ảnh của họ mà các công ty này muốn thấy.(ND-Đáng ngạc nhiên nhỉ, nhất là nhạc Rock). Tất cả các teen idol này còn rất trẻ và hầu như không có kinh nghiệm.
Các thần tượng này có thể kể tới Paul Anka, Frankie Avalon, Fabian Forte, Bobby Rydell, và Neil Sedaka. Âm nhạc của họ khá trong lành và mang một hương vị lãng mạn thơ ngây-không có gì ngoài những cánh tay bên nhau với một nụ hôn nửa chừng. Những người trưởng thành không thấy sự sợ hãi xuất hiện khi xem và nghe loại nhạc này, và khi mà những người trưởng thành ưa thích và muốn con họ nghe loại nhạc này, họ đã trả tiền để mua.
Trong suốt kỷ nguyên của teen idol và một vài năm trước đó, rất nhiều các nhạc sỹ da trắng đã “cover” lại các bản nhạc R&B của các nghệ sỹ da đen. Các bản nhạc này thường chỉ dùng phần nhạc, phần lời đã được viết lại để mang không khí “trong lành” hơn tới người nghe. Một thần tượng của giới trẻ lúc đó, Pat Boone, người nổi tiếng với các bản cover đã nói :
“Chúng ta cần phải thừa nhận rằng, có đến ơn 90% các đài phát thanh trên đất nước chúng ta(ND-Mỹ) không bao giờ phát các bản R&B của Chuck Berry, Fat Dominos hay Little Richard. Thực tế, những nhạc sỹ này hy vọng và cầu Chúa để các bài hát của họ được cover lại, phát đi trên khắp mọi miền, cũng có nghĩa rằng âm nhạc của họ sẽ có nhiều người nghe, nhiều người thích hơn. Chúng tôi không phải là một lối thoát sống còn, nhưng đã là một chất xúc tác quan trọng để đẩy R&B phát triển lên Rock ‘n’ Roll.
Tôi có một cảm xúc rất lớn mỗi khi nghe các bài hát của các nghệ sỹ R&B thực thụ. Tôi biết rằng tôi đã hưởng lợi từ những bài hát của họ, tôi đã thay đổi một số ca từ trong những ca khúc của họ. Những sự thay đổi này nhỏ, có thể không quan trọng đối với họ nhưng lại quan trọng đối với tôi. Ví dụ như trong bài “Tutti-Fruitti” của Little Richard (ND-Không biết có phải Queen hát lại bài này không nhỉ???) có một đoạn “Boys, You don’t know what she’s doing to me.”, tôi đã không hát thế mà sửa thành “Pretty little Suzie is the right girl for me”. Cũng vẫn hát được đấy chứ, bọn trẻ cũng không để ý lắm, tôi nghĩ rằng chúng cũng chẳng nhớ đâu…”
Các công ty thu âm đã tìm đủ mọi cách để lăng xê ca sỹ của họ lên. Cac tạp chí của các fan được sử dụng cùng với các bộ film “B” của Hollywood. Các công ty này nghĩ là họ đã biết Rock là cái gì, nhưng họ đang huỷ diệt dần Rock. Phải đến đầu thập kỷ 60, Rock mới lại được trở lại là Rock.


Chương 15 : Nhạc Twist Trước thập kỷ 60,

hầu như tất cả các điệu nhảy đều được coi là nhảy theo kiểu “touch” vì những người tham gia cần phải chạm tới người khác trong quá trình nhảy. Với sự xuất hiện của một điệu nhảy mới vào năm 1960, The Twist, cái nhìn về các điệu nhảy phổ thông đã thay đổi. Twist trở thành một điệu nhảy đầu tiên của nhạc Rock trong đó các đôi nhảy không hề chạm vào nhau trong quá trình nhảy. Twist ngay lập tức được rất nhiều người đem ra mổ xẻ tranh luận và tự hỏi xem nó liệu là một điệu nhảy hay là một bài tập thể dục. Tất nhiên, các teenager thích điệu nhảy này còn mặc kệ người lớn họ nghĩ gì.
Nghệ sỹ khởi đầu của Twist là Chubby Checker. Chubby nổi tiếng với điệu nhảy này đến nỗi dân chúng không cho phép ông được biểu diễn một thể loại nhạc nào khác nữa. Thật không may mắn cho Chubby, điều này đã cản trở tính sáng tạo của ông khi đến với các loại nhạc khác và đã giới hạn sự nghiệp của ông rất nhiều.
Nhạc Twist khá đơn giản, vẫn dùng nhịp 12 khuông của blues với ca từ theo kiểu shout style. Nhạc Twist có nhịp điệu khá mạnh và cũng chẳng quan tâm tới ca từ nhiều, nó chỉ để nhảy, nhảy và nhảy.
Chubby Checker đã nói về sự phát triển của Twist như sau :
“Vào năm 1959, Kal Mann gọi cho tôi từ Cameo và nói,”Chúng tôi có một bản thu âm tên là “The Twist”, Tôi nói rằng “Ừ, tôi có biết Hank Ballard và the Midnighters đã thu âm bài đó.” Ngay lập tức Kal nói với tôi “Biết rồi, nhưng tôi nghĩ chúng ta có thể thêm chút nhảy nhót vào đó.” Tôi đã đồng ý.
Hank Ballard là một thần tượng của tôi, một con người rất nổi tiếng vào thập kỷ 50. Ông đã thực hiện những bài hát mà tôi nghĩ chắc chẳng ai hát được như thế “Annie Had a Baby”, “Work with Me, Annie”. Radio không bao giờ phát những bản nhạc của ông, nhưng những bọn trẻ như tôi thì yêu các bài hát đó.
Do vậy, tôi đã không lưỡng lự và tới ngay Cameo-Parkway. Chúng tôi đã thực hiện “The Twist” với 3 bước nhảy. Vấn đề là làm thế nào để chúng ta diễn tả được với công chúng nhỉ? Tôi cũng chẳng biết cuối cùng ai đã nghĩ ra được nhưng có một cách đơn giản thế này này :” Cứ tưởng tượng anh dùng hai chân của mình để dập tắt một điếu xì gà, và sau đó cùng với nhịp của bản nhạc, anh dùng phần dưới của mình để nghiền nát nó ra”. Cái công thức văn vẻ nhỏ bé này đã thay đổi cả thế giới.
…Có lẽ, “The Twist” thực sự đã phá hỏng cả đời tôi. Tôi đang trên đường để trở thành một nghệ sỹ biểu diễn ở câu lạc bộ lớn, và nó đã quét sạch mọi ham muốn của tôi. Không ai nghĩ rằng tôi là người có tài…”

Dựa trên nền tảng của Twist, một số các điệu nhảy khác đã được ra đời với cùng một công thức “couple-apart”. The Jerk, the Watusi, the Fly, the Pony bắt đầu được công chúng yêu thích. Bên cạnh sự phát triển của các thể loại âm nhạc phổ thông, The Twist đã xuất hiện bên cạnh sự phát triển của nhạc Rock như một thể loại có thể dễ dàng nhảy theo và đã trở thành truyền thống của người Mỹ.


Chương 16 : Những âm thanh đến từ phía Nam California (đầu thập kỷ 60)

Rất nhiều người vào đầu thập kỷ 60, đặc biệt các teenager, coi phía Nam California như một vùng đất của âm nhạc. California có một cuộc sống tươi đẹp đầy quyến rũ của Hollywood, sự thảnh thơi và vui vẻ như neyland, thậm chí như là cõi niết bàn của các teenager với cuộc sống luôn mang không khí hội hè. Có lẽ đối với rất nhiều người Mỹ, vùng phía Nam của California thể hiện một cuộc sống hoàn mỹ và một thể loại Rock mới như đã được vẽ nên bởi tất cả sự quyến rũ ở đây.
Vào đầu thế kỷ, vùng phía Nam California là một vùng nông nghiệp hoang vắng, nhưng vào thập kỷ 50 và 60, mọi thứ đã phát triển với một tốc độ chóng mặt với dân cư đến từ rất nhiều vùng khác nhau của nước Mỹ. Nếp sống thoải mái (laid-back) bắt đầu hình thành và hoà trộn với không khí chính trị của phe Bảo thủ.
Khi tuyết bắt đầu rơi ở vùng trung-Tây nước Mỹ, mọi người lại mơ tới ánh nắng ngập tràn của những bãi biển vùng California, những cuộc vui dường như bất tận với những âm thanh của vùng biển phía Nam hay còn được gọi là Surf music. Surf music là một thứ âm nhạc đơn giản của những người bảo thủ. Ca từ phản ánh trung thực không khí hội hè thư giãn, thường nói về những chủ đề như những cuộc tình, những cô gái đẹp, ô tô, ánh nắng, bãi biển và tuyệt đối không một bài hát nào muốn khuấy động cái không khí thần tiên ở đây. Phần nhạc nền thường chứa những hoà âm đơn giản cùng giai điệu mà mọi người có thể nhảy theo ngay lập tức. Xen lẫn với giọng hát là những hợp âm khá dầy cũng với đoạn counter melody với giọng nam cao. Khi kiểu nhạc này được hình thành, ngay lập tức có hàng trăm bài hát cùng kiểu được sáng tác và trên tất cả là nhóm The Beachboys.
The Beachboys được thành lập bởi Brian Wilson vào năm 1961 và đã ngay lập tức cuốn mọi người dân nước Mỹ vào cùng một cảm xúc của ban nhạc. Các thành viên của ban nhạc này bao gồm anh em nhà Wilson(tất cả họ đều chỉ ở tuổi teenager) Brian,Dennis, Carl, anh họ Mike Love và bạn của họ,Alan Jardine. Đầu tiên ban nhạc được mang tên Pendletones(trước khi họ mặc một loại áo kẻ sọc vuông thưa dùng để lướt sóng mà sau này đã thành đồng phục của họ), sau đó là Carl and the Passion và cuối cùng là the BeachBoys. Âm nhạc của The Beachboys cũng đã được quảng cáo và lăng xê rất nhiều trên TV như Elvis Presley vào những năm 1950. Khi nghe The BeachBoys, người ta có thể cảm nhận một thứ âm nhạc dịu dàng, chất giọng đằm, ca từ đơn giản dễ nhớ, phần nhạc đệm khiêm tốn lẩn mình, và tất cả hoà với nhau để tạo ra một khúc ca hoàn mỹ như cái không khí ở đây. Rất nhiều hit của The Beachboys ban đầu được sáng tác bởi tài năng trẻ Brian Wilson. Cho dù có một số nhà phê bình chỉ trích âm nhạc của họ, The BeachBoys đã và đang được rất nhiều người dân Mỹ coi là thứ âm nhạc phản ánh sự yên bình.
Vào khoảng giữa những năm 60, The Beachboys đã bắt đầu thay đổi phong cách của họ do có những ảnh hưởng của The Beatles và các ca sỹ hát nhạc folk như Bob Dylan. Vào năm 1967, họ cho ra đời album Pet Sounds đã chứa đựng rất nhiều những nét nhạc và kỹ thuật vượt trội so với các thu âm trước đó.
Một vài nhóm nhạc Surf khác có thể kể đến như The Hondas và The Sufaries. Surf music đã trở thành một loại nhạc được mọi người ưa thích. Chúng ta biết rằng, đôi khi những bản nhạc, những loại nhạc hay nhưng không đem lại một dấu ấn xã hội, nhưng một thể loại nghệ thuật khiến cho mọi người đều ngưỡng mộ sẽ được ghi vào lịch sử nghệ thuật. Surf music đã làm được điều đó

Chương 17 : Folk-Rock(1960-1965)

Vào thời kỳ đầu tiên của mình, Rock sinh ra chỉ với một mục đích duy nhất là để các thính giả teenager giải trí. Khi Rock bắt đầu trưởng thành và bắt đầu trở thành một cái gì đó của nghệ thuật, Rock đôi khi trở nên đứng đắn hơn và được cả xã hội để ý. Một thành phần quan trọng nổi bật trong lúc đó phải kể tới là Folk-Rock.
Thông thường Folk-Rock chỉ như là một tác phẩm nghệ thuật giản đơn cho hầu hết mọi người; nhạc folk phản ánh quan điểm nhìn nhận xã hội, văn hoá và lối sống của một vùng hay một nhóm người. Chúng ta có thể thấy phần nhạc của folk-rock được kìm nén để sự quan trọng đặt lên phần ca từ, ca từ thường được đặt theo phần nhạc và lặp lại giống như những khổ thơ tứ tuyệt(stanzas).
Thập kỷ 60 có thể coi là một bước ngoặt của xã hội Mỹ với những cuộc trở mình đầy biến động như cuộc chiến tranh ở Việt Nam, vấn đề môi trường, quyền công dân,tự do tình dục … và rất nhiều những vấn đề khác. Trước folk-rock, ca từ trong nhạc Rock không được coi trọng, âm nhạc và tiếng đập từ trống mới là cái để nói tới. Tuy vậy, trong thời đại của folk-rock, ca từ đôi khi lại quan trọng hơn cả phần nhạc. Những nhạc sỹ viết folk-rock đôi khi được coi như những nhà thơ gây nên sự chú ý của xã hội bằng những bài hát của mình.
Có rất nhiều các ca sỹ và nhóm nhạc quan trọng cần nhắc tới trong thập kỷ này. Một vài người như Peter, Paul, Mary tạo ra cho folk-rock một chuẩn mực với môi trường trình diễn chuyên nghiệp trong khi đó một số như Bob Dylan được biết tới với sức mạnh của ca từ và âm nhạc của mình.
Bob Dylan đã tiếp nối những khúc ca của các nghệ sỹ lang thang dùng ca từ của mình như một phương tiện truyền tải những thông điệp tới người nghe. Cách mà ông hát làm cho mọi người có cố tình không hiểu cũng hiểu được những gì ông muốn nói khiến rất nhiều nhạc sỹ và thính giả coi ông như một người hát rong tiên tri về mọi điều trong cuộc sống này.
Phong cách của folk-rock đã ảnh hưởng mạnh đến toàn thể giới học sinh sinh viên của Mỹ. Hình ảnh anh chàng sinh viên với cây đàn guitar thùng sau lưng lúc này đã phổ biến trong khắp các trường trung học và đại học.
Một vài các nghệ sỹ quan trọng khác cũng nên nhắc tới là Peter Seeger, The Kingston Trio, Joan Baez. các nghệ sỹ này và nhiều nghệ sỹ cùng thời đã in đậm dấu ấn của mình lên sự phát triển trong Rock. Ca từ đã trở thành một phần đáng kể trong bài hát.
Sau thời kỳ này, đã xuất hiện một dạng con của folk-rock được biết tới với cái tên Electric Folk-Rock. Nói chúng về mọi thứ, âm nhạc, ca từ, cách phối âm đều giống với folk-rock, tuy vậy chỉ có một điều khác là sử dụng nhạc cụ điện tử. Bộ khuyếch đại công suất (amplification) đã trở nên quan trọng với tất cả các ban nhạc Rock. Thời kỳ này có một số ca sỹ/nhóm nổi lên như Simon and Garfunkel, the Byrds, the Mamas and Papas, và the Lovin' Spoonful.
Nhóm The Byrd đã mang tới cho thính giả thực chất là hầu hết các version của các ban nhạc folk-rock nhưng được thể hiện bằng nhạc cụ điện tử. “Mr.Tambourine Man” là một bài hát của Dylan đã trở thành hit của The Byrd.




Chương 18 : The Beatles

The Beatles,một sản phẩm của âm nhạc trong thập kỷ 60, có lẽ đã là nhóm nhạc Rock quan trọng nhất trong mọi thời đại. Âm nhạc của họ phát triển qua ba thời kỳ khi mà xã hội lúc đó luôn đặt họ ở vị trí đứng đầu. Không chỉ bởi âm nhạc, sự đột phá, quan điểm rất quan trọng về nhạc Rock mà lối sống của họ cũng đã ảnh hưởng đến rất nhiều người. Sự quan trọng của nhạc Rock, xét trên khía cạnh âm nhạc lẫn xã hội đã được phát triển trong xã hội đầy biến động suốt thập kỷ 60, và The Beatles đã được coi như người cưỡi những con sóng biến động để mang đến cho mọi người niềm say mê bất tận của nhạc Rock.
Bắt đầu sự nghiệp với tư cách là những người ở tầng lớp lao động trung bình thấp ở thành phố Liverpool, Anh(), The Beatles đã dần dần trở thành một tiêu điểm của cả thế giới. Song song với sự phát triển mạnh mẽ của nhạc Pop ở Anh, nhạc skiffle(ND-nhạc dân gian, phối hợp giữa Jazz và nhạc dân gian, thường sử dụng các nhạc cụ tuỳ hứng và một ca sỹ chơi guitar hay banjo), giới trẻ ở Anh cũng rất thích các loại nhạc phổ thông ở Mỹ. Các nghệ sỹ Mỹ như Bill Haley hay Little Richard đã thu hút một số lượng lớn đám đông cuồng nhiệt trong các chuyến lưu diễn của mình ở Anh. The Beatles, sống ở một thành phố cảng nhỏ, như mọi người khác cũng đã được nghe nhiều những bản thu âm của các nghệ sỹ Mỹ như Buddy Holly, Gene Vincent, Elvis Presley, và Jerry Lee Lewis. Những teenager ở Anh bắt đầu cảm thấy không bằng lòng bởi sự thua kém của họ khi so sánh với các nghệ sỹ ở Mỹ.
John Lennon lúc đầu thành lập một ban nhạc có tên là QuarryMen, sau khi qua rất nhiều lần thay đổi tên gọi và nhân sự(cùng việc thêm những người mới như Paul McCartney, George Harrison và Pete Best), The Beatles đã ra đời. Trong những ngày đầu tiên của mình, The Beatles thường biểu diễn ở khắp mọi nơi giữa Đức và Liverpool để trau dồi vốn liếng âm nhạc và kinh nghiệm biểu diễn của mình. The Beatles thường biểu diễn ở câu lạc bộ Indra ở Hamburg, Đức và không khí vây quanh câu lạc bộ cùng ban nhạc chỉ thường là không khí của một quán bar. Paul nói :
“Câu lạc bộ là nơi mà khách du lịch thường ghé qua. Khi mà họ dừng chân ở cửa, bạn cũng biết rằng điều đầu tiên họ quan tâm tới là giá bia, xem có rẻ không thì họ mới vào uống và nghe chúng tôi hát. Khi chúng tôi thấy họ ở cửa, chúng tôi thường cố gắng hát sao cho đạt để hấp dẫn họ. Vai trò của chúng tôi lúc đó là làm mọi người mua thật nhiều bia.“
Vào năm 1961, với việc mời Brian Epstein làm nhà quản lý, George Martin làm nhà sản xuất, cộng với việc Ringo Starr(Richard Starkey) thay thế Pete Best để đảm nhiệm bộ gõ, The Beatles đã bắt đầu bước vào kỷ nguyên của mình.
The Beatles yêu thích nhạc Rock ‘n’ Roll của Mỹ và thời kỳ đầu tiên của họ(1960-1964) và đã kết hợp chất liệu đó với những sáng tác riêng của mình. George Martin nói “Chúng tôi đã tái nhập khẩu lại âm nhạc của Mỹ vào Mỹ. Rất nhiều những gì mà John và Paul đã làm được được sao chép nhiều từ những gì họ được nghe. Cách mà Paul hát giọng cao cùng với cách họ lắc đầu khi hát chẳng khác gì Little Richard. Nếu như George Harrison có thể đánh được một đoạn riff của Chuck Berry thành thạo, anh ấy sẽ rất tự hào và đánh đi đánh lại khiến chúng tôi phát ngán ra.”
Khi The Beatles(ND-cho phép được gọi là Beat) đã bắt đầu được biết tới nhiều hơn ở Anh, họ đã bắt đầu kết hợp thêm những thành tố cơ bản của âm nhạc phổ thông đương thời. Những nét tiêu biểu đơn giản ban đầu được kết hợp thêm với những dòng bass đơn giản, một vài mẫu nhịp điệu, những ca từ đơn giản và trong sáng, trữ tình giống như Rock ‘n’ Roll ở Mỹ vào những năm 1950. Có thể nói là Beat lúc này có phong cách hoàn toàn giống với nhạc thập kỷ 50, nhưng chơi chuyên nghiệp và mang phong cách riêng hơn hẳn.
Ngay cả khi Beat đã trở thành nỗi ám ảnh khó dứt của người Anh vào năm 1963, họ vẫn hầu như không được biết tới ở Mỹ. Nhưng vào năm 1964, họ đã bắt đầu đổ bộ lên Mỹ với những âm thanh mới mẻ, chất hài hước trên tất cả các phương tiện truyền thông lúc đó. Trong 6 tháng nửa đầu năm 1964, Beat đã chiếm trên 60% thị phần của các đĩa đơn 45s cũng với 6 single đứng trong Top 10 của Mỹ; đó là một hiện tượng phi thường mà có lẽ khó lặp lại được. Paul nói rằng “Có lẽ lời nói giả dối nhất của chúng tôi khi nói với ông bầu, Brian Epstein, là chúng tôi không muốn sang Mỹ cho tới khi chúng tôi đứng đầu thế giới.” Paul đã nói đúng và vào năm 1964,nước Mỹ và cả thế giới đã sôi lên trước một cơn sóng Rock chưa từng có.
Thời kỳ đầu của Beat có thể đánh dấu bằng các hit như “Love Me Do”, “Please, Please Me” và “She Loves You”.
Vào cuối năm 1964, Beat đã đặt chân vào thời kỳ thứ hai của mình, thời kỳ thử nghiệm(1965-1966). Trong thời kỳ này, nhạc folk-rock đã ảnh hưởng rất mạnh mẽ tới Beat. Âm nhạc của họ được dần dần thêm vào phần nhạc đệm phức tạp hơn, thêm nhiều các nhạc cụ và kỹ thuật điện tử hơn;giảm bộ gõ đi và gần với nhạc folk hơn, những ca từ như những bài thơ song song với ngữ nghĩa ẩn dấu, cùng với nhiều thử nghiệm khác về hoà âm, phối âm. Beat bắt đầu thử nghiệm với các dòng nhạc không thuộc Rock, đặc biệt âm nhạc Đông Ấn, dàn nhạc giao hưởng, nhạc cụ của jazz, đồng thời là giai đoạn kết hợp chặt chẽ các nhạc cụ điện tử với nhau để thành một thể thống nhất. Thời kỳ này là thời kỳ hoạt động cả cho âm nhạc lẫn xã hội, Beat nhanh chóng trở thành một người phát ngôn cho cả một thế hệ.
George Martin đôi khi được coi như thành viên thứ 5 của Beat bởi những đóng góp âm nhạc rộng rãi và quan trọng của ông trong sự nghiệp phát triển âm nhạc của Beat. Là một nhạc công được đào tạo về âm nhạc cổ điển chính quy, Martin hiểu được hầu hết các khái niệm âm nhạc trong khi Beat chỉ có một số hiểu biết cơ bản ít ỏi về âm nhạc . Beat giờ đây đã có một người đưa lối dẫn đường để có thể tìm hiểu sâu hơn về kho tàng âm nhạc. Martin đặc biệt quan trọng trong thời kỳ thứ hai này, lúc mà Beat đang thử nghiệm những nét nhạc mới. George Martin đã nói về sự cộng tác giữa ông và Beat như sau :
“Tôi lúc đó có trách nhiệm dậy cho họ hầu hết những gì họ cần biết. Họ mang tới chỗ tôi một bài hát còn thô và tôi sửa cho họ .
Tôi sửa cho họ cấu trúc của bài hát “hai hợp âm ở đây, hợp âm thứ hai cần một đoạn guitar solo. Chúng ta cũng cần có một đoạn Intro và ending chứ”.
…Tất nhiên, những bài hát sẽ trở nên thú vị hơn, phức tạp hơn và đòi hỏi nhiều thời gian ở studio hơn.“
Thời kỳ thứ hai của Beat có thể được đánh dấu bởi các hit như “A Hard Days Night”, “Eleanor Rigby” và “Yesterday”. Paul nói về Yesterday như sau :
“Khi tôi viết Yesterday, tôi đã nhắm tới những người hiểu biết âm nhạc hơn là những teenager cuồng nhiệt…Chúng tôi đã thuyết phục được bọn trẻ, và giờ đây chúng tôi cần thuyết phục cả bố mẹ của bọn trẻ nữa …”
Thời kỳ thứ ba và cuối cùng , thời kỳ trưởng thành (1967-1970) , bao gồm những kỹ thuật cao hơn về âm nhạc, Beat đã có những kỹ thuật và xúc cảm

Ironheart
06-05-2004, 08:52 PM
Mệ kíp bác cóp pết ở mô ra mà lắm rứa, nhìn hoa cả mắt. Nhưng mà đọc hết thì cũng mở mang thêm đấy.
Bac cho em hỏi cái, bác có biết cái tên này không "Trans-Siberian Orchestra"? Nếu biết thì cho em xin một ít thông tin nhé. Thanks. Bọn này nó chơi Rock kết hợp với nhạc giao hưởng, hay phết đấy.

hoanghuyae
07-05-2004, 06:50 PM
Cũng nghe đến tên đấy rồi !
Nhưng hình như là đã lâu lắm !
Và rất tiếc là cũng chưa nghe được bài nào ! Vô cùng sorry !
Có 1 địa chỉ ở Thuỵ KHuê-Hà Nội : cực nhiều, cực độc
Nhưng căn bản là chưa có thời gian đi(mà cũng đang bận ôn thi)
Nếu có dịp nào (chậm nhất là 15-6) tôi sẽ đi tìm giu`m . Thôi nhá !
Tất nhiên là hứa thì sẽ làm ,ok !@

Slump
07-05-2004, 09:35 PM
Originally posted by Ironheart@May 6 2004, 06:52 PM
Mệ kíp bác cóp pết ở mô ra mà lắm rứa, nhìn hoa cả mắt. Nhưng mà đọc hết thì cũng mở mang thêm đấy.
Bac cho em hỏi cái, bác có biết cái tên này không "Trans-Siberian Orchestra"? Nếu biết thì cho em xin một ít thông tin nhé. Thanks. Bọn này nó chơi Rock kết hợp với nhạc giao hưởng, hay phết đấy.
Bọn này tôi cũng có 1 đĩa : Beethoven's last night
Tuy chất lượng ko đươc tốt nhưng nếu cậu muốn thì tôi sẽ cho mượn.
Quên, tôi hiện đang ở HN.
Trang web của bọn nó
www.trans-siberian.com

Ironheart
10-05-2004, 09:50 PM
Cám ơn mọi người quan tâm nhá. Nhưng cái tui cần là thông tin về ban nhạc cơ, chứ đĩa thì tui cũng có. Cũng đã ghé www.trans-siberian.com nhưng khổ nỗi dốt tiếng Anh. Slump có giỏi eng xờ lich không dịch hộ cái.

Ironheart
10-05-2004, 09:55 PM
To hoanghuyae:
Bây giờ mới biết Huy lớp Lý cũng nghe Rock hè hè.
Có 1 địa chỉ ở Thuỵ KHuê-Hà Nội : cực nhiều, cực độc

Nhưng rất tiếc cửa hàng ấy sắp đóng cửa rồi, nó đang muốn thanh lý đĩa đấy 6000đ/cái (còn khoảng 1500 cái) lên nhanh mà tranh thủ mua cho rẻ.
Thi cử tốt chứ hả? Biết tao là ai không?

hoanghuyae
11-05-2004, 01:52 PM
Gớm thông tin nhanh thế ! Nhưng bây giờ cũng đang bí (hehe), ...
Với lại ta đây cũng quá nhiều đĩa rùi , chỉ tiếc là của độc, của hay không nhiều lắm !
nhưng mà "ironheart" là cái thằng nào ? , đừng giở cái giọng "biết ta là ai không ?" (nghe ngứa quá)
Hehe , có lẽ ta thì ai cũng biết (nhưng trong bộ nhớ chưa có tên này)!

Ironheart
13-05-2004, 12:39 AM
Gớm thông tin nhanh thế !
Chuyện, mày thông tin chậm thì có
nhưng mà "ironheart" là cái thằng nào ? , đừng giở cái giọng "biết ta là ai không ?" (nghe ngứa quá)

Mới hỏi có tí xem có biết mình không mà đã sủng cồ lên rồi. Biết thì bảo là biết mà không biết thì cứ nói là không biết, có gì mà phải tức giận như thế chứ.

hoanghuyae
14-05-2004, 08:21 PM
Tất nhiên là không biết (chứ nếu biết thì đã ...), Hehe-
mà nói chung chuyện này không quan trọng !
Nếu ở cùng lớp thì thôi -không phải bàn (không cần biết là ai)
Còn nếu ở khoá trên thì , hic,,eeeeeeee
:-" :-" B)