PDA

View Full Version : Talawas


talawas
28-06-2004, 11:40 PM
Phỏng vấn của talawas



Lê Minh Hà
Tôi vẫn muốn giữ cho mình khả năng ngớ ngẩn này


talawas: Thưa chị Lê Minh Hà, gần đây một số tác phẩm đã xuất bản ở bên ngoài của chị được in lại ở trong nước và tác phẩm sắp tới của chị sẽ in ở trong nước mà không in ở bên ngoài. Có thể coi chị là một sự hoà hợp may mắn giữa văn học Việt trong nước và văn học Việt ngoài nước không?

Lê Minh Hà (LMH): Tôi mới có một tập và một số bài báo in ở nhà. Còn tất cả chỉ là dự định. Mới thế mà đã may mắn trở thành một sự hòa hợp may mắn trong văn học Việt đương thời??? Tên tôi, tôi không nghĩ đã là quen thuộc trong sinh hoạt chữ nghĩa đối với đông đảo người đọc tại Việt Nam.

Không, viết ở nơi này được đọc ở nơi kia phải coi là sự thường và đã là sự thường trong sinh hoạt văn chương của chúng ta, nhất là trong điều kiện thông tin hiện nay. Dốt lâu khó đào tạo kĩ thuật như tôi mà còn nghiền đọc qua mạng đủ thứ cơ mà. Trước Lê Minh Hà đã có một Ðỗ Kh. với Kí sự đi Tây, một Nguyễn Mộng Giác với bộ tiểu thuyết đồ sộ Sông Côn mùa lũ, gần đây là Phạm Hải Anh được tìm đọc từ trong ra ngoài rồi lại từ ngoài vào trong, là Mai Ninh. Chưa có thống kê đầy đủ và đây là một danh sách mở. Khi những trường hợp này không được coi như hiện tượng thì mới có thể coi đó là may mắn cho sự phát triển của văn học Việt, không chia tách trong ngoài. Chung một ý nghĩa đó là việc tác giả trong nước được người Việt sinh sống bên ngoài quê hương đón nhận nồng nhiệt trong tinh thần lụy tiếng Việt, như Nguyễn Huy Thiệp của một thời, của Những ngọn gió Hua Tát, Những người thợ xẻ, Bài học nông thôn, Thương nhớ đồng quê... như Phạm Thị Hoài thời Thiên sứ, Mê lộ, như Nhật Tuấn với Ði về nơi hoang dã, như Bảo Ninh với Nỗi buồn chiến tranh, Phan Thị Vàng Anh và vân vân. Ðây cũng là một danh sách mở.

Ðã viết, đã cho in, không ai không mong có nhiều người tìm đọc. Việc có thể in ở đâu cũng được, và quan trọng hơn: việc được đọc, như một hình thức đối thoại ngầm của nghệ thuật chữ, ở cả trong lẫn ngoài nước sẽ là chuyện hiển nhiên của một nền văn học mà chúng ta mong muốn, phải không, và vào lúc này, có thể nói là may mắn của những người viết chăng?

talawas: Cái "sự thường" ấy đang là một thực tế phổ biến hay còn là ngoại lệ ít ỏi? Ðộ mở của cái "danh sách mở" ấy rộng đến đâu?

LMH:

Bắt đầu là ngoại lệ.
Sau đó là thực tế.
Tiếp diễn là hiển nhiên.

Ðường xa.

Có đường nào không xa trong sự trở lại với chính mình, càng không dễ nói trước điều gì khi minh là người Việt, của Việt Nam hiện nay. Nhưng có thể nói ngay rằng điều kiện mở của danh sách tác giả và tác phẩm trong nước được in và đọc ở ngoài nước dễ dàng hơn so với chiều ngược lại.

talawas: Vậy vì sao chị chọn cuộc sống ở ngoài nước, ở Ðức?

LMH: Sống ở đâu và viết ở đâu cũng nhất thiết phải là một câu hỏi ư? Một không gian địa lí để sống có lẽ không phải là một chọn lựa quan trọng lắm cho sự động đậy của một ngòi bút. Nhà tôi có những lí do riêng để chọn Ðức làm nơi cư trú cho cả gia đình, trong đó có một lí do liên quan đến vợ ông ấy: Khí hậu châu Âu thích hợp với sức khoẻ vốn cực kì ọp ẹp của tôi trong điều kiện mưa nắng quê nhà.

talawas: Chị không cho rằng môi trường sống có tác động đáng kể đến sáng tác ư?
LMH: À, nếu hiểu môi trường sống rộng hơn những điều kiện địa lí thì dĩ nhiên nó phải có tác động đến người viết. Một cách nào đó, thế nào điều kiện sống cũng sẽ để lại những vết cào trong cảm thức của người viết. Nhưng lực tác động của môi trường xúc cảm mạnh nhẹ thế nào lại phụ thuộc khá nhiều vào kinh nghiệm sống, học vấn cũng như kinh nghiệm nghệ thuật của chủ thể tiếp nhận. Sự hiểu của tôi cho thấy ở một số người viết, điều kiện sáng tác trên quê hương hay bên ngoài quê hương không để lại một dấu ấn nào trong trang viết ngoại trừ đề tài.

talawas: Trong bài viết gần đây về người Việt và văn học Việt ở Ðức, anh Nguyễn Văn Thọ-một tác giả cũng sống tại Ðức- thấy trong sáng tác của chị một "cuộc sống tha hương với nỗi đau nhức nhìn ngược về quê hương" và sự "chín dần sau những mùa đông dài lê thê ở xứ người"...

LMH: Tác phẩm văn học là một chỉnh thể, sẽ biến đổi khi được tiếp nhận từ những cấp độ đọc khác nhau của nhiều người đọc khác nhau. Trong điều kiện thông tin hiện nay, nếu một người Việt có định cưu mang một nỗi đau nhức nhìn ngược về quê hương thì không nhất thiết phải chuẩn bị cho mình một cuộc sống tha hương với những mùa đông dài lê thê ở xứ người. Với những điều kiện thể chất riêng, chính mùa đông đất Bắc với tôi mới gọi là dài. Sống bên ngoài quê hương, chúng ta có thêm điều kiện để thiết tha với quê hương mình trong những chiều kích mới. Hiểu chữ tha hương như là sự dịch chuyển kinh tuyến vĩ tuyến liệu có là đơn giản quá không nhỉ? Anh Nguyễn Văn Thọ là một người viết, sống trong những điều kiện địa lí như tôi hiện nay, nhưng tôi không nghĩ tôi chung với anh Thọ kinh nghiệm yêu thương cũng như kinh nghiệm nghệ thuật.

talawas: Việt Nam và Ðức tuy không có chung một chương sử thuộc địa hay chiến tranh, nhưng lại có những tương đồng đặc biệt: Ðều bị chia thành hai quốc gia theo thể chế chính trị khác nhau trong thời chiến tranh lạnh, và ngày nay đều đã thống nhất. Tại Việt Nam, Việt Nam Cộng Hoà (VNCH) chấm dứt năm 1975. Tại Ðức, Cộng Hoà Dân Chủ Ðức (CHDCD) chấm dứt năm 1989/1990. Nhưng trong cộng đồng Việt tại Ðức, dường như có một bộ phận không nhỏ vẫn tiếp tục sống trong VNCH và một bộ phận không nhỏ khác tiếp tục sống trong CHDCÐ. Chị quan hệ thế nào với cái di sản đó của lịch sử?

LMH: Chưa bao giờ tôi có mặt trong một đại nhạc hội, nơi mà nhiều đồng hương của chúng ta vẫn tìm được niềm vui chung dù ra đi từ Nam hay Bắc sau 1975 và khác nhau nhiều hơn nữa ngoài cái sự khác nhau về thời điểm đến Ðức này. Nhưng tôi từng rất vui ở những đêm nhạc đêm thơ, ở nhiều cuộc giao tình mà nhìn quanh chẳng mói thêm được một gương mặt nào sinh ra và lớn lên dưới mái trường xã hội chủ nghĩa như mình. Và ngược lại, như cá lội được về ao giữa những người có chung vui buồn tuổi nhỏ tuổi lớn, nơi này. Bè bạn của chúng tôi có người cho đến bây giờ vẫn còn nguyên đau khổ vì tháng tư đen, vì mất nước (Việt Nam Cộng Hoà) và khi làm khách ở nhà tôi, họ đã được mời thưởng thức giọng hát Quý Dương, Trung Kiên với những Ca ngợi Hồ Chủ Tịch, Bài ca Trường Sơn. Và ngược lại, tôi khuân sang tận Berlin tùy bút Võ Phiến cho bạn học cũ chưa có cơ hội đọc và cũng chả có ý định tìm đọc, bắt đọc và bắt nghe Ta làm gì cho hết nửa đời sau, Nghĩ đắt vô cùng giá tự do, Khi tôi chết hãy đưa tôi ra biển của Cao Tần, Thanh Nam, Du Tử Lê. Tại sao không? Khi đó là điều kiện để hiểu nhau! Cái gọi là di sản của lịch sử đó nó vẫn từng ngày tự biến qua từng cá nhân có khả năng phê phán khách quan. Anh Nguyễn Văn Thọ tác giả của bài viết về người Việt tại Ðức và vân vân vừa rồi đã từng qua điện thoại hỏi tôi địa chỉ các tạp chí văn hóa văn chương của người Việt ở ngoài nước và đề nghị tôi giới thiệu. Nói chung, tôi thoải mái là tôi giữa những cộng đồng nhỏ của người Việt nơi này, một khi có quan hệ. Và tôi nghĩ ai cũng thế thôi, nếu biết trọng mình và trọng nhau, thương mình và thương nhau. Khi làm quen rồi thân thiết với ai ở bên ngoài quê hương, chúng tôi không đặt trước cho mình điều kiện người đó từ miền đất Việt nào tới đây, với kinh nghiệm lịch sử nào. Nhưng dĩ nhiên, mọi mối giao tình đều có những điều kiện riêng mới trở thành thân thiết. Tôi đã học được nhiều điều từ trong quan hệ với nhiều người khác tôi về quan niệm, cá tính, kinh nghiệm sống trong quá khứ. Thu nhập lớn nhất từ đó là tập/ biết cảm thông và chấp nhận khác biệt ở nhau. Thế cho nên bây giờ, đôi khi, tôi đã thoáng nghĩ là trong thời mình, có lẽ chúng ta rồi cũng không cần chung sống mãi với di sản lịch sử này nữa. Nó sẽ trở thành đồ cổ, một thứ đồ cổ quý không phải vì là bằng chứng lịch sử một thời, mà vì hàm chứa bài học lịch sử với khả năng lay tỉnh không bao giờ cũ với người Việt.

talawas: Chị muốn nói đến bài học lịch sử nào?

LMH: Mỗi người sẽ rút ra bài học đó theo cách của mình, tiêu pha nó bằng vốn sống, bằng trí tuệ riêng. Mới đây, tôi có dịp xem hàng loạt phim phóng sự do nhà báo nước ngoài thực hiện về Việt Nam, Việt Nam của bốn mươi năm trước khi chiến tranh lan rộng, Việt Nam của thời hậu chiến. Những cuộc họp tổ ba người. Ca mổ dưới ánh đèn tạo bằng chuyển động của xe đạp. Sài Gòn váy ngắn áo dây và những bài đồng ca giữa vùng giải phóng. Những chiếc tàu đưa người vượt biển trông như thể được đóng bằng tôn nát. Hà Nội Sài Gòn chật ních người trang phục như sắp lên vũ trụ bây giờ. Phát khóc, tự hào và cay đắng. Là người Việt lụy tiếng Việt, lụy dưa cà mắm muối kiểu Việt, tôi vẫn muốn nhắc với mình rằng phải học trọng mình và thương mình, trọng nhau và thương nhau, như một cách thế tránh làm lại một lịch sử cũ. Thương nhau, nhưng đừng chỉ trên tinh thần bầu bí. Mà thôi, ở mỗi người viết, có ngẫm nghĩ gì thì thấu đáo chăng phải tìm trên trang viết. Tôi có đả động đến điều này ở một loạt truyện cổ viết lại, xin xem một đôi truyện như Tấm Cám, Gióng, hay An Dương Vương.

talawas: Làm lại một lịch sử nào đó bằng tình thương và trọng lẫn nhau, như thế liệu có phần hơi ngây thơ không?

LMH: Có thể lắm, nếu như sự biết - tôi nhấn mạnh chữ biết, nghĩa là phải học - thương và trọng mình, thương và trọng nhau không dẫn tới một sự biết mới: chấp nhận (và khoái chí vì) khác biệt. Nhưng ngay cả không như thế, tôi vẫn muốn giữ cho mình khả năng ngớ ngẩn này. Rõ là phải đặt tên mới cho sự ngây thơ trong trường hợp này phải không ạ?

talawas: Cuốn tiểu thuyết mà chị sắp xuất bản trong nước có tiếp tục mạch "truyện cổ viết lại" không? Có nguy cơ gì nếu đi tiếp mạch ấy?

LMH: Rồi có thể lại thấy phải cãi vã với mình trước một huyền thoại Việt nào đó trong một điều kiện cụ thể nào đó chăng? Ví như vừa rồi viết Gióng là nhân thư của cậu cháu ruột sinh viên, kể rằng một giảng viên trẻ ở trường Tổng hợp đã đoan chắc tôi sẽ viết lại câu chuyện này, vì đó là một câu chuyện đặt lại nhiều vấn đề trong thời ta đang sống. Cách suy luận huyền thoại của anh ấy - Nguyễn Xuân Thạch - rất thú vị. Tuy nhiên, tôi đã viết lại câu chuyện này theo cách cảm của tôi, khác hẳn. Cũng vì thế mà tôi chưa đóng mạch, nhưng cũng không định cắm cổ viết tiếp. Bản thảo mới cuả tôi không phải là giã sử.

Là bởi vì câu hỏi Có nguy cơ gì nếu đi tiếp mạch ấy cũng là câu tôi hỏi mình. Chẳng cứ mạch ấy mà mạch nào cũng đặt trước ta một nguy cơ. Tôi đã học được qua nghề giáo một điều: nói và viết hay mấy mà dai quá cũng thành lảm nhảm, và cần tập đổi chỗ với người nghe người đọc. Là người đọc của mình, tôi ngấy tôi rồi.

talawas: Trước khi viết văn chị là giáo viên Văn tại một trong những trường PTTH danh tiếng ở Hà Nội. Vì sao chỉ một việc bình thường như viết đúng ngữ pháp cũng là khó khăn, ngay cả với nhiều người đang hoạt động trong khu vực báo chí truyền thông và thậm chí với không ít nhà văn Việt Nam? Chương trình dạy Văn trong trường phổ thông đã thất bại chăng?

LMH: Phải nói lại: trước khi hiện diện như một người viết, chứ không phải là trước khi viết. Có thể có người rất thành công ở nhiều phương diện và đột nhiên lại nhận ra mình sẽ thành công tiếp trong nghệ thuật chữ. Tôi không có cái may mắn ấy bởi thực ra hì hục với văn chương từ bé. Mười mấy năm đi học, mỗi năm đến trường nhiều lắm được ba tháng, đọc liên miên rồi tập tễnh viết, chẳng sướng sao. Ra đời với nghề giáo, dạy chuyên văn Hà Nội Amsterdam, tôi phải kể thế để nói ngay rằng học trò trường tôi rất giỏi, giỏi trước khi là học trò của chúng tôi. Cho nên chưa bao giờ tôi phải băn khoăn về kết quả lao động của giới mình nếu không có hai năm dạy ở một trường trung học bình thường và không có những mùa chấm thi. Dĩ nhiên, ngành giáo dục đang có rất nhiều vấn đề, nói như cô bạn thân là quan chức của tôi mới gọi điện cho từ Thụy Sĩ, vấn đề có nghĩa là vấn đề, là khó khăn ấy mà. Nhưng vấn đề đó đâu phải mới phát sinh, tôi coi đó là hậu quả của một cách định hướng, yêu cầu, thẩm định mấy chục năm rồi ở Việt Nam, chẳng cứ trong một ngành, càng chẳng cứ trong phạm vi hẹp là dạy và học văn. Chúng ta hay thở dài nói tới chuyện dạy và học văn, khi đặt nó trong tương quan chất lượng với dạy và học toán học lí học hoá, những mũi nhọn trong công nghệ tuyển thi đại học. Thế nhưng nếu rà xét lại toàn bộ việc xây dựng và thực hiện chương trình của các bộ môn, như sử địa, như tin học, như kĩ thuật, nữ công, thể dục, đặc biệt là tin học, nữ công, thể dục thì... Có thể hình dung thế này không nhỉ: giáo dục quyết định tương lai xa và động chạm hiện tại gần của hầu hết mọi gia đình ở Việt Nam mình, lúc này giống như bộ phận đầu tiên văng ra khỏi một cỗ máy. Tuy nhiên, tôi không tuyệt vọng, khi nhớ rằng chúng ta đã toàn từ mái trường xã hội chủ nghĩa mà đi, khi nhận được thư của, ví dụ như con gái bạn tôi. Viết hay đến thế ở tuổi ấy thì xứng đáng là nỗi kinh hoàng của giáo viên văn. Nếu có điều gì làm tôi sợ, là áp lực dạy và học ở nhà mình hiện nay, là việc học trò bây giờ không còn một không gian thời gian nào ngẫm nghĩ hoặc để làm rỗng đầu một cách cần thiết bằng việc chơi, chơi thật sự. Nếu có điều gì làm tôi mong, là được đọc trên báo chí trong nước không phải chỉ những suy nghĩ tâm huyết và đầy trí tuệ mà là những quyết định đầu tư cải cách giáo dục một cách cụ thể như là bấy lâu nay tôi đọc được từng ngày trên báo chí Ðức bên này. Nói thật, tôi chán ngấy việc ở nhà mình người trí tuệ tâm huyết cứ phải nên chăng, còn người chịu trách nhiệm thì chỉ thấy phải, cần toàn việc trên trời.

Còn chuyện chỉ một việc bình thường như viết đúng ngữ pháp cũng là khó khăn, ngay cả với nhiều người đang hoạt động trong khu vực báo chí truyền thông và thậm chí với không ít nhà văn Việt Nam, tôi chỉ có một câu trả lời: tại sao những người chỉ một việc bình thường như viết đúng ngữ pháp cũng là khó khăn lại được thừa nhận là nhà văn hay nhà báo? Trả lời câu trả lời này của tôi e chúng ta lại phải vùng ra khỏi cái khuôn văn chương ta đang cố ép mình vào.

talawas: Từ hơn một tuần nay, độc giả tại Việt Nam không còn truy cập được trang talawas nữa và dư luận cho rằng talawas đã bị tường lửa...

LMH: Nghe kinh nhỉ, hai chữ tường lửa. Ai cũng biết rằng những hoạt động chính trị thì chưa chắc có văn hoá. Nhưng hoạt động văn hoá văn nghệ thì bao giờ cũng là biểu hiện của một thái độ chính trị, đi theo hay vỗ vai nhau cùng tiến thì tùy vị thế mà nghĩ. Mấy hôm nay theo dõi talawas, đọc được suy nghĩ nhiều chiều, tôi thích sự thẳng thừng của nhà văn Châu Diên khi bình về hạ sách này (chữ dùng của nhà thơ Dương Tường). Tôi cũng thú vị với phỏng đoán rằng có thể đây chỉ là đòn hạ độc của một ai đó khi thấy tên mình hiện diện trên talawas không gây ấn tượng như mình muốn. Chứ không à? Nếu chỉ một cán bút của một ai đó không thích thấy tên mình trên talawas nữa đủ làm xoay cả cái đầu văn hóa tư tưởng của chế độ nhà mình!

Thế talawas đã định vị lại mình chưa mà hỏi tôi câu này? talawas là báo trong luồng hay ngoài luồng? Các tác giả trong nước xét về mặt hành chính thì là người ngoài luồng hay trong luồng? Ta là ai? Thời nào con người công nhiên hỏi mình câu đó nếu xét lịch sử Việt Nam hiện đại? ta-là-was, ta là cái gì? Ngoài luồng trong luồng cùng thống nhất đặt mình trước câu hỏi này, xác lập mình trước câu hỏi này, điều ấy đã bao giờ được coi là chỉ dấu dương trong sự vận động của tâm trạng xã hội ở Việt Nam mình?

Bão xa thì chưa thật đáng ngại. Tôi là ngưòi rất quan tâm tới tin thời tiết, vì lí do sức khỏe.

talawas: Xin cảm ơn chị Lê Minh Hà.



--------------------------------------------------------------------------------
Lê Minh Hà sinh năm 1962 tại Hà Nội, tốt nghiệp khoa Ngữ Văn trường Đại học sư phạm 1 Hà Nội 1983, dạy học tại Hà Nội 1984-1994, hiện sống tại Limburg (Đức).

Tác phẩm: Trăng goá (Thanh Văn, California), Gió biếc (Văn Mới, California), Thương thế...ngày xưa (Văn Mới, California), Những giọt trầm (Quân Đội Nhân Dân, Hà Nội).

Cộng tác với các tạp chí Văn Học, Hợp Lưu, Văn (California), Diễn Đàn (Paris), Tia Sáng (Hà Nội)...


© 2004 talawas

talawas
30-06-2004, 02:43 PM
30/6

Đặng Thân




"Nhân tình như chỉ chương chương bạc"

Khổng Tử


1.

Gần đây có người bạn vong niên đưa cho tôi mấy tờ tạp chí Ngày Nay. Những cuộc tranh luận trên đó làm tôi bị ám ảnh vô cùng, vì tôi là người rất yêu thương nền văn học nước nhà và các nhà văn nhà thơ. Ám ảnh lắm.

Có một đêm tôi mơ. Giấc mơ lạ lắm. Tôi mơ thấy mình được đàm đạo với thần Văn Xương Đế Quân. Các vị thần quả là uyên bác tuyệt đỉnh. Chứng tỏ xưa kia Nguyễn Văn Siêu được phong Thần và Cao Bá Quát được phong Thánh thì đủ biết văn chương các Ngài phải phi phàm như thế nào. Chính Thần Siêu đã dựng Tháp Bút uy nghi và bệ vệ để làm biểu tượng cho cái sự học và nền văn chương nước nhà như người ta nói. Lạ là có một nhà Việt Nam học người Mỹ đã thắc mắc với tôi không biết bút gì mà trông cứ như hình sinh thực khí đàn ông. Chẳng biết ông ta hỏi đùa hay thật. Cũng không hiểu Thần Siêu thật hay đùa. Còn Thánh Quát thì đã kiêu khinh kinh liệt thẳng thắn bảo thơ ca của cái "Hội Nhà văn" đương thời do đích thân Hoàng Thượng làm "chủ tịch" như một cái thuyền chở nước mắm: "Câu thơ Thi Xã con thuyền Nghệ An". Khẩu khí của các bậc thánh thần thật kinh người, đến vua chúa còn chả coi ra gì.

Giữa giờ Tý tôi nghe văng vẳng tiếng Văn Xương Đế Quân thẽ thọt: "Có lời vì ý. Văn dĩ tải đạo. Trời sinh ra văn chương là để diễn đạt tư tưởng. Mà con người các ngươi chỉ là một cây sậy nhưng là một cây sậy có tư tưởng như các ông Tây bảo. Cũng như các người nói ngôn ngữ là vỏ của tư duy. Tư duy phong phú thì ngôn ngữ phải đa dạng mới truyền tải được. Vì thế mà văn chương và triết học Đông Tây kim cổ có đủ thứ chủ nghĩa, cũng để mong nói được hết ý mà thôi. Ý thì vô bờ, thời gian vô bến nên chẳng chủ nghĩa nào là tuyệt đích. Vì vậy những kẻ chỉ nói đi nói lại mãi được mỗi một "giọng", chưa kể lại còn cà lắp cà lăm ngọng líu ngọng lô thì ắt là tư duy thấp mạt và chẳng có một sợi tư tưởng nào, còn mong gì đem lại ánh sáng văn hóa cho ai".

Tôi bật hỏi chen ngang: "Vậy thưa Thần, ý mà vô bờ thì biết làm sao mà lĩnh hội?"

"Ý dù vô bờ nhưng cũng chỉ nằm trong dòng chảy của Duy Vãng, Duy Hiện và Duy Lai. Duy Vãng là nêu cái hay, cái đẹp, cái nên của thời xưa để cho thời nay làm theo. Như các ông Khổng, Mạnh và các đệ tử đã cố gắng làm chuyện ấy. Vì thế mà con người mới có Tứ Thư - Ngũ Kinh mà xem. Các người cũng xem việc này là hệ trọng nên mới "uống nước nhớ ngờ uồn" nhớ tới truyền thống và lịch sử. Nhưng nếu chỉ "chuyên môn hóa" mỗi cái việc ấy thì khác nào suốt ngày chỉ chăm chăm đào bới các bộ xương khô lên mà ngửi. Vì cái hồn của các cụ đã đi cả rồi, vả lại mỗi thời mỗi khác. Duy Hiện là hãy sống cho và vì từng khoảnh khắc này. Làm mọi điều có thể nhất cho nó. Như xưa kia Mặc Tử đã chủ trương, rồi Pháp Gia, rồi cả các ông Hiện sinh, Thực dụng nữa. Tuy trước mắt là được việc đấy mà vượt sao được vòng Nhân Quả. Duy Lai là bất chấp hoàn cảnh vượt lên phía trước vì một ngày mai tươi sáng. Như Phật Tổ Như Lai hay Karl Marx đã vẽ ra một viễn cảnh tuyệt đích cho con người đi tới, và con người cũng đã làm được biết bao chuyện trên con đường này. Phật thì lấy Tâm thẳng tiến theo trục tung của Tâm linh tới Niết Bàn, Marx thì dùng Trí theo trục hoành của Thời - Không Vật chất ba chiều mà tiến tới một Thế giới Đại đồng. Tất cả những bậc ấy đều là sứ giả của Trời. Con người có một cái rất hay gọi là cái Tâm, nó vừa cụ thể vừa mông lung, vừa trần tục vừa gần với Thượng Đế. Người ta yêu nhất cái gì hợp với Tâm mình, vì thế Lão - Trang với chủ trương "Thuận Tự nhiên" mà được bao đời lúc thì yêu công khai, khi thì phải yêu thầm nhớ vụng. Vì ai cũng muốn được sống bản nhiên."

"Thưa Thần, ý đã vậy thì nên dùng Lời thế nào cho "tới"?", tôi liền hỏi.

"Văn chương là để biểu đạt tư tưởng nên cái thứ Lời không có ý ắt là vô nghĩa, nên có người mới bảo đó là sản phẩm của những kẻ "’vô học’, chập cheng, hâm hấp và lưu manh". Muốn có tư tưởng phải đọc triết học. Văn không có triết là văn nhảm mà triết không có văn là triết khô. Nói Lời như thế nào thì cứ tự xét lòng mình thì rõ. Lòng người-lãng-mạn thì muốn được nghe những Lời bay bổng, bâng khuâng, đâu muốn nghe Lời thô trọc, thẳng thừng. Lòng người-thực-tế thì thích những Lời đi thẳng vào vấn đề, ý chính phải nằm ở ngay câu thứ nhất. Tuy nhiên, cũng có những người phải xài cái thứ lời "văn cục, văn hòn" thì mới thủng tai vì "màng nhĩ" hơi bị dày. Vì thế mà Văn chương có biết bao trường phái, thể loại và phương pháp để diễn tả cái tâm tưởng đa đoan của loài người: ngụ ngôn, trùng ngôn, cách ngôn; ẩn dụ, so sánh, điệp ngữ; Hiện thực, Lãng mạn, Tự nhiên; ấn tượng, Trừu tượng, Tượng trưng; Hiện đại, Hậu hiện đại, Siêu thực, Hiện thực Huyền bí,vv. Phức tạp thế mà người ta không "động khẩu" thì mới là lạ. Vả chăng Tư duy của con người cũng thực là "đa hệ". Ngày nay người ta chỉ quen với thứ tư duy Biện chứng logic, hợp lý mà quên đi rằng người xưa còn có các kiểu thức tư duy khác như Duy tâm chủ quan, Duy tâm khách quan, Tư duy trực giác, rồi Hướng nội, Hướng ngoại,vv. Có Lời là vì ý nên cũng nên sáng tạo ra được cách để "tới" được ý của người, nhưng được ý hãy quên Lời."

Dứt lời, Thần tặng tôi một cây bút máy tuyệt đẹp màu đỏ tím thật vi diệu.


2.

Tỉnh giấc mộng "Du tiên kinh quốc quá Dương Châu" tôi bèn ngồi dậy lấy giấy bút, mạo muội viết những dòng này cốt được tỏ tấm lòng yêu quý các nhà văn, nhà thơ của một kẻ xa lạ. Trong những giấc mơ tôi được nghe rất nhiều điều nên đầu óc tôi ù đặc cái hiểu cái không, điều nhớ điều quên. Tuy nhiên tôi cũng có được một nhận thức riêng xin được kể ra đây. Đó là bất luận văn chương thế nào thì cũng phải đạt tới chữ "sướng", phải thăng hoa.

Trước hết là về tác giả của Trò chuyện với hoa thủy tiên và những nhầm lẫn của nhà văn: Anh thật lận đận vì làm gì cũng bị người ta "có ý kiến" ầm ĩ. Đó phải chăng là định mệnh của văn tài? Nhưng chính những sự kiện đó như những hạt cát làm con trai đau mà kết ngọc. Tôi thấy phần lớn những người yêu anh và ủng hộ anh đều là những người có kiến văn rộng rãi. Văn anh đạt tới chữ "sướng" vì hội tụ đủ tính lãng mạn, chất thực tế và cả "văn cục, văn hòn" của một ngòi bút thâm trầm mà đạt độ bản nhiên. Thế mới thành chuyện. Vì văn anh thâm trầm mà người ta thường là nông nổi. Vì những nhà làm văn học kiểu mô phạm thấy những đền đài miếu mạo sơn son thếp vàng của họ có nguy cơ bị xâm phạm vì bị dính "cục, hòn". Vì dàn hợp xướng có quá nhiều "Đông Quách tiên sinh". Văn anh nhiều ý mà cũng nhiều Lời với đủ các phong cách đến mức có người phải thốt lên "Văn chương đến thế thì thôi!". Nhưng, thú thực là đọc văn anh tôi có cảm tưởng như cảnh một gia đình có thằng con độc vậy, mọi người thường phải lo lắng vì có thể "đứt phim" bất cứ lúc nào. Cụ già cho tôi mượn mấy tờ Ngày nay thì bảo: "Văn ông Thiệp có cái gì đó không lối thoát vì khí độ mãi không mất được vẻ hằn học, chẳng hiểu ông ấy đắp tượng Phật trong nhà để làm gì?" Tôi bỗng thấy buồn cười cho cái hình ảnh của Phật trong tâm trí khá đông người. Ngài là biểu tượng của "từ bi hỷ xả", của "chí nhân, chí thiện". Nhưng, theo chuẩn mực của người đời thì chưa chắc đức Đại Hùng Thị đã đủ dũng cảm để nhận những lời xưng tụng ấy. Còn về thơ thì tôi chưa được đọc bài thơ nào anh viết riêng nhưng các truyện ngắn của anh đều có thơ. Theo tôi đó là một thành tựu tuyệt vời trong thơ ca. Thơ anh là Thơ ý. Có Lời là vì ý, được ý là quên Lời, thật "sướng".

Không kể những bài trả lời phỏng vấn thì có thể nói đây là lần đầu tiên anh trình bày quan điểm cụ thể của mình. Thực tình đó là một bài viết đầy tâm huyết mong muốn cải cách nền văn học nước nhà. Những ý kiến của anh về một thế hệ mới của các nhà văn chuyên nghiệp là xác đáng. Những người đại diện cho tiếng nói và văn hóa dân tộc cần phải có kiến thức, phải được đào tạo và cung cấp mọi hiểu biết cao nhất về văn hóa dân tộc và văn hóa thế giới, nếu không thì bao nhiêu thế hệ độc giả nữa còn phải chịu đựng những cơn bão lụt chữ nhạt nhẽo ẩm ương vô hồn và đầy khí độ sỹ diện hão. Thật tội nghiệp cho độc giả, nhất là các thế hệ con cháu non nớt đầu óc như tờ giấy trắng. Nhưng đây cũng thể hiện sự đáng thương của anh, vì anh chỉ làm văn chứ đâu làm nhà quản lý. Công cuộc cải cách chủ yếu nằm trong tay họ. Anh đáng thương vì bất lực như chính lời anh viết trong một truyện ngắn khi mượn lời một ông vua mà bảo rằng các kẻ sỹ "toàn bọn ốm o giòi chồ" và "rặt một lũ bất đắc chí" cả. Cho nên nhiều nhà đạo đức, nhà mô phạm và bao văn nhân lịch lãm đã phải nghe thứ "văn cục" của anh. Hình như vấn đề cốt tử là các anh và tất cả mọi người phải tập trung năng lượng để cùng nhau làm gì ngay từ lúc này cho nền Văn học nước nhà. Bây giờ tôi không phải đang nằm mơ mà là đang mơ ước tới một ngày dân tộc ta có một nền Văn học tràn trề sinh lực của thời đại với một thân thể có đủ mọi tế bào của Văn chương thế giới.

Về tác giả bài Có thật đa số các nhà văn Việt Nam đều vô học, các nhà thơ đều lưu manh hay là "hội chứng chửi có thưởng" thời nay?: Văn của anh thật cuốn hút người ta vì anh viết như lên đồng. Lời của anh đầy nhiệt huyết, kiến thức của anh thật mênh mông. Chính cái chất bốc đồng như của anh đã làm nên bao văn tài thế giới ở khắp năm châu. Nhưng cái phản ứng của anh trong bài viết xem chừng mãnh liệt quá làm cho người ta dễ liên tưởng tới câu "Có tật giật mình". Có người kể chuyện anh sang Mỹ đọc thơ có câu đại loại: Tôi muốn mình là "cái ấy" làm tình với trời xanh, làm tôi nhớ tới thời gian cách đây hơn chục năm đổ lại ở ta có một trào lưu làm thơ kiểu "Chủ nghĩa Hiện đại". Các nhà thơ đó đã đưa ra đủ các hình tượng ngôn từ kiểu "lông lá, tinh dịch, giao hợp,..." và đã nhận được những phản ứng dữ dội. Có Lời là vì ý, vấn đề là những câu chữ ấy có ý nghĩa gì hay ho và có tư tưởng gì không. Tôi nhớ James Joyce và Henry Miller cũng thậm tục, tục đến mức những đất nước sinh ra họ lúc đầu không dám in văn họ. Thế mà sau này trong top ten mười tiểu thuyết hay nhất thế giới thế kỷ XX có tới ba cuốn của James Joyce đứng thứ hạng lần lượt là 1, 3, 6. Còn "cái ấy" trong văn Henry Miller phải xuất hiện cỡ dăm ba lần trong một trang! Thế mà ông được triết gia nổi tiếng thế kỷ XX Krisnamurti phong là một trong vài Thánh văn hiếm hoi của loài người. Gần đây Thư viện Thi ca quốc tế và Nhà xuất bản Watermark bên Mỹ có in bài thơ nghe cũng rất "lông lá" của một tác giả Việt Nam trong tuyển tập Những chân dung bất tử:

Cú Hýc Về ngờ uồn


Nhớ thuở
Lông chân

lý còn
lún phún
Mà nay

rậm rì

cả một
"tiếu" lâm
Nhổ tận rễ

rồi sao

vẫn mọc
Gốc ở

đây à
gốc ở đâu

Có một nhà hiền triết phương Đông ngồi suy ngẫm về cội ngờ uồn vũ trụ
Câu trả lời đã bật ra trong cơn đau khi Ngài nhổ một sợi lông chân
Cao hứng Ngài hát vang bài ca Huyền học trên đây với những lời mịt mù
Vạn Vật sinh ra từ Hư Vô, cả hai tạo thành một cặp vĩnh hằng trong cõi "toàn chân"

Quả thật là "lông lá tít mù", "di - mộng tinh" hay "mông to vú nở - phong nhũ phì đồn" mà đạt được đến "cực khoái" hoàn mỹ của ý thì là thánh thần, là "Báu vật của đời" đấy chứ. Tuy vậy, như trong ngành y thì thuốc độc và ma túy dù trị bệnh hiểm nghèo cực hiệu nghiệm nhưng không phải bác sỹ nào cũng dùng được đâu, có phải không các bác?

Về dịch giả kiêm nhà thơ Dương Tường: đọc truyện anh dịch thì "sướng" như bản gốc. "Phông" của anh rất dày, ngôn từ anh dùng thật tinh vi và chuẩn xác, xứng đáng là tấm gương sáng chói cho giới ngoại ngữ và dịch thuật. Vừa qua anh có bảo: "Thực ra cỡ như Thiệp ở Úc, Mỹ, Nhật, Pháp... cũng có thể... vơ hàng tá!...". Ô hay! Sao anh lại quên "Mọi so sánh đều khập khiễng!", sao lại đem Thiệp của Việt Nam đặt sang các nước khác hay là đem một ông Tây hay Tàu nào đó đặt vào Việt Nam mà xem xét được nhỉ. Trời cho được làm hoa thì cây nào nở hoa ấy. Đã là hoa thì phải đẹp rồi, nào ai dám bảo hoa Từ Vi Phạm lợn là xấu hay hoa hồng là đẹp nhất. Chỉ có cố nở ra thứ hoa không phải của mình mới là bất hạnh hay bi kịch mà thôi.

Về cái số đông trong Hội Nhà văn: Những người mà anh Thiệp gọi là "già nua không có khả năng sáng tạo và hầu hết đều "vô học", tự phát mà thành danh", là "những người chỉ dựa vào "cảm hứng" để tùy tiện viết ra những lời lẽ du dương phù phiếm vô nghĩa nhìn chung là lăng nhăng", là "vứt đi cả" hay là "một thứ nhìn chung chỉ là nhăng nhít, hữu danh vô thực, chẳng ai muốn dây vào... , đồng nghĩa với sự chập cheng, hâm hấp, quá khích, vớ vẩn, thậm chí còn lưu manh nữa"; Dương Tường thì bảo là "dốt quá. Không chịu học, không chịu đọc, lại mang cái bệnh ếch ngồi đáy giếng". Thực ra số đông đến đây đa phần là bất đắc dĩ, do hoàn cảnh xô đẩy, do thời cuộc sắp đặt. Vì cái danh "nhà văn", "nhà thơ" ở ta oai quá. Vì thể chế của các hội đều "nhiều cửa" lại chả có ba rem gì thật quy chuẩn, tạo cho người ta suy nghĩ là cứ cố là vào được. Tôi đã gặp một nhà thơ hội viên chính thức mà tác phẩm chỉ toàn loại "xuất bản" thường kỳ trên báo tường cơ quan và ngành, rồi tập hợp lại in thành "tuyển tập". Thực sự phải cảm ơn các anh mới phải. Giả thử nếu không có 800 cục bùn thì 200 cây sen làm sao mà mọc. Cứ thử dọn hết bùn đi xem có còn sen không? Nếu không có cái "phù phiếm, vô nghĩa, lăng nhăng" thì lấy gì để người ta biết tới cái nào là "trầm trọng, ý nghĩa, cao sang" đây? Các anh đã tình nguyện làm vật hy sinh, là con tốt đen, là phông nền cho các danh sỹ. Thật đáng thương! Mà có bao người đoạt Nobel nhờ cái lối viết "phù phiếm,vô nghĩa, lăng nhăng" đấy chứ. Không tin thì quý vị cứ tìm đọc Camus, Proust, Sartre, Whitman hay Henry Miller mà xem. Họ còn sính và sản xuất ra đầy những chuyện thậm lăng nhăng và vô nghĩa ấy chứ. Bất công!


3.

Thưa các anh, tôi yêu tất cả các anh!

Tất cả phải cùng nhau bắt tay ngay vào làm gì đi chứ. Tôi là người rất tin vào sức mạnh tập thể. Tôi đang mơ ước tới một ngày rất gần đây thôi dân tộc ta có một nền văn học tràn trề sinh lực của thời đại với một thân thể lành mạnh có đủ mọi tế bào của văn chương thế giới. Tôi tin chắc như thế vì tôi nhớ tới vế còn lại của Lời Khổng Tử trên kia - "Thế sự như kỳ cục cục tân" (nghĩa là: thế sự như bàn cờ luôn đổi mới không ngừng!). Thế nên tôi xin ngừng lời ở đây kẻo Lão Tử lại hiện lên mà rằng "Biện giả bất thiện" (Người ưa tranh biện không thể đạt tới hoàn thiện).

Hà Nội 19/04/04

© 2004 talawas

talawas
30-06-2004, 02:44 PM
Trịnh Thanh Thủy
Âm nhạc hải ngoại: Đi cho biết đó biết đây


Chiều chủ nhật nhân lúc rảnh, tôi lấy CD Người con gái trong tranh của Hoàng Thị Bích Ngọc ra nghe lại. Say sưa với những ca từ đẹp và nhẹ như tơ uốn lượn bềnh bồng trên cung điệu réo rắt của Violin, tôi thấy mình chơi vơi trong lòng chảo âm sắc độc đáo đầy tính sáng tạo trong lối hoà âm và phối khí của Duy Cường.

Tôi cảm thấy mình giàu có và hạnh phúc. Hạnh phúc vì được nghe một CD hay. Giàu có vì có cơ hội được thưởng thức bức hoạ lập thể đa sắc, đa hình, đa văn hoá của âm nhạc Việt Nam hải ngoại.

Tôi chợt liên tưởng tới nhạc sĩ Quốc Bảo (QB) với bài viết Nhạc sĩ Quốc Bảo nói về nhạc hải ngoại được đăng ngày 24/5/2004 trên VnExpress, tôi thấy mình sung sướng hơn nhạc sĩ QB vì trong bao màu sắc tươi đẹp khác nhau ông chỉ nhìn được màu đỏ chói lọi trong một vài sản phẩm âm nhạc có tính cách thương mại của chương trình Thúy Nga Paris trên bức tranh đa dạng, đa sắc, đa văn hoá âm nhạc hải ngoại. Chắc có lẽ nhạc sĩ Quốc Bảo chưa từng sống ở hải ngoại hay tiếp xúc nhiều với các nhạc sĩ cũng như giới thưởng ngoạn âm nhạc hải ngoại nên ông mới có cái nhìn về nhạc sĩ và âm nhạc hải ngoại như trong bài viết trên.

Những gì bên ngoài Việt Nam là hải ngoạị. Hải ngoại bao gồm nhiều nơi trên thế giới hiện người Việt tị nạn đang sinh sống. Vì tính quá bao quát của địa dư nên các nhạc sĩ ở rải rác khắp nơi trên thế giới, mỗi người hùng cứ một phương. Gom họ lại để làm thống kê cũng khó như việc biết đến tên tuổi của họ vậy.

Ngồi ôn lại ký ức thư viện âm nhạc hải ngoại của mình, tôi thấy mình may mắn và ước gì QB có được cái may mắn ấy. Tôi hãnh diện về thư viện âm nhạc hải ngoại vì nó phong phú và đầy ắp. Đầy ắp sản phẩm âm nhạc với hàng ngàn băng nhựa, đĩa CD, vi do nhiều nhạc sĩ từ khắp mọi nơi sáng tác và đóng góp. Tôi vui vì sau gần ba mươi năm xa xứ người Việt vẫn bảo tồn và phát huy được một nền âm nhạc hải ngoại đa dạng, đa văn hoá. Đa dạng vì nó kết hợp nhiều dòng (luồng) âm nhạc khác nhau. Đa văn hoá vì mỗi nhạc sĩ sinh sống ở mỗi nơi khác nhau không những chịu ảnh hưởng văn hoá gốc của mình còn thấm nhuần văn hoá địa phương mình sinh sống nên không ít thì nhiều đứa con nghệ thuật của họ cũng có tinh thần đa văn hoá. Tinh thần này cũng phù hợp với đường lối tư duy hậu hiện đại (post-modernism) của tiến trình toàn cầu hoá âm nhạc đang phát triển trên thế giới. Nghĩa là âm nhạc thế giới sẽ trở thành một thế giới đa văn hoá mở rộng cho các quốc gia, mọi dân tộc đến với nhau để trao đối, học hỏi, thâu thái những cái đặc thù của nhau mà không ai phải từ bỏ cái “gốc” của mình.

Tôi có đọc một bài tổng kết bằng Anh ngữ rất công phu và đầy đủ về âm nhạc và đời sống âm nhạc hải ngoại sau năm 1975 của nhạc sĩ Trần Quang Hải. Dựa theo tài liệu trên, tôi có thể tạm chia nền âm nhạc hải ngoại sau 1975 làm 3 dòng chính: nhạc cổ truyền, nhạc cổ điển & cận đại Tây phương và tân nhạc.


Nhạc cổ truyền:
Bao gồm nhạc cổ truyền và cải lương. Nhạc cổ truyền hải ngoại tuy không được giới trẻ ưa chuộng nhiều nhưng vẫn được gìn giữ và tiếp tục trình diễn đến ngày nay vì nhu cầu bảo tồn bản sắc văn hoá đặc thù Việt Nam. Nhạc sĩ trình diễn và sáng tác (Musicians and Composers): Trần Quang Hải, Nguyễn Thuyết Phong, Nguyễn Đình Nghĩa, Lữ Liên, Quỳnh Hạnh, Ngọc Dung, Phương Oanh, Phạm Đức Thành, Khắc Chí, v.v.


Nhạc cận đại Tây phương (Western Contemporary Music)và nhạc cổ điển Tây phương (Classical Music):

Có thể nói dòng nhạc này mới bắt đầu phát triển nhưng cũng có sức thu hút người Việt rất mạnh. Nhạc sĩ trình diễn và sáng tác: Nguyễn Văn Tường , Nguyễn Thiện Đạo, Tôn Thất Tiết, Trương Tăng, Trần Quang Hải, Cung Tiến, Hoàng Ngọc-Tuấn, Phạm Quang Tuấn, Trụ Vũ, Hồ Đăng Long, Vũ Nhật Tân, Nguyễn Mạnh Cường, Lê Tuấn Hùng, Đặng Kim Hiền, Phan Quang Phục, Trinh Bạch, Nguyên Lê (jazz), Duy Cường, Vũ Cường, Trần Chúc (Ca Đoàn Ngàn Khơi), Lê Văn Khoa (Hội Hiếu Nhạc Việt Mỹ -The Vietnamese American Philharmonic Association), Đặng Huy Hoàng, Lưu Trọng Đạt, Huỳnh Hữu Đoan, Đỗ Thu Giang, Đỗ Quân Phong, Đặng Thái Sơn, Vũ Tôn Bình, Nghiêm Phú Phi, v.v.


Tân nhạc:

Có thể nói đây là dòng chính của âm nhạc hải ngoại vì nó đa dạng, được yêu chuộng và phát triển mạnh mẽ. Chúng ta có thể phân nó ra những dòng phụ:


Nhạc hoài hương: dòng nhạc mang tâm trạng luyến tiếc quá khứ, nhớ nhung quê hương. Nhạc sĩ sáng tác: Nam Lộc, Nguyễn Đình Toàn, Phạm Duy, Trầm Tử Thiêng (từ trần năm 2000), Song Ngọc, Lam Phương, v.v.


Ngục Ca: Nói về những người tù cải tạo. Nhạc sĩ trình diễn và sáng tác: Phạm Duy (phổ thơ Nguyễn Chí Thiện), Hà Thúc Sinh, v.v.


Bi Ca: khóc thương cho thảm kịch đớn đau cùng cực của người vượt biển tìm tự do, xót xa cho những thân phận Việt Nam tha phương tị nạn. Nhạc sĩ sáng tác: Việt Dzũng, Nguyệt Ánh, Phạm Duy, v.v.


Hưng Ca, Du Ca và Dân Ca: dòng nhạc đối kháng, phục hưng đất nước, nói lên hiện thực đời sống và nỗi khát khao cùng lý tưởng của tuổi trẻ hải ngoại. Nhạc sĩ sáng tác: Phạm Duy, Hà Thúc Sinh, Việt Dzũng, Nguyệt Ánh, Phan Văn Hưng, Châu Đình An, Khúc Lan, Nguyễn Đức Quang, Nguyễn Hữu Nghĩa, Phan Ni Tấn, Nguyễn Công Anh, Phan Kiên, Nguyễn Quyết Thắng, Trần Đình Quân, Nguyễn Văn Thành, v.v.


Dòng nhạc “new wave” và nhạc phim bộ Trung Hoa. Nhạc được sáng tác theo thể điệu “new wave” và phim bộ Hồng Kông, Đài Loan.


Nhạc tiền chiến. Sự tái sinh của dòng nhạc tiền chiến làm sống lại một thời đại Sài Gòn vang bóng.


Nhạc Tình ca: Đây là giòng nhạc phong phú nhất nói về tình yêu. Nhạc sĩ trình diễn và sáng tác: những nhạc sĩ đã từ trần như Phạm Đình Chương (1993), Trần Văn Trạch (1994), Hoàng Trọng (1998), Văn Phụng (1999), Lê Uyên Phương (1999), Ngọc Bích (2001), Hoàng Thi Thơ (2001), Nhật Bằng (2004), Duy Khánh (2003), Vô Thường (2003), mdtt, Xuân Lôi, Xuân Tiên, Lương Ngọc Châu, Phạm Duy, Đan Thọ, Vân Sơn Trường, Lê Mộng Nguyên, Lê Dinh, Vũ Thành An, Cung Tiến, Trần Quang Hải, Ngô Thụy Miên, Từ Công Phụng, Võ Tá Hân, Trần Quảng Nam, Trịnh Nam Sơn, Tùng Giang, Vũ Đức Nghiêm, Nhật Vũ, Phạm Anh Dũng, Nguyên Bích, Hoàng Việt Khanh, Nguyễn Phước Nguyên, Tạ Văn Phước, Nguyễn Hiếu Anh, Như Thu Nguyên, Mai Đức Vinh, Mai Anh Việt, Mai Anh Tuấn, Bảo Trâm, Nguyên Chương, Hoàng Quốc Bảo, Hoàng Vỹ, Hoàng Kim Chi, Nguyễn Thiện Doãn, Lê Văn Thành, Vũ Hữu Toàn, Cát Biển, Lê Xuân Hân, Mỹ Ngọc, Lê Tín Hương, Nguyên Nhu, Nguyễn Trọng Khôi, Nguyễn Tuấn Phước, Trần Duy Việt, Linh Phương, Nhật Trung, Hoàng Trọng Thụy, Trọng Nghĩa, Quách Vĩnh Thiên, Trang Thanh Trúc, Linh Chi, Vũ Thái Hòa, Nguyễn Minh Châu, Mộng Trang, Nguyễn Linh Quang, Lê Như Quốc Khánh, Duy Thiện, Hàn Lệ Nhân, Ngô Minh Khánh, Lê Khắc Thanh Hoài, Jazzy Dạ Lam, Quách Nam Dung, Phan Văn Hưng, Nguyên Chương, Trần Duy Đức, Trần Thụy Minh, Minh Thao, Anh Tú, Ian Bùi, Nguyễn Tiến Dũng, Thơ Thơ, Nguyễn Công Hùng, v.v.


Nhạc Pop: bao gồm Pop ngoại quốc và Việt. Theo định nghĩa, cũng như cái tên gọi, Pop được viết tắt từ chữ “popular”, tức là phổ thông, đại chúng, được nhiều người biết đến. Giới trẻ đặc biệt ưa chuộng loại nhạc này. Đặc tính của nó là giản dị, dễ nghe, dễ nhớ, theo thị hiếu của đại chúng, và nhạc cụ làm nền phần lớn là synthesizer. Người thưởng ngoạn thường chỉ chú ý đến phong cách trình diễn, quần áo, lối nhảy và vẻ đẹp của ca sĩ hơn là giai điệu và ca từ của nhạc Pop. Nhạc sĩ sáng tác trình diễn: Nhóm ASIA4, nhóm Heart2, Hevin và Kristine Sa, Sỹ Đan, Tú Minh, Vũ Tuấn Đức, Trúc Hồ, Trúc Sinh, Trọng Nghĩa, Đức Huy, Trịnh Nam Sơn, Diệu Hương, v.v.

Trong bài viết của nhạc sĩ QB, ông có nhắc đến nhạc trẻ và các nhạc sĩ trẻ hải ngoạị. Nhạc trẻ là một khái niệm khá mơ hồ. Nhạc trẻ và nhạc sĩ trẻ cũng như thơ trẻ và thi sĩ trẻ, dường như cách gọi này chỉ có ở Việt Nam. Ở hải ngoại người ta chia âm nhạc thành từng dòng và các nhạc sĩ đi chung với dòng nhạc đó chứ ít khi nào họ chia theo cái mốc thời gian của người thưởng ngoạn tỷ như cái nghĩa nhạc trẻ dành cho giới trẻ nghe. Tôi không nên lan man thêm về từ “nhạc trẻ” rồi bàn luận dài dòng cách dùng từ này đúng hay sai mà có lẽ nên chấp nhận một giải thích tương đối như "nhạc trẻ" như một phong cách, một dòng nhạc, hoàn toàn không có nghĩa là nó còn trẻ hay chỉ dành cho giới trẻ. Nó chỉ có ý nghĩa phân biệt với các dòng nhạc như nhạc cổ truyền hay nhạc cận đại Tây phương.

Vì vậy tôi xin xếp hạng và đồng hoá nó với nhạc Pop vì những đặc tính chung của nhạc trẻ giống như nhạc Pop.

Vậy nhạc sĩ trẻ? Họ là ai? Tôi đoán, chắc QB muốn nói đến những người trẻ khoảng dưới bốn mươi, viết, sáng tác và trình diễn nhạc trẻ.

Những người vào lứa tuổi hai mươi, phần lớn sinh ra và lớn lên ở hải ngoại. Họ nói và sử dụng ngôn ngữ nơi họ đang sống là ngôn ngữ chính và tiếng Việt biến thành ngôn ngữ phụ. Tiếng Việt đối với họ là một thử thách lâu dài. Nhưng không phải nói như thế là tất cả lớp người trẻ sinh ra tại hải ngoại đều có vốn liếng Việt ngữ nghèo nàn. Cũng có người đọc và viết tiếng Việt rất lưu loát. Phần còn lại ngoài hai mươi hoặc trên một chút đều rành rẽ tiếng Việt nhất là những người mới sang định cư sau này.

Viết, trình diễn và sáng tác nhạc Việt là sự chọn lựa riêng của từng người. Có nhiều nhạc sĩ bước hẳn vào dòng chính âm nhạc Âu Mỹ như nhóm Heart2Exit sáng tác và trình diễn nhạc hip hop, R&B, ballad, rap, soul, and a twist of heart với sự pha trộn nhạc cụ và văn hoá Việt Nam. Nhóm ASIA4 cũng vậy, họ viết cả nhạc pop Mỹ và Việt trình diễn ở Mỹ và cả Á Châụ.

Tại Canada có Hevin và Kristine Sa, vũ, viết và trình diễn nhạc pop ở Hoa Kỳ, Canada, Taiwan, Australia và The UK. Họ quan niệm bước hẳn vào dòng chính âm nhạc Âu Mỹ là một cơ hội cho người Việt bước hẳn vào thị trường âm nhạc quốc tế. Họ ước mơ sau khi thành công họ sẽ viết cả nhạc Việt khi có cơ hộị. Tất cả đều thừa nhận văn hoá Việt Nam có ảnh hưởng trực tiếp trong những sáng tác của họ.

Một số nhạc sĩ bước vào dòng nhạc cận đại Tây Phương, rất thành công và nổi tiếng như Phan Quang Phục đã đoạt giải âm nhạc The Prize of Rome năm 1988. Anh đã được xem như một trong 6 nhạc sĩ trẻ sáng tác có tài năng nhất Hoa Kỳ. Anh có bằng bác sĩ âm nhạc tại đại học Michigan và dạy sáng tác ở đại học Mỹ. Trịnh Bạch, Hoàng Ngọc-Tuấn, Phạm Quang Tuấn cũng vậy, họ đều gây được những tiếng vang trong cộng đồng quốc tế.

Như tôi đã trình bày ở trên, hải ngoại quá bao la nên tôi không kể ra hết được số các nhạc sĩ ở khắp nơi, đây chỉ là một số nhạc sĩ tôi biết và nghe đến qua các CD, băng nhựa và Internet. Tôi biết chắc rằng mỗi cộng đồng đều có người Việt sinh hoạt âm nhạc nghệ thuật, thật lấy làm tiếc khi còn có bao nhiêu nhạc sĩ mà tôi chưa có phương tiện để biết đến.

Sau khi phân loại âm nhạc hải ngoại ngỏ hầu giúp bạn đọc có cái nhìn tổng quát về âm nhạc hải ngoại, tôi cũng bàn thêm về nhạc trẻ. Chắc bạn đọc có thể nhìn thấy nhạc Pop hay nhạc trẻ chỉ là một mảng màu đỏ nhỏ bé trong bức tranh nhiều màu sắc của âm nhạc hải ngoại. Vì tính đa dạng này, nếu chúng ta chỉ xem, nghe vài bài nhạc trẻ trong chương trình Thúy Nga Paris rồi đi đến kết luận như QB đã phê bình thì thật thiếu công bằng cho âm nhạc hải ngoại quá. Nó giống chuyện người mù xem voi vậy.

Ở hải ngoại có nhiều trung tâm sản xuất âm nhạc mà Thúy Nga Paris và Asia là hai trung
tâm lớn nhất. Các ca, nhạc sĩ mới xuất hiện sẽ có nhiều cơ hội nổi danh nếu được hai trung tâm này chú ý và nâng đỡ.

Sản phẩm của Thúy Nga, tuy gần đây có nhiều tính thương mại, chiều theo thị hiếu đại
chúng nhưng được dàn dựng công phu, nghệ thuật và tốn kém. Tôi ghi nhận công sức của họ trong việc đem lại những chương trình âm nhạc giải trí súc tích, tuy nhiên họ chưa bao giờ đại diện cho âm nhạc hay giới thưởng ngoạn nào tại hải ngoạị (Chẳng lẽ lấy một chương trình vi nhạc thương mại nào đó tại Việt Nam để đánh giá giá trị âm nhạc Việt Nam hiện nay?)

Còn việc QB nhận định rằng Thúy Nga và Asia dùng nhạc quốc nội mới sáng tác trong sản phẩm nghệ thuật của họ. Điều này chỉ đúng với Thúy Nga vì Thuý Nga theo sát thị hiếu đại chúng, Asia thì không. Asia có nét riêng trong chương trình của họ và dường như chưa hoặc rất ít khi nào đem những bài hát mới sáng tác trong nước vào chương trình.

Trở lại việc phê bình ngôn ngữ nhạc trẻ hải ngoại của QB. Lời phê bình nhạc trẻ hải ngoại đơn giản, lời lẽ ít trau chuốt, ý tưởng nghèo nàn, thiếu sâu sắc, của QB, nó cũng na ná như việc chúng ta phàn nàn tại sao con voi thì quá to, con kiến sao mà bé thế vậy.

Đặc tính của nhạc trẻ cũng như nhạc Pop là phổ thông, dễ nhớ, dễ hiểu, thời thượng, đáp ứng được nhu cầu nghe và nhìn của giới trẻ. Đối tượng của nhạc trẻ là những người trẻ đam mê, sôi động và mau chán. Họ thích được xem ca sĩ vừa trình diễn, vừa múa, hát nên họ không đòi hỏi những tiết tấu quá cầu kỳ phức tạp, ngôn từ trau chuốt sâu xa, chỉ cần dễ nghe, dễ nhớ. Người viết nhạc trẻ đều dựa trên những đặc tính này mà viết. Thường thì nhạc sĩ trẻ viết lên những gì họ thấy, nghe và hiểu theo lối tư duy đơn thuần của mình về tình yêu và cuộc sống vì họ chưa trải qua và chiêm nghiệm. vì họ chưa có vốn sống sâu sắc.

Một vài nhạc sĩ trẻ hải ngoại khi sáng tác, dùng ca từ có hình ảnh Sài Gòn hay Việt Nam trong nhạc phẩm của họ, bị QB phê bình là tâm cảm dựng lên thiếu cơ sở, giả tạo, ý tưởng phiến diện, kỳ quặc, méo mó. Tôi nghĩ QB hơi khe khắt và kỳ thị trong cách phê bình của mình. Quốc Bảo làm như hình ảnh Sài Gòn hay Việt Nam chỉ dành riêng cho người trong nước được dùng, nhạc sĩ hải ngoại không được dùng hay dùng mà chưa sống hay chưa thấy là méo mó, giả tạo. Nếu bảo là chưa thấy những hình ảnh này, làm sao QB khẳng định rằng họ chưa bao giờ thấy. Giả sử nếu họ chưa sống, chưa thấy, thì việc họ vay mượn hình ảnh Việt Nam làm nền cho tác phẩm của mình, tôi nghĩ đó là một điều tốt đáng khen hơn là kết tội hoặc chê trách.Vì sao? Vì nếu họ là những người trẻ lớn lên ở hải ngoại dù chưa biết quê hương Việt Nam là gì mà vẫn nghĩ đến và biết đem những hình ảnh trừu tượng, hư cấu đó vào tác phẩm của mình thì chúng ta những người đã may mắn được thấy, được sống phải khích lệ, hãnh diện hơn là chỉ trích, phê phán gay gắt. Tôi thấy nó chỉ giống hành động một nhà văn dùng những hình ảnh hư cấu (ngoài những dữ kiện thật) trong truyện của mình.

Ông QB nhận định thêm, để che giấu vốn tiếng Việt ít ỏi của mình, các nhạc sĩ hải ngoại chọn cách pha Anh ngữ vào bài hát. Tôi nghĩ điều này không phổ biến và nếu có thì vì dụng ý thay vì thiếu ngôn từ

Cuối cùng ông kết luận: “Tôi cho rằng tâm lý người Việt vẫn muốn yên tâm bằng các nghề bác sĩ, kỹ sư hơn là học nhạc và làm nhạc sĩ. Nếu không trang bị được cho mình đủ vốn kiến thức, kỹ thuật cũng như niềm đam mê cháy bỏng, một nhạc sĩ a ma tơ chưa chắc đã lập thân nổi trong cộng đồng người Việt, chứ đừng nói đến thị trường âm nhạc bản xứ. Hơn nữa, bao giờ tâm lý người xa xứ cũng bị đè nặng mặc cảm thua kém trước nền âm nhạc phát triển quá lớn mạnh ở Âu Mỹ, và sẽ rất hiếm hoi cho sự trỗi dậy mạnh mẽ của một thiên tài lưu vong.”

Ông QB đã lẫn lộn giữa việc sáng tác nhạc Việt hải ngoại và việc học âm nhạc. Đây là hai việc hoàn toàn khác nhau. Học nhạc để trở thành nhạc sĩ chuyên nghiệp chưa chắc sẽ trở thành nhạc sĩ tài danh. Một nhạc sĩ amatơ không cắp sách tới trường học âm nhạc mà tự học, nếu có năng khiếu và thiên tài cũng có thể nổi tiếng lẫy lừng.

Để trao đổi thêm thông tin, tôi xin nói thêm về việc học nhạc ở hải ngoại để các độc giả trong nước rõ.

Theo tôi biết, việc này đã và đang xảy ra ở Hoa Kỳ nơi tôi định cư (nơi khác thì tôi không rõ). Cứ trung bình theo tôi nhận xét, khoảng ít nhất 60% gia đình Việt Nam khá giả ở Mỹ cho con cái đi học Piano, Violin thêm tại các trung tâm dạy nhạc tư. Số tiền chi phí học nhạc riêng này rất cao, khoảng trên dưới 60 đô la một giờ. Ngoài ra tại các trường trung học, từ lớp 6 trở lên trẻ em đều có môn nghệ thuật trong giáo trình và các em có thể chọn lựa môn âm nhạc nếu thích. Nghĩa là trẻ em từ bậc trung học đã trang bị sẵn tại trường vốn kiến thức âm nhạc của mình để khi lên đại học có thể bước hẳn vào chuyên ngành nếu chúng thích. Vì vậy giới thưởng ngoạn có kiến thức âm nhạc ở Hoa Kỳ rất cao. Nếu một nhạc sĩ trẻ quyết định bước vào thế giới sáng tác âm nhạc, tôi không tin rằng họ không có một kiến thức kỹ thật âm nhạc vững vàng. Nếu khiếm khuyết họ có thể đi học thêm tại các đại học cộng đồng mà chi phí rất hạ, nếu có tiền họ có thể đi học tư ở các trung tâm dạy nhạc nổi tiếng điạ phương.

Phần lớn các nhạc sĩ Việt Nam ở hải ngoại đều là những nhạc sĩ nghiệp dư, nghĩa là âm nhạc không phải là nghề chính có thể nuôi sống họ. Họ học nhạc, sáng tác nhạc với tinh thần học hỏi và yêu mến nghệ thuật hơn là mong muốn nổi tiếng và sống nhờ tiếng tăm của mình. Do đó, tình trạng sáng tác để sống còn, không phải nhu cầu, nên tính thương mại và chiều theo thị hiếu đại chúng ít hơn trong nhạc phẩm của họ. Những tác phẩm sáng tạo hay, lừng lẫy thường không phải những tác phẩm chiều theo thị hiếu quần chúng.

Thiên tài âm nhạc là một tài năng đầy sáng tạo, nổi trội và vươn ra tới tầm vóc quốc tế. Ông QB tỏ vẻ lo lắng và bi quan cho một sự khó có thể trỗi dậy của một thiên tài âm nhạc hải ngoại vì mặc cảm thua kém ở xứ người. Sự quan tâm này của ông khiến tôi ngồi ôn lại trong gần 80 triệu người Việt trong nước có thiên tài âm nhạc nào nổi trội và lẫy lừng tiếng tăm vang vọng quốc tế chưa và trong số khoảng 2 triệu người Việt hải ngoại có ai xứng danh thiên tài âm nhạc không?

Tôi, một người không rành rẽ âm nhạc cho lắm, nên không dám đánh giá hay dùng từ “thiên tài âm nhạc” bừa bãi. Tuy nhiên tôi rất ngưỡng mộ những người đã có công gìn giữ, phát huy, giới thiệu và vinh danh âm nhạc Việt Nam với cộng đồng quốc tế như Giáo sư Nguyễn Thuyết Phong(Hoa Kỳ), giáo sư Trần Văn Khê (Pháp), giáo sư Trần Quang Hải (Pháp). Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Thuyết Phong là người đã được National Endowment for the Arts trao tặng danh hiệu “Di sản quốc gia”. Ông đã được tổng thống Bill Clinton tiếp đón tại White House. Ông đồng thời giữ chức vụ chủ tịch Hội Quốc Tế nghiên cứu Âm Nhạc Việt Nam. Giáo sư Tiến sĩ Trần Văn Khê là cựu giám đốc nghiên cứu (Director of research) thuộc trung tâm quốc gia nghiên cứu khoa học CNRS, Giảng sư đại học Sorbonne của Paris, Hội viên danh dự The International Music Council (UNESCO), Hội viên the European Academy of the Sciences, huy chương Officier des Arts et des Lettres của Pháp. Giáo sư tiến sĩ Trần Quang Hải nhận huy chương vàng âm nhạc của the Asian Cultural Academy, The Cristal Medal of the National Center for Scientific Research, làm việc với the National Center for Scientific Research (CNRS) ở Pháp, huy chương bắc đẩu bội tinh (Chevalier de la Légion d’Honneur) của tổng thống Pháp Jacques Chirac ban tặng. Ngoài ra ông còn nhận hơn 20 giải âm nhạc quốc tế khác tại hơn 120 đại hội liên hoan âm nhạc quốc tế (International Music Festivals) ở 60 quốc gia trên thế giới từ 1970 tới nay. Ngoài ra ở Pháp còn có Nguyễn Thiện Đạo, nhạc sĩ sáng tác lừng danh, Tôn Thất Tiết , nhạc sĩ sáng tác nổi tiếng viết nhạc cho 3 cuốn phim của đạo diễn Trần Anh Hùng (Mùi đu đủ xanh, Xích lô, v.v.) và Guitar Nguyên Lê nổi tiếng nhạc jazz, Nguyễn Mạnh Cường đoạt giải sáng tác The Asia Pacific Festival và Composers Conference ở New Zealand.

Tất cả đã góp phần làm tươi đẹp bức tranh âm nhạc hải ngoại.

Ngày nay, với sự giao lưu văn hoá trong và ngoài nước, trong nền âm nhạc Việt Nam nói chung đang xảy ra những sự kiện đáng ghi nhận.

Giới trẻ quốc nội thích coi PBN và những chương trình nhạc hải ngoại. Thị trường ca nhạc hải ngoại bị xao động vì các nghệ sĩ quốc nội liên tiếp bay sang hải ngoại lưu diễn vì tiền thù lao “bay sô” cao. Ngược lại cũng có các nghệ sĩ hải ngoại về Việt Nam trình diễn. Thị trường âm nhạc Việt Nam trở thành thị trường mở vì băng, đĩa, sản phẩm văn hoá trong nước cũng như ngoài nước luân lưu trao đổi.

Quan sát sự việc trên, bỗng dưng lòng tôi nở hoa một giấc mơ. Mơ trong tương lai, khi tôi hay bất cứ người viết nào khi đặt bút xuống viết về âm nhạc không còn dùng từ “âm nhạc hải ngoại” hay “âm nhạ quốc nội”, mà chỉ dùng độc một từ. Âm Nhạc Việt Nam. Tất cả chúng ta, dù sống trong nước hay hải ngoại, phương nam hay phương bắc, đầu vĩ tuyến này hay cuối vĩ tuyến kia, đều mang chung một dòng máu Việt, nói cùng một ngôn ngữ, khoác chung một màu da vàng. Các ca nhạc sĩ của chúng ta cùng viết và hát một thứ tiếng, có chung một tâm hồn, một nỗi niềm và tình tự dân tộc. Tại sao lại phải phân biệt, chia rẽ và kỳ thị? Sự trỗi dậy hay thành công của một thiên tài dù trong hay ngoài nước đều làm chúng ta hãnh diện như nhau vì quốc tế sẽ trầm trồ đó là người Việt chứ họ sẽ không phân biệt đó là người Việt hải ngoại hay quốc nội. Xưa nay nghệ thuật không có biên giới và nó đã đánh đổ những rào cản bất đồng chính kiến. Tôi ước mong âm nhạc, nghệ thuật sẽ là một thông điệp hoà bình và nhân ái mang người Việt chúng ta xích lại gần nhau hơn.


Tài liệu tham khảo


Nhạc sĩ Quốc Bảo nói về nhạc hải ngoại
(http://vnexpress.net/Vietnam/Van-hoa/2004/05/3B9D2E24/)

Trần Quang Hải- Vietnam: Situation of Exile Music since 1975 and Musical Life in Vietnam since Perestroika.
(http://www.tranquanghai.net)

Hoàng Ngọc-Tuấn - Ðối thoại giả tưởng về âm nhạc thế kỷ 21 (http://www.tienve.org)

Giáo sư bác sĩ Trần Văn Khê (http://www.philmultic.com/tran/)
Phong Nguyen – Musician and Ethnomusicologist (http://www.phong-nguyen.com/)

© 2004 talawas

giacmo
28-08-2005, 01:28 PM
Talawas là 1 trong những diễn đàn văn hóa hay nhất của người Việt. Với tinh thần xóa mù văn hóa em kiến nghị các bác đọc talawas nhiều thấy bài nào hay, mang tính thời sự trên này thì gạn đục khơi trong copy & paste vào đây, chúng ta cùng bình luận. Bên tờ lờ có topic copy & paste bài nghiên cứu về cuộc sống cư dân đô thị và nông thôn Bắc Việt thời kì 1945-1975, có thể nói là tuyệt hay. Người Việt sống ở miền Bắc thời kì này, nếu đc đọc chắc chắn sẽ vô cùng thích thú.

khoảnh khắc
30-08-2005, 05:40 PM
Vâng ạ, kính thưa bác, bài dài quá, em đọc hoa cả mắt, kéo chuột mỏi cả tay, lần sau nếu có câu nào hay hay thì em xin bác chọn ra giúp em, chứ bác cứ cọp sau đó pét vào đây thế này em chọn khó quá.....

hoanghuyae
09-03-2007, 04:06 AM
Đôi khi trên Net người ta chỉ thích những cái gì ngắn, dễ đọc. Net làm con người dễ dãi đi, nhạt đi.
Anh vẫn trung thành với văn hóa đọc, thật ra những bài trên talawas, tienve, danchimviet, vietstudies,.. in ra giấy rồi ngồi đọc vẫn thích hơn. Dù sao nếu đọc trên máy thì những thứ ấy cần phải bỏ thời gian và thái độ, đầu tư nghiêm túc khi đọc, nhiều lúc khá đau đầu!