View Full Version : Symphonie là gì?
Dartagnan
30-08-2002, 06:37 PM
Ý nghĩa của ngôn từ "giao hưởng" (symphonie) bắt ngờ uồn từ ngôn ngữ Hy Lạp - có nghĩa là hòa hợp âm hưởng. Qua quá trình lâu dài suy tưởng các thuật ngữ, "giao hưởng" được dùng để đặt cho các tác phẩm viết cho dàn nhạc giao hưởng ở các thành phần cấu trúc lớn nhỏ, đa dạng gồm có các đàn chính: đàn dây (viôlông, viôlôngxen, viôla, côngtrơbas), dàn kèn trong đó có kèn gỗ (fluýt, oboa, clarinet, fagốt), kèn đồng (trompét, trombôn, cor, tube) và bộ gõ. Thể loại âm nhạc này bắt đầu hình thành từ những năm 30 thế kỷ XVIII, khi các khúc dạo đầu trong các vở opera ngày càng phát triển và mang tính độc lập, từ đó, giao hưởng như một thể loại âm nhạc độc lập đã ra đời.
Nói đến ý nghĩa và tầm quan trọng của giao hưởng trong âm nhạc người ta thường ví với kịch và tiểu thuyết trong văn học. Đó là hình thái cao nhất của nhạc đàn, trong đó bao hàm mọi ý tưởng âm nhạc với mọi khả năng biểu cảm phong phú và đa dạng ở bất kỳ nội dung nào từ chất trữ tình cho đến chất anh hùng ca, từ niềm lạc quan yêu đời cho đến nét bi thương thảm khốc. Đầu tiên, giao hưởng được sáng tác ở hình thức tổ khúc sonate gồm 3 chương theo phong cách trường phái Napoli - ý. Dần dần, qua quá trình phát triển, trong thành phần của tác phẩm giao hưởng bắt đầu có thêm khúc dạo đầu (của chương I) và menuett (một loại vũ điệu) đóng vai trò chương cuối của giao hưởng 3 chương. Sau đó, giao hưởng 4 chương được hình thành, trong đó chương cuối được sáng tác ở hình thức sonate hoặc rondo - sonate. Các chương chậm (chương II hoặc chương III) thường mang nội dung trữ tình biểu hiện sự tương phản với các chương còn lại. Tuy nhiên, trong quá trình phát triển đã hình thành nên nhiều tác phẩm giao hưởng ngoài quy luật kinh điển như giao hưởng từ 5 chương trở lên hoặc chỉ có 2 hoặc 1 chương duy nhất ví dụ như giao hưởng thơ (symphonie poème). Ngoài các tác phẩm chỉ dành cho dàn nhạc giao hưởng - thành phần chính, có nhiều tác phẩm giao hưởng còn kết hợp cả với lĩnh xướng và hợp xướng (như giao hưởng số 9 - "Niềm vui" của Betthoven) và đặc biệt phải kể đến giao hưởng kết hợp với nhạc cụ độc tấu (concerto - symphonie). Ngoài ra, thể loại âm nhạc này còn liên kết với các thể loại khác để tạo nên những tác phẩm mang hình tượng nghệ thuật tổng quát như: giao hưởng chiêu hồn, giao hưởng balê, giao hưởng thanh xướng kịch v.v... Điều quan trọng nhất trong giao hưởng, đó là sự phát triển và mối liên kết các ý tưởng âm nhạc theo logich kết hợp với sự tương phản giữa các chương nhằm tạo nên sự phong phú về hình tượng nghệ thuật và kịch tính âm nhạc sâu sắc.
Người sáng lập ra nghệ thuật giao hưởng cổ điển là nhạc sĩ thiên tài người Aáo Hayđơn, chính vì vậy ông được gọi là "cha đẻ của giao hưởng". Có thể nói, nghệ thuật giao hưởng đã tìm thấy đỉnh cao trong các tác phẩm của các nhạc sĩ thuộc trường phái âm nhạc cổ điển Viên (Hayđơn, Mozart, Betthoven). Các bản giao hưởng Es-dur (số 39), g-moll (số 40), C - dur (số 41) của Mozart là sự hiển diện của một năng lực sáng tạo huyền thoại. Giới âm nhạc gọi đó là "Sức mạnh Apôlông", "Sức mạnh quỷ thần", "... vượt lên trên khả năng của con người". Với các bản giao hưởng "Anh hùng ca" - số 3, "Định mệnh" - số 5, "Đồng quê" - số 6 và "Niềm vui" số 9, Betthoven đã làm nên kỳ tích trong lịch sử giao hưởng và mở ra bước ngoặt phát triển mới cho loại hình nghệ thuật này. Từ giao hưởng của ông, đã hình thành thể loại giao hưởng mang nội dung và tên gọi cụ thể được phát triển mạnh mẽ ở thế kỷ XIX, XX trong sự nghiệp sáng tạo của các thiên tài Schubert, Tchaikovsky, Berlioz, List, Debussy, Malher, Prokofiev và Shostakovic v.v...
Trong dòng nhạc hàn lâm của nước ta, nghệ thuật giao hưởng tuy còn non trẻ nhưng đã cống hiến cho nền âm nhạc của đất nước những tác phẩm đặc sắc như các giao hưởng "Quê hương Việt Nam" (Hoàng Việt), "Đồng Khởi" (Nguyễn Văn Thương), "Trăm sông đổ về biển đông" (Trần Ngọc Sương), "Rapdodie Việt Nam" (Đỗ Hồng Quân) v.v... mong rằng nghệ thuật giao hưởng của chúng ta ngày càng phát triển mạnh mẽ, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp âm nhạc và văn hóa của dân tộc.
kurtlove
31-08-2002, 12:30 PM
trùi. phê wá ha... kiểu này ông em phải mua mấy cái dĩa giao huỏng để nghe moi duoc.
Dartagnan
01-09-2002, 11:22 PM
Thử đi em, nghe vài lần phê lòi mắt luôn. Chẳng khác gì nghiền Rock ballad November Rain đâu. Anh nói thật đấy.
Anh khoái nhất Serenade của Schubert đấy. Nhưng nhớ nghe một mình, lúc nào cô đơn thôi nhá. Lúc vui mà nghe Serenade thì bằng chửi nhau đấy.
Mong anh Dartag nói rõ thêm về các loại hình của nhạc giao hưởng. Thú thật là về phần này em rất dốt. Nếu đc thì mong anh viết các từ bằng tiếng Anh, vì nhiều khi đọc từ tiếng Pháp cũng lẫn lộn.
Nghe giao hưởng một hai lần chẳng thể nào cảm đc hết. Mà có ai biết ở đâu có CD toàn bộ nhạc phẩm của các tác giả nhạc cổ điển không. Bây giờ toàn sản xuất ra các đoạn ngắn (pieces) nghe chả có đầu có đuôi gì cả, chán vật.
kurtlove
02-09-2002, 07:06 PM
hic,,, kiểu này thì mắt của em cận mất thui à, nghe rock dã phê lồi mất rùi, baay giờ nghe giao hưởng lại lòi mắt tiếp thì tội nghiệp cho em wá ,, hu hui hu hu.........
Tucurie
04-09-2002, 12:06 PM
Em nghe nói nghe nhạc giao hưởng,người ta có thể cảm nhận được cả tiếng hát của các cô gái,tiếng vó ngựa,tiếng của gió...........!Có phải không các bác?
Em khoái "March Turkey" +"for Elisa"!
Beethoven thì em nghe mãi mà chưa hiểu lắm!
Dartagnan
04-09-2002, 04:37 PM
OK, em AQ. Dart hứa lần sau sẽ post bài bằng các từ tiếng Anh theo yêu cầu của em. Thực ra Dart cũng không hiểu biết hơn em về các lĩnh vực này đâu (bài viết về Symphony ở trên cũng là từ báo Giáo dục và thời đại mà ra đấy chứ, làm sao tự Dart nghĩ ra được), nhưng Dart hứa sẽ tìm hiểu kỹ hơn để satisfy đề nghị của em.
Đúng là các CD chúng ta thấy trên thị trường băng đĩa ở VN bây giờ toàn là các trích đoạn như AQ nói. Tất nhiên là không thể hay như khi nghe toàn bộ được. Tuy nhiên, có một số bản nhạc có thể tách ra nghe riêng được mà không ảnh hưởng nhiều lắm. Chẳng han nhu: "The Four Seasons" của Vivaldi. Nếu em quan tâm, Dart sẽ post về ý nghĩa của từng Season của bản nhạc tuyệt vời này vào lần sau.
To em Tú: Cứ nghe nhiều và nếu có thể thì tìm hiểu thêm ý nghĩa của các bản nhạc em ạ. Dart tin là em sẽ thích Symphony ngay.
Còn Hành khúc Thổ Nhĩ Kỳ, Phiên chợ Ba Tư, Sonat Ánh trăng hay Thư gửi Elisa, Sóng Danub, Cô gái Ba lan... là những bản nhạc đã quá nổi tiếng rồi, có lẽ không cần bàn đến nhiều nữa. Dart không thích nghe symphony của VN lắm, không phải vì chuộng ngoại bài nội, mà có lẽ là do nghe Symphony quốc tế nhiều quá rồi :cry:
DivinoCodino
05-09-2002, 04:57 PM
Hic!Em gnhe mai mà chẳng hiểu nó nghĩa gì cả!Không biết là do khả năng cảm thụ nhạc giao hưởng của em kém hay em co trí tưởng tượng không phong phú?Hì!Chỉ nghe và thấy hay thế là cứ nghe thôi chứ chẳng biết nó có ý nghĩa gì nữa!Em cũng có đọc đâu đó thấy người ta bảo rằng trong nhạc cổ điển ta nghe thấy những bước chân đi dồn dập rồi những trời trăng gì đó!Hic!Không biết những cái đó có phải là ý của tác giả không hay là mấy ông bình luộn nói thế nữa!
Em thích For Elisa với khúc nhạc bốn mùa.À!Không phải ai cũng có vinh dự như em đâu nhé!Mọi người có biết đó là vinh dự gì không???Thưa đó chính là có cùng tên với một nhà soạn nhạc thiên tài Bach.Hì hì!
Dartagnan
05-09-2002, 06:10 PM
Có lẽ nhiều người thường nhầm classic music với nhạc giao hưởng. Thực tế không hẳn như vậy. Có thể xếp Symphony vào một trong những dòng nhạc cổ điển, nhưng không phải bất cứ loại nhạc cổ điển nào cũng đều là nhạc giao hưởng. Thậm chí còn có cả symphony-orchestra là một loại hình tương đối khác nữa.
Chính vì thế nếu nói For Elisa hay Romance... là nhạc giao hưởng thì không được chính xác cho lắm.
To em Bách: Không hiểu hoặc không cảm nhận được Symphony đối với chúng ta là một điều hết sức bình thường em ạ. Không phải là do trí tưởng tượng của em kém đâu. Mà là do chúng ta chưa nghe nhiều và chưa thực sự để tâm khi nghe thôi.
Hơn nữa, để hiểu được từng sắc thái trong mỗi biến tấu của Symphony lại đòi hỏi một trình độ hiểu biết nhạc lý nhất định. Chính vì thế mà Symphony tương đối kén chọn người nghe. Có thể nhiều người (trong đó có Dart) thích nghe symphony chỉ đơn giản bởi vì khi nghe loại nhạc này thường mang lại cảm xúc dễ chịu, êm ái và thư giãn chứ không hẳn là vì đã hiểu được những tầng ý nghĩa trong từng nốt thăng giáng. Nghe các bản guitar hay violon cổ điển cũng như thế thôi.
À, nhân tiện, em nghe thử A time for us (hay Romeo&Juillietta) bằng violon của André Rien bao giờ chưa? Nghe xong phê lun!
Dartagnan
17-09-2002, 01:29 PM
[b]Hồ thiên nga
Trong những năm 1875-1876 Tchaikovsky đã có dịp thử sức mình trong một thể loại âm nhạc mới đối với ông. Ban giám đốc các nhà hát Maxcơva đặt ông viết nhạc cho vở Ballet Swan Lake (Hồ thiên nga) - chủ đề dựa theo truyển cổ tích dân gian về lòng chung thủy.
Hoàng tử trẻ tuối Diphrit đi săn trong rừng bị lạc. Trên bờ hồ hoang vắng chàng trông thấy đàn thiên nga mà khi màn đêm buông xuống đã biến thành những cô gái. Đấy là công chúa Ôđetta và các bạn gái của nàng bị tên phù thuỷ độc ác Robarto mê hoặc. Ngay từ phút đầu tiên Diphrit đã yêu Odetta và thề sẽ chung thuỷ với nàng. Làm thế nào để phá huỷ bùa mê độc ác và trả lại cho em cùng các bạn của em hình dáng con người ? - Chàng hỏi Odetta - Hãy chung thuỷ với em, và bùa mê sẽ biến mất - Odetta trả lời.
Khi xuất hiện những tia sáng mặt trời đầu tiên, các cô gái lại biến thành bầy thiên nga, còn Diphrit trở về hoàng thành để xin phép mẹ cho cưới Odetta. Nhưng câu truyện về lời thề của đôi trai gái bị tên phù thuỷ Robarto biến thành con cú nghe trộm và quyết định ngăn cản Diphrit cứu thoát Odetta khỏi bùa mê. Trong hoàng thành đang là ngày hội. Các cô gái đẹp nhất và giàu có nhất từ khắp nơi đến dự. Theo lệnh của mẹ, Diphrit phải chọn vợ cho mình trong số những co gái đó. Giữ vững trong tim hình ảnh cô gái - thiên nga tuyệt đẹp Odetta, Diphrit lạnh nhạt đi giữa đám mỹ nữ. Nhưng bỗng ngoài cửa xuất hiện cô gái xinh đẹp Odinlia, con gái tên phù thuỷ. Robarto xảo quyệt đã biến mình hoàn toàn giống Odetta, Diphrit bị lừa, lại thề chung thủ mãi mãi với Ođinlia và đưa nàng đến trình với mẹ. Ngay khoảnh khắc đó ở ngoài cửa sổ vang lên tiếng kêu thảm thiết của Odetta thiên nga.. Robarto đang chiến thắng bị biến thành co cúm, còn Ođinlia xin đẹp cũng biến thành chim cú. Với những tiếng kêu man rợ và độc ác, chúng bay ra khỏi hoàng thành.
Diphrit kinh hoàng. Chàng đã thấy sai lầm của mình, và biết là đã phạm lời thề chung thuỷ. Trên bờ hồ cuộn sóng chàng gặp lại Odetta đang buồn bã. Bây giờ tất cả đối với nàng và các bạn nàng đã kết thúc. Khi bình minh lên học sẽ vĩnh viễn biến thành đàn thiên nga. Thất vọng Diphrit xé nát bộ lông thiên nga của Odetta. Sấm sét vang lên, nước hồ đang tràn bờ. Diphrit và Odetta bị chìm trong làn sóng cuồn cuộn của nước hồ.
Sau đó phần kết thúc ẩm đạm của balê được thay đổi: chính nhờ việc nhảy xuống làn sóng mà Diphrit và Odetta đã giải được bùa mê : Odetta và các bạn gái của nàng trở lại thành các cô gái và vở ballet kết thúc trong ngày hội huy hoàng.
Vở ballet được trình diễn ở nhà hát Bôn-sôi ngày 20/2/1877. Với Hồ thiên nga, 1 thời kỳ mới trong sự phát triển ballet của nước Nga bắt đầu. Trước đó ballet được coi như là 1 cảnh vui mà ở đó có thể thưởng thức tài nghệ của những người múa. Âm nhạc chỉ đóng vai trò thứ yếu. Đôi khi vở ballet được ghép bằng những đoạn nhạc múa của nhiều tác giả. Chưa ai nghĩ đến việc vở ballet có thể hoàn chỉnh chặt chẽ như 1 vở nhạc kịch hay vở kịch.
Tchaikovsky đã nghĩ 1 cách khác khi sáng tác ballet. Ông cố gắng diễn tả bằng âm nhạc nội dung của câu truyện cổ tích về những cô gái thiên nga. Những tiết mục múa riêng rẽ và những màn kịch câm được liên hệ khẳng khít với nhau, những hình ảnh âm nhạc được phát triển như trong nhạc giao hưởng. Chủ đề âm nhạc chính của balê thể hiện qua hình ảnh của Odetta : Fá----Sì-Đô-Rê-Mi-Fá--Rề-Fá--Rề-Fá--Sì-Rê-Sì-Sòn-Rế-Sì
Chủ đề này mang những sắc thái khác nhau phụ thuộc vào sự phatr triển của hành động. Mở đầu, khi Odetta lần đầu gặp mặt Diphrit và kể câu truyện của mình, âm nhạc vang lên một cách mềm mại và buồn. Trong lớp vũ hội, khi hoàng tử phạm lời thề chung thuỷ, âm nhạc mang tính chất đe doạ và bi kịch. Trong cảnh cuối Diphrit van xin Odetta tha lồi vô tình chàng mắc phải, âm nhạc vang lên ai oán, đầy xúc động.
CU9700
17-09-2002, 11:52 PM
Khâm phục anh Dart vì sự am hiểu vể nạch giao hưởng, em cũng thích nghe, nhưng chỉ nghe những bài đac quá quen thuộc với mọi người, bởi em thấy hay, còn đi sâu vào tìm hiểu thể loại này thì có lẽ phải hểu biết rộng và có thời gian, có sự đam mê thật sự.Cái này thì em chịu.
MinhKhánh
19-09-2002, 08:00 PM
Ý nghĩa của ngôn từ "giao hưởng" (symphonie) bắt ngờ uồn từ ngôn ngữ Hy Lạp - có nghĩa là hòa hợp âm hưởng. Qua quá trình lâu dài suy tưởng các thuật ngữ, "giao hưởng" được dùng để đặt cho các tác phẩm viết cho dàn nhạc giao hưởng ở các thành phần cấu trúc lớn nhỏ, đa dạng gồm có các đàn chính: đàn dây (viôlông, viôlôngxen, viôla, côngtrơbas), dàn kèn trong đó có kèn gỗ (fluýt, oboa, claninet, fagốt), kèn đồng (trompét, trombôn, cor, tube) và bộ gõ. Thể loại âm nhạc này bắt đầu hình thành từ những năm 30 thế kỷ XVIII, khi các khúc dạo đầu trong các vở opera ngày càng phát triển và mang tính độc lập, từ đó, giao hưởng như một thể loại âm nhạc độc lập đã ra đời.
Nói đến ý nghĩa và tầm quan trọng của giao hưởng trong âm nhạc người ta thường ví với kịch và tiểu thuyết trong văn học. Đó là hình thái cao nhất của nhạc đàn, trong đó bao hàm mọi ý tưởng âm nhạc với mọi khả năng biểu cảm phong phú và đa dạng ở bất kỳ nội dung nào từ chất trữ tình cho đến chất anh hùng ca, từ niềm lạc quan yêu đời cho đến nét bi thương thảm khốc. Đầu tiên, giao hưởng được sáng tác ở hình thức tổ khúc sonate gồm 3 chương theo phong cách trường phái Napoli - ý. Dần dần, qua quá trình phát triển, trong thành phần của tác phẩm giao hưởng bắt đầu có thêm khúc dạo đầu (của chương I) và menuett (một loại vũ điệu) đóng vai trò chương cuối của giao hưởng 3 chương. Sau đó, giao hưởng 4 chương được hình thành, trong đó chương cuối được sáng tác ở hình thức sonate hoặc rondo - sonate. Các chương chậm (chương II hoặc chương III) thường mang nội dung trữ tình biểu hiện sự tương phản với các chương còn lại. Tuy nhiên, trong quá trình phát triển đã hình thành nên nhiều tác phẩm giao hưởng ngoài quy luật kinh điển như giao hưởng từ 5 chương trở lên hoặc chỉ có 2 hoặc 1 chương duy nhất ví dụ như giao hưởng thơ (symphonie poème). Ngoài các tác phẩm chỉ dành cho dàn nhạc giao hưởng - thành phần chính, có nhiều tác phẩm giao hưởng còn kết hợp cả với lĩnh xướng và hợp xướng (như giao hưởng số 9 - "Niềm vui" của Betthoven) và đặc biệt phải kể đến giao hưởng kết hợp với nhạc cụ độc tấu (concerto - symphonie). Ngoài ra, thể loại âm nhạc này còn liên kết với các thể loại khác để tạo nên những tác phẩm mang hình tượng nghệ thuật tổng quát như: giao hưởng chiêu hồn, giao hưởng balê, giao hưởng thanh xướng kịch v.v... Điều quan trọng nhất trong giao hưởng, đó là sự phát triển và mối liên kết các ý tưởng âm nhạc theo logich kết hợp với sự tương phản giữa các chương nhằm tạo nên sự phong phú về hình tượng nghệ thuật và kịch tính âm nhạc sâu sắc.
Người sáng lập ra nghệ thuật giao hưởng cổ điển là nhạc sĩ thiên tài người Aáo Hayđơn, chính vì vậy ông được gọi là "cha đẻ của giao hưởng". Có thể nói, nghệ thuật giao hưởng đã tìm thấy đỉnh cao trong các tác phẩm của các nhạc sĩ thuộc trường phái âm nhạc cổ điển Viên (Hayđơn, Mozart, Betthoven). Các bản giao hưởng Es-dur (số 39), g-moll (số 40), C - dur (số 41) của Mozart là sự hiển diện của một năng lực sáng tạo huyền thoại. Giới âm nhạc gọi đó là "Sức mạnh Apôlông", "Sức mạnh quỷ thần", "... vượt lên trên khả năng của con người". Với các bản giao hưởng "Anh hùng ca" - số 3, "Định mệnh" - số 5, "Đồng quê" - số 6 và "Niềm vui" số 9, Betthoven đã làm nên kỳ tích trong lịch sử giao hưởng và mở ra bước ngoặt phát triển mới cho loại hình nghệ thuật này. Từ giao hưởng của ông, đã hình thành thể loại giao hưởng mang nội dung và tên gọi cụ thể được phát triển mạnh mẽ ở thế kỷ XIX, XX trong sự nghiệp sáng tạo của các thiên tài Schubert, Traicovsky, Berlioz, List, Debbussy, Maler, Prokofiev và Soxtakovic v.v...
Trong dòng nhạc hàn lâm của nước ta, nghệ thuật giao hưởng tuy còn non trẻ nhưng đã cống hiến cho nền âm nhạc của đất nước những tác phẩm đặc sắc như các giao hưởng "Quê hương Việt Nam" (Hoàng Việt), "Đồng Khởi" (Nguyễn Văn Thương), "Trăm sông đổ về biển đông" (Trần Ngọc Sương), "Rapdodie Việt Nam" (Đỗ Hồng Quân) v.v... mong rằng nghệ thuật giao hưởng của chúng ta ngày càng phát triển mạnh mẽ, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp âm nhạc và văn hóa của dân tộc.
(Giáo dục và Thời đại số 41/1998)