View Full Version : Truyền Thống Trà đạo(nhật Bản)
Có cái này hồi nọ lượm được nhân buổi đi uống trà đạo.Lần đầu tiên thấy có bản giới thiệu về trà đạo dịch sang tiếng Việt ở đây nên tích trữ về, giờ post lên cho bàn con đọc.Đây chỉ là một bản dịch từ tiếng Anh sang( không nhớ rõ là của ai nữa) nên có thể có những chỗ hơi trúc trắc do lỗi người dịch, nhưng vẫn có thể nói đây là bản dịch thành công.
Urasenke là phái trà đạo nổi tiếng của NB.Ông Sen SoTừ Vi Phạmsu( người Nhật thường gọi là Iemoto sensei)là cháu đời thứ 15 của dòng họ này.Ông này đã đi hầu hết các nước trên TG để dâng trà, trong đó có VN.Hồi năm 2002 ( or 2003, không nhớ rõ nữa,đã dâng trà cho thủ tướng PVK và chủ tịch nước TDL tại VN).Vinh dự vinh dự....
Xin mời...
Truyền thống trà đạo của phái Urasenke
Nước trà phổ biến với quy mô thế giới, nhưng không có một nước nào trên thế giới mà nước trà lại đóng góp nhiều vào môi trường văn hoá như ở Nhật Bản. Ở Nhật Bản, việc chuẩn bị pha trà và thưởng thức nước trà có ý nghĩa mỹ học và được phát triển lên thành một đạo nghệ thuật để tu luyện tinh thần.
Người Nhật Bản, khi được mời đến họp mặt để thưởng thức nước trà thì họ ngồi trong một gian phòng nhỏ xa cách nơi trần tục và vui vẻ giao lưu với nhau.Những lần như vậy, người chủ trì của hội trà quét sạch gian phòng đó, treo tranh, nhóm lửa để đun nước pha trà, đồng thời dọn bữa cơm đơn giản với niềm mong ước là cuộc hội trà sẽ hết sức vui vẻ.
Cuộc hội trà này là một cơ hội để biểu lộ rõ cảm tính trong tấm lòng mà người ta giành được qua sự nghiên cứu và rèn luyện trà đạo.
Trà đạo là thuật từ tương đối mới nhưng nguyên lý dọn và thưởng thức nước trà đã ra đời từ thế kỷ thứ 15.Bột trà xanh được dùng ở cuộc hội trà gần đây vốn là trà được nhà sư thiền tong lưu học ở Trung Quốc mang về Nhật Bản vào thế kỷ thứ 13.Vào thời đại đó, họ sử dụng trà làm đồ uống để giúp cho họ mặc tưởng, hơn nữa trà được trọng dụng như thuốc.
Xuất phát từ ngờ uồn gốc đơn giản,những người ưa thích nước trà đã sáng tạo ra nền mỹ học thấm nhuần vào văn hoá Nhật Bản.Trong số những người đó,có một ông tổ suốt đời đã cố gắng hiểu cho thấu về nền mỹ học này như là một phương thức sinh sống và xây dựng cơ sở trà đạo thành một cách để phát triển bản thân cuộc sống đó lên nghệ thuật.Người đó chính là ông Sen Rikyu(1522-1591).
Hồi đó ông đã là người quan trọng, đứng đầu giới nghệ thuật cũng như giới chính trị, có lý tưởng mỹ học và luôn luôn ở vị trí trung tâm của nghệ thuật Nhật Bản, và muốn xây dựng cơ sở cho lễ thức Nhật Bản thành lễ thức tốt đẹp nhất. Ông đã tóm tắt tinh thần cơ bản của trà đạo bằng bốn chữ sau:Hoà, Kính ,Thanh,Tịnh.
“Hoà” có nghĩa là điều hoà, tức là sự hoà hợp giữa con người với nhau, giữa con người và thiên nhiên, giữa các dụng cụ được dùng cho trà đạo và cách dùng các dụng cụ đó.
“Kính” có nghĩa là kính trọng.Niềm kính trọng đều phải hướng về tất cả mọi sự vật, và phát sinh ra từ niềm cảm tạ đối với sự tồn tại của chúng.
“Thanh”có nghĩa là thuần tuý, biểu trưng cho sự thanh khiết của hai mặt vật chất và tinh thần..
“Tịch” cuối cùng có nghĩa là sự yên tĩnh của tấm lòng, tức là sự bình an trong lòng, có được do sự thực hiện ba nguyên lý trên.
Các nhà sư thiền tông, những người đem trà về Nhật Bản, đã xây dựng nền tảng cho tinh thần trà đạo.Trên cơ sở tìm hiểu bản chất của thực tại một cách trực cảm, giáo lý của thiền tông đã cung cấp cho nhà trà đạo một tư tưởng rất tự do để phát triển mỹ học trà đạo. Điều đó không chỉ bao gồm lối cách chuẩn bị pha trà hoặc dọn trà mà còn bao gồm cả việc chế biến các dụng cụ trà đạo, sự đánh giá các công nghệ mỹ thuật,việc thiết kế và xây dựng phòng thưởng thức nước trà và sân vườn, mà còn bao gồm cả văn học nữa.
Từ thời ông Sen Rikyu sống ở Kyoto đến nay đã trải qua 400 năm. Ở thành phố này vẫn còn dồi dào các di sản của ông để lại.Từ cung điện cũ của vua, đi bộ khoảng 15 phút thì đến những ngôi nhà của hai dòng họ Sen.
Một trong những ngôi nhà đó là nhà riêng của ông Sen SoTừ Vi Phạmsu, cháu đời thứ 15 tính từ đời ông Sen Rikyu, đồng thời là người chủ của phái trà đạo Urasennke.
Ngôi nhà chính của Urasenke bao gồm nhiều gian phòng thưởng thức nước trà mà phần lớn đã được chính phủ Nhật Bản quyết định giữ lại làm vốn văn hoá quốc gia quan trọng.
(lược bớt...)
Ngày nay do sự phát triển của các thứ tiện nghi và máy móc,con người đang được giải phóng khỏi ách lao động.Việc sử dụng thời gian và năng lượng để pha trà và dọn một bát trà hình như không hoàn toàn cần thiết nữa.Nhưng tuy chỉ là một bát trà mà khi được pha và dọn theo tinh thần của trà đạo thì nó vẫn sẽ là một lối sống hợp với yêu cầu của con người, mong dành được sự bình an trong lòng.
seabird
14-07-2004, 03:17 PM
Fuji tranh thu? thoi` gian ko chi hoc cach thuong thuc' tra dao. ma hoc luon cach pha tra` thi` tot' lam day :rolleyes: .
Nho' co lan doc 1 truyen ngan cua Nguyen Tuan trong tap " Vang bong' 1 thoi`" noi ve nhung nguoi rat sanh` dieu ve nghe thuat uong tra co chi tiet : nguoi uong tra phat hien ra ca vo? trau' trong tach tra. Chac la nha van cung muon cuong dieu hoa va nang cao gia tri cua nghe thuat nay thoi nhung cung thu' vi, nhi?
Fuji tranh thu? thoi` gian ko chi hoc cach thuong thuc' tra dao. ma hoc luon cach pha tra` thi` tot' lam day .
Ừ, hồi tháng tư tớ cũng đã dự định sẽ tham dự một lớp Trà đạo để nhận chứng chỉ cho tử tế,nhưng mà cứ dùng dằng mãi rồi lại thôi.Đến giờ học thì không kịp nữa rồi.Vì để tham gia học một khoá gọi là "bài bản" một chút thì ngắn nhất cũng phải mất 6 tháng, bình thường là 1 năm.Hi hi, học phí thì cao miễn chê. :P à
Có nhiều lần đi uống trà và đi học ngoại khoá về Trà đạo, tớ cũng thao tác được ở mức gọi là...đủ dùng.Hi hi...Bởi vì bản thân mình cũng có hứng thú với cái bộ môn này.Lúc đầu đi uống trà đạo, tớ chỉ khoái nhất là món bánh của họ thôi :P .Ngon dã man,tuy hơi ngọt, ăn nhiều dễ béo. hihi...Văn hóa Trà đạo là trước khi thưởng thức trà thì người khách được chủ nhà mời một miếng bánh, ăn vào cho có vị ngọt ngọt nơi đầu lưỡi để khi thưởng thức trà, vị ngọt ấy quện với chút vị đắng của trà,tạo thành một dư vị thanh thanh...Nhưng hầu hết với người nước ngoài , nhất là lần đầu tiên uống trà đạo thì mặt mũi nhăn nhó trông khổ sở lắm.Vì thực chất trà đạo được pha từ một loại lá( như lá chè xanh nhà mình) tán nhỏ, khi uống thì theo phép lịch sự phải uống hết cả bã của nó(tức là cặn đấy) nên nó cứ bị ứ lại ở cổ ấy.Hihi...với ai không quen thì như bị tra tấn, nhưng với ai quen rồi thì lại thấy thích.Tớ thì chưa đạt được độ thích nhưng không đến nỗi là nhăn nhó.Hôm vừa rồi mới phát hiện ra là mình có thể uống được hai bát trà một lúc(tất nhiên là cộng với hai miếng bánh).hehe... :P
seabird
15-07-2004, 06:12 PM
Originally posted by fuji@Jul 14 2004, 03:16 PM
Có nhiều lần đi uống trà và đi học ngoại khoá về Trà đạo, tớ cũng thao tác được ở mức gọi là...đủ dùng.Quoted post
Cu. the? ho*n cai' muc' ddu dung` ay' di fuji o*i, hihi, to' thay van ho*i truu` tuong. Ah, ma hom nao` mo* khoa hoc Nhat. ngờ u~ onlie ddi, dam bao to' la hoc sinh ngoan day' hihi, dot. truoc co' dua ban cung hoc khoa Nhat, lop NB3 hay sao ay', no day may cau hay phet' nhung chu~ ban lai gia cho ban mat' roi` :rolleyes:
Hic, sao minh van chu go~ co' dau duoc.
Cu. the? ho*n cai' muc' ddu dung` ay' di fuji o*i, hihi, to' thay van ho*i truu` tuong.
Hì, tớ đã nói vậy nghĩa là không muốn cụ thể hóa cái mức "đủ dùng" ấy rồi mà cậu lại cứ muốn làm khó tớ. :rolleyes: Hi hi...Giá có tiền mà sắm được bộ pha trà ấy mang về VN "sí sớn "tí thì cũng được đấy. :P
À, hay hôm nào tớ về bọn mình đi uống trà đạo đi.Ở HN nhiều quán lắm.Tớ biết một quán ở đường Bà Triệu, trông bên ngoài cũng có vẻ da dáng lắm, không biết chất lượng thế nào.Vì tớ cũng chưa vào bao giờ.Hic, sinh viên mà, khi nào mà phải bỏ tiền túi ra thì phải cân nhắc xem nó có có ở mức...giá cả phải chăng không đã.Nhưng mà chắc không đắt lắm đâu.Với lại đến lúc tớ về, chẳng lẽ SB không đãi tớ được bát trà, nhỉ.Đường đường đi làm, đi dịch ầm ầm thế cơ mà? hihi....Tớ sẽ gọi cả Canhhoabuoi và LH đi cùng nữa, có dịp cho bạn SB thể hiện.Cậu nhỉ.....
Còn có một quán nữa, quán này hồi đăng trên báo sinh viên lâu lắm rồi.Cách đây 2 năm rồi thì phải.Quán này là do một chị học ở khoa Đông Phương trường Nhân văn mở.Tớ nhớ hồi cũng lâu lâu, tớ cũng muốn vào xem làm ăn thế nào cái, mà cuối cùng cũng chẳng đi được.Giờ thì không nhớ là nó nằm ở đường nào nữa.Nhưng theo ngờ uồn tin không...chắc chắn lắm thì quán này vẫn kinh doanh bình thường, không có gì trắc trở cả.SB xem có bạn bè dây mơ dễ má gì với chị chàng quán đấy không thì dẫn anh em đi cái nhỉ.Hi hi...có khi lại không mất tiền ấy chứ, nhỉ.Chủ trương ấy là tớ ủng hộ nhất. :P :P :P
À mà thế dạo này cậu có đi dịch nữa không?Có jì khó khăn không?
Mai tớ thi môn cuối cùng, và sẽ được nghỉ hè luôn.Ôi, lại các kế hoạch, kế hoạch...Suốt ngày kế hoạch.....
dungdt
22-07-2004, 02:12 PM
Hầu như mọi dân tộc, mọi xứ sở trên trái đất đều biết uống trà. Theo ước tính, đây là loại nước uống phổ biến nhất và mỗi ngày thế giới tiêu thụ không dưới một tỷ cốc trà các loại. Song có lẽ nhiều người chưa biết cây trà được phát hiện đầu tiên và tục uống trà của nhân loại bắt ngờ uồn từ Trung Quốc.
Theo cuốn Trà kinh, viết năm 780, uống trà bắt đầu từ thời Thần Nông, truyền sang Chu Công nước Lỗ. Như vậy loài người biết uống trà vào khoảng năm 3.300-3.100 trước Công nguyên. Qua các thời đại Trung Quốc, tục uống trà và tác dụng của cây trà ngày được nâng cao và khai thác triệt để. Cách uống trà cũng theo những con đường buôn bán tơ lụa, đồ gốm và qua sự giao lưu của các thương gia toả ra khắp thế giới.
Thời nhà Đường (618-907) cùng với thi ca và các loại văn hoá khác, văn hoá trà Trung Hoa đạt tới đỉnh cao rực rỡ. Nghệ thuật thưởng trà được coi là một trong những sinh hoạt "quốc hồn, quốc tuý" của dân tộc. Vào khoảng thế kỷ thứ VIII, một người là Lục Vũ viết cuốn Trà kinh và Lư Đồng soạn ra Trà ca nhằm ca ngợi và hướng dẫn cách dùng trà. Trong đó, những luận bàn phát minh về trà lễ có thể coi là chuẩn mực thưởng trà đầu tiên của loài người.
Tương truyền các loại trà quý hiếm cực kỳ thơm ngon như Trảm mã trà, Bạch mao hầu trà, Trùng điệp trà... mà người thường khó có điều kiện thưởng thức cũng sinh ra từ thời này. Trảm mã trà là loại trà mọc hoang lưu niên trên núi cao Vu Sơn tỉnh Tứ Xuyên. Sơn dân ở đây dùng các con ngựa núi từ nhỏ đã được luyện uống nước trà thành nghiện để thu trà. Buổi sáng các con ngựa còn đói được lùa lên ăn lá trà và uống nước suối ở đỉnh núi. Chiều đã no căng bụng, chúng kéo nhau xuống và bị bắt mổ bụng để moi trà. Rồi trà được đem sấy khô, ủ kín. Bạch mao hầu trà là loại trà ở núi Vũ Di tỉnh Phúc Kiến được hái nhờ những con khỉ trắng do người nuôi dạy. Trùng điệp trà là phân của các con sâu trà ở núi Ly Sơn, tỉnh Thiểm Tây sau khi ăn lá trà thải ra được thu về sao tẩm lại...
Cuối thế kỷ 11 đầu thế kỷ 12, cùng với thiền, trà ở Trung Hoa tràn sang Nhật. Người Nhật tiếp thu cả hai thứ văn hoá vật chất và tôn giáo này, đem nó hoà quyện với văn hoá bản địa và nâng lên thành triết lý riêng của dân tộc là Trà đạo.
Trà đạo bao gồm những nghi lễ thiêng liêng thấm đượm chất tâm linh tôn giáo, khiến cuộc thưởng trà trở thành một cuộc lễ. Bất cứ một thiền thất nào của môn phái Trà đạo đều có những trà thất. Tuy được xây dựng hết sức giản dị, tự nhiên nhưng được coi là nơi thiêng liêng nhất. Đó là những gian nhỏ được ghép bằng tre, gỗ, lợp tranh rất nguyên sơ. Trong nhà bài trí một vài bức thư pháp cổ, hoặc tranh thuỷ mạc. Một bếp đun nước, một lò hương thơm, một lọ hoa cắm chỉ một bông như mọc lên từ kẽ đá. Ngồi trong căn phòng lặng im nghe tiếng nước sôi nhè nhẹ như tiếng gió. Người ta cảm thấy như ngồi giữa một thảo am nơi sơn dã, chỉ có mây trắng và tiếng nhạc thiên nhiên làm bạn, lòng cảm thấy thanh thoát. Con người như vượt lên trên những giới hạn tương đối và một thoáng nhìn vào vĩnh cửu. Ấm trà được sắp lên toả hương thơm thanh cao, tinh khiết. Uống chén thứ nhất thấy lòng tĩnh lặng, tâm không còn dao động, tự soi được vào cõi tâm mình. Nhà thiền gọi đó là trạng thái vấn tuệ. Uống xong chén thứ hai thấy nơi ấn đường ấm nóng, tư duy thiền sắp được khai thông. Uống xong chén thứ ba cả hai trạng thái trên đều biến mất. Thân xác như hoà vào trời đất. Đấy là đạt tới thiền và là Trà đạo.
dungdt
22-07-2004, 02:13 PM
Hầu như mọi dân tộc, mọi xứ sở trên trái đất đều biết uống trà. Theo ước tính, đây là loại nước uống phổ biến nhất và mỗi ngày thế giới tiêu thụ không dưới một tỷ cốc trà các loại. Song có lẽ nhiều người chưa biết cây trà được phát hiện đầu tiên và tục uống trà của nhân loại bắt ngờ uồn từ Trung Quốc.
Theo cuốn Trà kinh, viết năm 780, uống trà bắt đầu từ thời Thần Nông, truyền sang Chu Công nước Lỗ. Như vậy loài người biết uống trà vào khoảng năm 3.300-3.100 trước Công nguyên. Qua các thời đại Trung Quốc, tục uống trà và tác dụng của cây trà ngày được nâng cao và khai thác triệt để. Cách uống trà cũng theo những con đường buôn bán tơ lụa, đồ gốm và qua sự giao lưu của các thương gia toả ra khắp thế giới.
Thời nhà Đường (618-907) cùng với thi ca và các loại văn hoá khác, văn hoá trà Trung Hoa đạt tới đỉnh cao rực rỡ. Nghệ thuật thưởng trà được coi là một trong những sinh hoạt "quốc hồn, quốc tuý" của dân tộc. Vào khoảng thế kỷ thứ VIII, một người là Lục Vũ viết cuốn Trà kinh và Lư Đồng soạn ra Trà ca nhằm ca ngợi và hướng dẫn cách dùng trà. Trong đó, những luận bàn phát minh về trà lễ có thể coi là chuẩn mực thưởng trà đầu tiên của loài người.
Tương truyền các loại trà quý hiếm cực kỳ thơm ngon như Trảm mã trà, Bạch mao hầu trà, Trùng điệp trà... mà người thường khó có điều kiện thưởng thức cũng sinh ra từ thời này. Trảm mã trà là loại trà mọc hoang lưu niên trên núi cao Vu Sơn tỉnh Tứ Xuyên. Sơn dân ở đây dùng các con ngựa núi từ nhỏ đã được luyện uống nước trà thành nghiện để thu trà. Buổi sáng các con ngựa còn đói được lùa lên ăn lá trà và uống nước suối ở đỉnh núi. Chiều đã no căng bụng, chúng kéo nhau xuống và bị bắt mổ bụng để moi trà. Rồi trà được đem sấy khô, ủ kín. Bạch mao hầu trà là loại trà ở núi Vũ Di tỉnh Phúc Kiến được hái nhờ những con khỉ trắng do người nuôi dạy. Trùng điệp trà là phân của các con sâu trà ở núi Ly Sơn, tỉnh Thiểm Tây sau khi ăn lá trà thải ra được thu về sao tẩm lại...
Cuối thế kỷ 11 đầu thế kỷ 12, cùng với thiền, trà ở Trung Hoa tràn sang Nhật. Người Nhật tiếp thu cả hai thứ văn hoá vật chất và tôn giáo này, đem nó hoà quyện với văn hoá bản địa và nâng lên thành triết lý riêng của dân tộc là Trà đạo.
Trà đạo bao gồm những nghi lễ thiêng liêng thấm đượm chất tâm linh tôn giáo, khiến cuộc thưởng trà trở thành một cuộc lễ. Bất cứ một thiền thất nào của môn phái Trà đạo đều có những trà thất. Tuy được xây dựng hết sức giản dị, tự nhiên nhưng được coi là nơi thiêng liêng nhất. Đó là những gian nhỏ được ghép bằng tre, gỗ, lợp tranh rất nguyên sơ. Trong nhà bài trí một vài bức thư pháp cổ, hoặc tranh thuỷ mạc. Một bếp đun nước, một lò hương thơm, một lọ hoa cắm chỉ một bông như mọc lên từ kẽ đá. Ngồi trong căn phòng lặng im nghe tiếng nước sôi nhè nhẹ như tiếng gió. Người ta cảm thấy như ngồi giữa một thảo am nơi sơn dã, chỉ có mây trắng và tiếng nhạc thiên nhiên làm bạn, lòng cảm thấy thanh thoát. Con người như vượt lên trên những giới hạn tương đối và một thoáng nhìn vào vĩnh cửu. Ấm trà được sắp lên toả hương thơm thanh cao, tinh khiết. Uống chén thứ nhất thấy lòng tĩnh lặng, tâm không còn dao động, tự soi được vào cõi tâm mình. Nhà thiền gọi đó là trạng thái vấn tuệ. Uống xong chén thứ hai thấy nơi ấn đường ấm nóng, tư duy thiền sắp được khai thông. Uống xong chén thứ ba cả hai trạng thái trên đều biến mất. Thân xác như hoà vào trời đất. Đấy là đạt tới thiền và là Trà đạo.
dungdt
22-07-2004, 02:26 PM
Cây trà
Trà là loại cây lớn, hàng năm nhánh trà được cắt tỉa ngắn đi để cây trà trở thành từng bụi rậm. Lá trà lúc nào cũng xanh đậm, mượt óng và có răng cưa chung quanh. Hoa trà màu trắng hoặc hồng lợt vì vậy được liệt vào loại "trà hoa nữ" (camélia). Trái trà nhỏ, có vỏ cứng, lớn bằng hạt dẻ. Người ta trồng trà theo lối ghép cành rồi đem trồng xuống đất. Hai loại cây trà cổ nhất là: "Thea Sinsensis" hoặc trà tàu và "Thea Assamica". Loại thứ nhất trồng ở vùng ôn đới, chịu nổi đông băng, loại thứ nhì chỉ trồng được ở nhiệt đới vì cần nhiều sức nóng. Với hai loại trà cổ đó, chuyên viên trồng trà ghép đi ghép lại nhiều lần và tạo được loại cây trà tên "Assamhybrid", đây là loại cây giống trồng cho các đồn điền trà trên khắp thế giới.
Sự khác biệt về hương vị nằm trong sự khác biệt về giống trà, về vùng đất trồng, về điều kiện thời tiết, về sự chăm sóc chu đáo ở xưởng biến chế.
Hái trà
Trên mỗi cành bìa chỉ có nụ trên cùng và hai lá phía dưới được hái mà thôi. Lá già làm giảm phẩm chất của trà rất nhiều sau khi biến chế xong. Thời gian hái cũng ảnh hưởng đến phẩm trà. Hái trà là công việc của các thiếu nữ vì họ nhanh nhẹn, khéo tay. Mỗi ngày họ hái từ 16 kg đến 24 kg, bào chế xong còn từ 4 kg đến 6 kg.
Lá trà khi mới hái không có mùi gì đặc biệt, chỉ sau khi một loạt những giai đoạn bào chế, mùi thơm của trà mới tỏa ra.
Cách chế tạo trà
Trà biến chế theo cách cổ điển thì phải trải qua 5 giai đoạn: làm héo lá, cuốn lá, lên men, làm khô, lọc trà. Trà biến chế theo lối mới thì qua 3 giai đoạn gọi là C.T.C. (Crushing, Tearing, Curling).
Các loại trà:
Trà đen
Trà đen phần lớn được chế biến tại Ấn Độ. Đó là loại trà "Darjceling" và "Assam". Trà đen không hạp với khẩu vị Việt Nam vì mạnh, nhưng lại hạp với người Âu Châu, nhất là dân Anh. Họ uống trà với sữa hoặc "crème", hoặc để vài miếng đường, nặn vào đấy thêm vài giọt chanh.
Ngày xưa khi Anh quốc còn là một cường quốc thuộc địa, giờ "tea-time" của dân Anh là một truyền thống "thiêng liêng"! Đúng 5 giờ chiều, "boong", tất cả ngừng lại mọi công việc để thưởng thức trà!
Trà Thiết Quan Âm
Người Trung Hoa gọi trà đen là trà đỏ "hồng trà". Người Việt chúng ta, nhất là các cụ lớn tuổi rất thích loại trà đỏ "Thiết Quan Âm". Trà đựng trong những hợp thiếc có tượng hình Đức Quan Thế Âm tay cầm nhành dương liễu, tay cầm bình nước cam lộ.
Trà "Thiết Quan Âm" có sự tích sau đây,
Trên đỉnh Vũ Di Sơn, tỉnh Phúc Kiến có một ngôi đền cổ thờ tượng Đức Quan Âm bằng sắt. Đền ở quá cao, ít người đi lễ nên lâu ngày đổ nát. Gần đó có một nông phu chuyên nghề trồng trà, ngày nào anh cũng đi qua đền để đến vườn trà. Anh rất đau lòng vì không có tiền để sửa sang đền, nhưng mỗi tháng vào ngày mồng 1 và 15 anh đều đến chùa quét dọn, lau chùi tượng Phật Bà. Một đêm nọ anh nằm mộng, thấy Đức Quan Thế Âm nói với anh rằng "đằng sau chùa có một cái hang, trong hang có một kho tàng con hãy đến lấy và nhớ chia cho láng giềng". Tỉnh dậy anh mừng quá, chạy ngay đến đền để tìm, hang thì có nhưng kho tàng thì không, chỉ có một cây trà nhỏ xíu. Tuy thất vọng, anh cũng bứng cây trà đem về vườn mình trồng. Hai năm sau anh hái được 600 gram lá, khi đem về nấu uống thử anh thấy thơm ngon lạ thường, đỡ mệt nhọc và tinh thần sảng khoáị Anh ra sức tạo giống, 5 năm sau anh có được 200 cây, anh mời các lái buôn lên vườn anh và pha trà cho họ uống thử. Khi hỏi tên trà anh xuất khẩu nói "Trà Thiết Quan Âm". Một lái buôn hỏi ngược lại: "Có phải vườn trà anh gần đền thờ tượng Thiết Quan Âm mà có tên đó không?". Anh gật đầu và kể lại giấc mơ xưạ Anh cũng không quên chia cây giống cho láng giềng và chẳng bao lâu cả quanh vùng đều được sung túc.
"Trà Thiết Quan Âm" không hẳn là trà đen mà là loại trà "Odong" tức là chỉ cho lên men một độ trà, trị rất hay bệnh đau nhức khớp xương cho người già. Đây là kinh nghiệm mà khách hàng Đức của tôi đã cho biết. Vậy các cụ ta nên thử xem.
Tại các tiệm thực phẩm Á Châu được bán một loại trà rất quen thuộc với chúng ta đó là trà "Odong". "Odong" là tên chung để gọi các loại trà chỉ cho lên men một độ, loại trà này chỉ sản xuất ở Trung Hoa Lục Địa và Đài Loan.
Trà Jasmin
Có 2 loại: loại lên men một chút và loại trà xanh, trộn chung hoặc ướp với hoa lài. Khi mua trà lẻ ta đừng tưởng có nhiều hoa lài là loại tốt mà ngược lại, trà Jasmin trộn nhiều hoa lài là loại xấu! lấy mùi hoa để đánh lừa khách hàng thôi!
Trà xanh Jasmin loại thượng hạng có tên là "White Hair Monkey" tức là trà "Khỉ tóc trắng"! Tên trên được đặt ra vì khi nhìn trà, ta thấy có nhiều lá trà màu trắng và không thấy một nụ hoa lài nào. Lúc uống, khi chế trà ra tách, mùi thơm hoa lài tỏa khắp phòng. Trà khá mắc, 100 gram khoảng 10 euro.
Thanh Trà
Thanh Trà Nhật: Thanh Trà là nước giải khát quốc hồn quốc túy của Nhật, nhưng Thanh Trà Nhật lại không thích hợp mấy với khẩu vị chúng ta, 3 loại Thanh Trà thông dụng nhất là: Sencha, Bancha và Genmaicha.
Sencha, được xay hơi nhuyển, có mùi thơm ngọt, hơi đắng, nước xanh đục. Nước nấu vừa bắt đầu nổi bọt quanh nồi và "kêu siêu" thì chế lên trà, để 5 phút vớt lá trà ra.
Bancha, khi lá non được hái để chế Sancha xong thì lá Bancha được hái cũng cùng trên một cây trà, như vậy lá Bancha dầy hơn cứng hơn, được xay lổn nhổn hơn. Nước sôi nóng hơn nước cho Sencha (90 C), chế lên lá trà 3 phút, vớt lá ra.
Genmaicha, là Bancha được trộn với gạo rang, có mùi thơm dịu của bắp, pha giống như Bancha.
Gyokuro trà là loại rất mắc, chỉ uống trong những lễ lạc để tỏ lòng hiếu khách (khoảng 36 euro 100 gram).
Thanh Trà Tàu: Tàu đứng hàng nhì trong các nước sản xuất trà và đứng đầu về sản xuất Thanh Trà, rất hợp với khẩu vị Việt Nam. Ở các tiệm thực phẩm Á Châu, ta thấy nhiều nhất là loại "Gun Powder", loại này khá mạnh lại không thơm. Trà "Chun Mec" hạp với chúng ta hơn vì mềm, thơm, mùi vị ngọt lại vừa túi tiền.
Hai loại thanh trà nổi tiếng thế giới của Tàu là "Pi-lo Chun" ở miền Nam và "Lung Ching" ở miền Bắc.
Pi-lo Chun (nhủ thạch mùa xuân), đây là loại trà quý, chỉ uống ở những lễ tiệc. Ngày xưa trà này tên là "Trà thúi chết", trà được trồng ở độ cao 4000 m. 4 giờ sáng, các thiếu nữ hái trà đã phải lên đường, leo núi rất chật vật. Khi mặt trời bắt đầu nóng, khoảng 9 giờ, các cô phải trở về. Trà chỉ hái 1 đọt non và 1 lá phía dưới. Vì trà quý và đắt giá nên các cô lén hái thêm, bỏ vào ống quần túm phía dưới cho đỡ vướng chân khi leo núi. Sức nóng của mặt trời, mùi mồ hôi tạo cho các cô một mùi khó ngửi! Có một người đàn ông đi ngang qua chỗ các cô sắp hàng để cân lá trà vừa hái, chịu không nổi mùi trên nên bịt mũi kêu lên "trà gì mà thúi chết đi được!". Từ đó trà chịu hàm oan mang tên "thúi chết" mặc dầu uống rất ngon.
Năm 1726 vua Khang Hy nhà Thanh tuần du Vân Nam, quan Tổng trấn địa phương sai pha trà đem dâng vua, uống xong vua hỏi trà tên gì, sao không thấy loại trà thơm ngon này trong cung, quan Tổng trấn cứ ngập ngừng, hoàng đế cứ vặn hỏi. Cuối cùng quan đành nói cái tên "thúi chết" ra! Nhà vua, vừa buồn cười, vừa bất bình ngài phán: Trà ngon mà tên quá xấu, để ta đặt cho tên khác "Pi-lo Chun" và tên nầy được truyền đến bây giờ.
Năm 1949, Tổng thống Tưởng Giới Thạch phải bỏ Trung Hoa Lục Địa, một số người Trung Hoa trốn theo và đem giống trà Pi-lo Chun trồng ở Đài Loan. Điều lạ là Pi-lo Chun Trung Quốc đắt giá hơn Pi-lo Chun Đài Loan nhưng lại không thơm ngon bằng. Trà này đặc biệt có dư vị rất thơm sau khi uống. Giá bán là 6 euro 100 gr.
Lung Ching (long tỉnh, hay giếng rồng), trà có tên "Long Tỉnh" vì ngày xưa tại tỉnh Vân Nam có một năm nọ trời hạn hán quá lâu, cây cỏ chết dần, dân đói kém. Bên cạnh một ngôi chùa nọ có một cái giếng khộ Tương truyền rằng ngày xưa có một con rồng sống trong giếng đó. Vị hòa thượng trụ trì mới đến trước miệng giếng khấn rằng: nếu rồng linh thiêng xin cho mưa xuống cứu dân và các vườn trà không chết khô. Chỉ vài giờ sau, mưa xuống như trút nước. Nhớ ơn trên, trà vùng đó được đặt tên trà Long Tỉnh và được đem cây giống trồng thêm ở miền Bắc Trung Hoa.
Trà Cúc, chrysanthemum tee
Trong các loại trà ướp hoa của Tàu, trà Cúc đáng được kể đến.
Tương truyền rằng ban đầu, trong một làng nọ bên Tàu, có rất nhiều cây cúc dại mọc theo bờ sông. Người nghèo nhổ cây về phơi khô rồi nấu nước uống thay trà. Điều đặc biệt là các thiếu nữ nghèo vùng nầy có một nước da đỏ hồng tươi mát. Ai hỏi bí quyết có được làn da mịn màng trên thì các cô trả lời nhờ uống nước cúc. Lần hồi cúc được biến chế thành trà và hiện tại là loại Chrysanthemum Tee instant.
Trà có tánh chất giải nhiệt, ngăn ngừa táo bón và nổi mụn ở mặt. Vậy các cô bé T.H. Lê Văn Duyệt nên uống trà Chrysanthemum để có một làn da mịn màng.
Các loại trà khác của Tàu:
Tàu có rất nhiều loại trà thuốc, hai loại đặc biệt nhất, được các hãng thí nghiệm và bào chế Âu Châu công nhận hiệu năng là: Tuocha của tỉnh Vân Nam & Bojenmi của Phước Kiến.
Hai loại trà trên làm tan chất mỡ thừa "cholesterol" đóng dọc theo mạch máu, ngăn ngừa bệnh nghẻn máu (Infarctus).
Người Tàu dùng Tuocha để đổi lấy ngựa với các bộ lạc du mục ngoại mông. Các bộ lạc này chỉ biết ăn thịt chớ không biết trồng rau để ăn nên hay bị bệnh. Mỗi người đều có 1 "bánh" Tuocha trong mình để uống khi ngã bệnh. Ở Pháp, Tuocha được bán khắp các hiệu buôn thực phẩm và nhà thuốc Tây.
Phân chất trà
Trà chứa 2 chất quan trọng nhất: Caffeine (hoặc theine) từ 1.5 đến 4%, Tannine từ 8 đế 20%.
Caffeine: Uống một tách trà nóng khi đang mệt nhọc, ta cảm thấy sảng khoái, hăng say làm việc tiếp tục. Người Đức có câu "Trà làm hăng say, không làm bực dọc" (Tee regt an aber nicht auf). Tại saỏ Vì chất "caffeine" trong trà không làm ảnh hưởng đến hệ thống tuần hoàn của tim mà chỉ làm tăng sự sự tuần hoàn của máu ở óc và ảnh hưởng trực tiếp đến thần kinh hệ, nhờ vậy gia tăng sự tập trung tư tưởng.
Tannine: Chất này làm bớt đau ruột, đau bao tử, làm dễ tiêu. Chất Tannine còn "thắng bớt" và điều khiển ảnh hưởng của "caffeine" nhờ vậy sự hăng say làm việc kéo dài ra.
Tại sao ta nên uống Thanh Trà?
Ở Âu Châu, số người uống Thanh Trà càng ngày càng tăng. Chỉ trong vòng 5 năm, tại Đức, số người uống Thanh Trà tăng 20 lần nhờ những khám phá mới nhất của các nhà nghiên cứu ở Nhật, Tàu và Âu Châụ Trà xanh ngăn bớt: răng bị sâu, làm chậm lại tuổi già, chống việc xương bị dòn, hạ áp huyết cao, chống ung thư, chống bệnh tim.
Tại Nhật và Tàu hầu như dân chúng chỉ uống Thanh Trà. Các nhà nghiên cứu Nhật nhận xét như sau: Ở Nhật tuổi trung bình 82 tuổi cho đàn bà, 72 tuổi cho đàn ông. Số người đau tim, ung thư, chết bất đắc kỳ tử rất thấp.
Người dân Trung Quốc tại vùng quê không bao giờ đánh răng. Mỗi sáng họ súc miệng bằng vài ngụm trà xanh. Câu chuyện đưới đây được truyền tụng trong dân gian:
Một ngày nọ bác sĩ hầu cận Mao Trạch Đông trong một cuộc thử máu thường xuyên nhận thấy số lượng bạch huyết cầu của họ Mao bị tăng, bác sĩ tìm nguyên do, ông nhận thấy chẳng những răng họ Mao màu xanh mà trên răng còn đóng một lớp bựa dơ dầy và chính lớp bựa này là cái ổ nhiễm trùng. Bác sĩ đề nghị họ Mao đánh răng mỗi ngày. Họ Mao trả lời: "Tôi chưa hề đánh răng bao giờ, từ khi tôi biết suy nghĩ. Con cọp có bao giờ đánh răng đâu, mà răng nó vẫn bén và không rụng. Ông giảng nghĩa sao về hiện tượng nàỷ". Vị bác sĩ cứng miệng và Mao chủ tịch tiếp tục không đánh răng, chỉ súc miệng bằng Thanh Trà buổi sáng và sau mỗi buổi cơm. Đến năm 80 tuổi, ngoài vài cái răng hàm trên bị rụng, tất cả bộ răng ông còn nguyên.
Cách pha Thanh Trà
Pha Thanh trà không bao giờ dùng nước sôi. Nước sôi để ngờ uội 5 phút rồi mới chế lên trà (80 độ C). Nếu uống đặc: 1 muỗng nhỏ trà cho 1 tách nước, nếu uống thường thì tùy sở thích. Bình trà có thể là bình sứ, bình đất nung hay bình thủy tinh. Chế nước sôi vô bình để hâm nóng bình, đổ nước ra bỏ, để trà vô và chế nước 80 độ C lên trà.
Pha trà: trà để vô nước 80 độ C từ 3 đến 5 phút, lấy muỗng quây 1 vòng, vớt xác trà ra. Xác nầy có thể pha lần thứ hai, lần này để 7 phút.
dungdt
22-07-2004, 02:27 PM
Cây trà
Trà là loại cây lớn, hàng năm nhánh trà được cắt tỉa ngắn đi để cây trà trở thành từng bụi rậm. Lá trà lúc nào cũng xanh đậm, mượt óng và có răng cưa chung quanh. Hoa trà màu trắng hoặc hồng lợt vì vậy được liệt vào loại "trà hoa nữ" (camélia). Trái trà nhỏ, có vỏ cứng, lớn bằng hạt dẻ. Người ta trồng trà theo lối ghép cành rồi đem trồng xuống đất. Hai loại cây trà cổ nhất là: "Thea Sinsensis" hoặc trà tàu và "Thea Assamica". Loại thứ nhất trồng ở vùng ôn đới, chịu nổi đông băng, loại thứ nhì chỉ trồng được ở nhiệt đới vì cần nhiều sức nóng. Với hai loại trà cổ đó, chuyên viên trồng trà ghép đi ghép lại nhiều lần và tạo được loại cây trà tên "Assamhybrid", đây là loại cây giống trồng cho các đồn điền trà trên khắp thế giới.
Sự khác biệt về hương vị nằm trong sự khác biệt về giống trà, về vùng đất trồng, về điều kiện thời tiết, về sự chăm sóc chu đáo ở xưởng biến chế.
Hái trà
Trên mỗi cành bìa chỉ có nụ trên cùng và hai lá phía dưới được hái mà thôi. Lá già làm giảm phẩm chất của trà rất nhiều sau khi biến chế xong. Thời gian hái cũng ảnh hưởng đến phẩm trà. Hái trà là công việc của các thiếu nữ vì họ nhanh nhẹn, khéo tay. Mỗi ngày họ hái từ 16 kg đến 24 kg, bào chế xong còn từ 4 kg đến 6 kg.
Lá trà khi mới hái không có mùi gì đặc biệt, chỉ sau khi một loạt những giai đoạn bào chế, mùi thơm của trà mới tỏa ra.
Cách chế tạo trà
Trà biến chế theo cách cổ điển thì phải trải qua 5 giai đoạn: làm héo lá, cuốn lá, lên men, làm khô, lọc trà. Trà biến chế theo lối mới thì qua 3 giai đoạn gọi là C.T.C. (Crushing, Tearing, Curling).
Các loại trà:
Trà đen
Trà đen phần lớn được chế biến tại Ấn Độ. Đó là loại trà "Darjceling" và "Assam". Trà đen không hạp với khẩu vị Việt Nam vì mạnh, nhưng lại hạp với người Âu Châu, nhất là dân Anh. Họ uống trà với sữa hoặc "crème", hoặc để vài miếng đường, nặn vào đấy thêm vài giọt chanh.
Ngày xưa khi Anh quốc còn là một cường quốc thuộc địa, giờ "tea-time" của dân Anh là một truyền thống "thiêng liêng"! Đúng 5 giờ chiều, "boong", tất cả ngừng lại mọi công việc để thưởng thức trà!
Trà Thiết Quan Âm
Người Trung Hoa gọi trà đen là trà đỏ "hồng trà". Người Việt chúng ta, nhất là các cụ lớn tuổi rất thích loại trà đỏ "Thiết Quan Âm". Trà đựng trong những hợp thiếc có tượng hình Đức Quan Thế Âm tay cầm nhành dương liễu, tay cầm bình nước cam lộ.
Trà "Thiết Quan Âm" có sự tích sau đây,
Trên đỉnh Vũ Di Sơn, tỉnh Phúc Kiến có một ngôi đền cổ thờ tượng Đức Quan Âm bằng sắt. Đền ở quá cao, ít người đi lễ nên lâu ngày đổ nát. Gần đó có một nông phu chuyên nghề trồng trà, ngày nào anh cũng đi qua đền để đến vườn trà. Anh rất đau lòng vì không có tiền để sửa sang đền, nhưng mỗi tháng vào ngày mồng 1 và 15 anh đều đến chùa quét dọn, lau chùi tượng Phật Bà. Một đêm nọ anh nằm mộng, thấy Đức Quan Thế Âm nói với anh rằng "đằng sau chùa có một cái hang, trong hang có một kho tàng con hãy đến lấy và nhớ chia cho láng giềng". Tỉnh dậy anh mừng quá, chạy ngay đến đền để tìm, hang thì có nhưng kho tàng thì không, chỉ có một cây trà nhỏ xíu. Tuy thất vọng, anh cũng bứng cây trà đem về vườn mình trồng. Hai năm sau anh hái được 600 gram lá, khi đem về nấu uống thử anh thấy thơm ngon lạ thường, đỡ mệt nhọc và tinh thần sảng khoáị Anh ra sức tạo giống, 5 năm sau anh có được 200 cây, anh mời các lái buôn lên vườn anh và pha trà cho họ uống thử. Khi hỏi tên trà anh xuất khẩu nói "Trà Thiết Quan Âm". Một lái buôn hỏi ngược lại: "Có phải vườn trà anh gần đền thờ tượng Thiết Quan Âm mà có tên đó không?". Anh gật đầu và kể lại giấc mơ xưạ Anh cũng không quên chia cây giống cho láng giềng và chẳng bao lâu cả quanh vùng đều được sung túc.
"Trà Thiết Quan Âm" không hẳn là trà đen mà là loại trà "Odong" tức là chỉ cho lên men một độ trà, trị rất hay bệnh đau nhức khớp xương cho người già. Đây là kinh nghiệm mà khách hàng Đức của tôi đã cho biết. Vậy các cụ ta nên thử xem.
Tại các tiệm thực phẩm Á Châu được bán một loại trà rất quen thuộc với chúng ta đó là trà "Odong". "Odong" là tên chung để gọi các loại trà chỉ cho lên men một độ, loại trà này chỉ sản xuất ở Trung Hoa Lục Địa và Đài Loan.
Trà Jasmin
Có 2 loại: loại lên men một chút và loại trà xanh, trộn chung hoặc ướp với hoa lài. Khi mua trà lẻ ta đừng tưởng có nhiều hoa lài là loại tốt mà ngược lại, trà Jasmin trộn nhiều hoa lài là loại xấu! lấy mùi hoa để đánh lừa khách hàng thôi!
Trà xanh Jasmin loại thượng hạng có tên là "White Hair Monkey" tức là trà "Khỉ tóc trắng"! Tên trên được đặt ra vì khi nhìn trà, ta thấy có nhiều lá trà màu trắng và không thấy một nụ hoa lài nào. Lúc uống, khi chế trà ra tách, mùi thơm hoa lài tỏa khắp phòng. Trà khá mắc, 100 gram khoảng 10 euro.
Thanh Trà
Thanh Trà Nhật: Thanh Trà là nước giải khát quốc hồn quốc túy của Nhật, nhưng Thanh Trà Nhật lại không thích hợp mấy với khẩu vị chúng ta, 3 loại Thanh Trà thông dụng nhất là: Sencha, Bancha và Genmaicha.
Sencha, được xay hơi nhuyển, có mùi thơm ngọt, hơi đắng, nước xanh đục. Nước nấu vừa bắt đầu nổi bọt quanh nồi và "kêu siêu" thì chế lên trà, để 5 phút vớt lá trà ra.
Bancha, khi lá non được hái để chế Sancha xong thì lá Bancha được hái cũng cùng trên một cây trà, như vậy lá Bancha dầy hơn cứng hơn, được xay lổn nhổn hơn. Nước sôi nóng hơn nước cho Sencha (90 C), chế lên lá trà 3 phút, vớt lá ra.
Genmaicha, là Bancha được trộn với gạo rang, có mùi thơm dịu của bắp, pha giống như Bancha.
Gyokuro trà là loại rất mắc, chỉ uống trong những lễ lạc để tỏ lòng hiếu khách (khoảng 36 euro 100 gram).
Thanh Trà Tàu: Tàu đứng hàng nhì trong các nước sản xuất trà và đứng đầu về sản xuất Thanh Trà, rất hợp với khẩu vị Việt Nam. Ở các tiệm thực phẩm Á Châu, ta thấy nhiều nhất là loại "Gun Powder", loại này khá mạnh lại không thơm. Trà "Chun Mec" hạp với chúng ta hơn vì mềm, thơm, mùi vị ngọt lại vừa túi tiền.
Hai loại thanh trà nổi tiếng thế giới của Tàu là "Pi-lo Chun" ở miền Nam và "Lung Ching" ở miền Bắc.
Pi-lo Chun (nhủ thạch mùa xuân), đây là loại trà quý, chỉ uống ở những lễ tiệc. Ngày xưa trà này tên là "Trà thúi chết", trà được trồng ở độ cao 4000 m. 4 giờ sáng, các thiếu nữ hái trà đã phải lên đường, leo núi rất chật vật. Khi mặt trời bắt đầu nóng, khoảng 9 giờ, các cô phải trở về. Trà chỉ hái 1 đọt non và 1 lá phía dưới. Vì trà quý và đắt giá nên các cô lén hái thêm, bỏ vào ống quần túm phía dưới cho đỡ vướng chân khi leo núi. Sức nóng của mặt trời, mùi mồ hôi tạo cho các cô một mùi khó ngửi! Có một người đàn ông đi ngang qua chỗ các cô sắp hàng để cân lá trà vừa hái, chịu không nổi mùi trên nên bịt mũi kêu lên "trà gì mà thúi chết đi được!". Từ đó trà chịu hàm oan mang tên "thúi chết" mặc dầu uống rất ngon.
Năm 1726 vua Khang Hy nhà Thanh tuần du Vân Nam, quan Tổng trấn địa phương sai pha trà đem dâng vua, uống xong vua hỏi trà tên gì, sao không thấy loại trà thơm ngon này trong cung, quan Tổng trấn cứ ngập ngừng, hoàng đế cứ vặn hỏi. Cuối cùng quan đành nói cái tên "thúi chết" ra! Nhà vua, vừa buồn cười, vừa bất bình ngài phán: Trà ngon mà tên quá xấu, để ta đặt cho tên khác "Pi-lo Chun" và tên nầy được truyền đến bây giờ.
Năm 1949, Tổng thống Tưởng Giới Thạch phải bỏ Trung Hoa Lục Địa, một số người Trung Hoa trốn theo và đem giống trà Pi-lo Chun trồng ở Đài Loan. Điều lạ là Pi-lo Chun Trung Quốc đắt giá hơn Pi-lo Chun Đài Loan nhưng lại không thơm ngon bằng. Trà này đặc biệt có dư vị rất thơm sau khi uống. Giá bán là 6 euro 100 gr.
Lung Ching (long tỉnh, hay giếng rồng), trà có tên "Long Tỉnh" vì ngày xưa tại tỉnh Vân Nam có một năm nọ trời hạn hán quá lâu, cây cỏ chết dần, dân đói kém. Bên cạnh một ngôi chùa nọ có một cái giếng khộ Tương truyền rằng ngày xưa có một con rồng sống trong giếng đó. Vị hòa thượng trụ trì mới đến trước miệng giếng khấn rằng: nếu rồng linh thiêng xin cho mưa xuống cứu dân và các vườn trà không chết khô. Chỉ vài giờ sau, mưa xuống như trút nước. Nhớ ơn trên, trà vùng đó được đặt tên trà Long Tỉnh và được đem cây giống trồng thêm ở miền Bắc Trung Hoa.
Trà Cúc, chrysanthemum tee
Trong các loại trà ướp hoa của Tàu, trà Cúc đáng được kể đến.
Tương truyền rằng ban đầu, trong một làng nọ bên Tàu, có rất nhiều cây cúc dại mọc theo bờ sông. Người nghèo nhổ cây về phơi khô rồi nấu nước uống thay trà. Điều đặc biệt là các thiếu nữ nghèo vùng nầy có một nước da đỏ hồng tươi mát. Ai hỏi bí quyết có được làn da mịn màng trên thì các cô trả lời nhờ uống nước cúc. Lần hồi cúc được biến chế thành trà và hiện tại là loại Chrysanthemum Tee instant.
Trà có tánh chất giải nhiệt, ngăn ngừa táo bón và nổi mụn ở mặt. Vậy các cô bé T.H. Lê Văn Duyệt nên uống trà Chrysanthemum để có một làn da mịn màng.
Các loại trà khác của Tàu:
Tàu có rất nhiều loại trà thuốc, hai loại đặc biệt nhất, được các hãng thí nghiệm và bào chế Âu Châu công nhận hiệu năng là: Tuocha của tỉnh Vân Nam & Bojenmi của Phước Kiến.
Hai loại trà trên làm tan chất mỡ thừa "cholesterol" đóng dọc theo mạch máu, ngăn ngừa bệnh nghẻn máu (Infarctus).
Người Tàu dùng Tuocha để đổi lấy ngựa với các bộ lạc du mục ngoại mông. Các bộ lạc này chỉ biết ăn thịt chớ không biết trồng rau để ăn nên hay bị bệnh. Mỗi người đều có 1 "bánh" Tuocha trong mình để uống khi ngã bệnh. Ở Pháp, Tuocha được bán khắp các hiệu buôn thực phẩm và nhà thuốc Tây.
Phân chất trà
Trà chứa 2 chất quan trọng nhất: Caffeine (hoặc theine) từ 1.5 đến 4%, Tannine từ 8 đế 20%.
Caffeine: Uống một tách trà nóng khi đang mệt nhọc, ta cảm thấy sảng khoái, hăng say làm việc tiếp tục. Người Đức có câu "Trà làm hăng say, không làm bực dọc" (Tee regt an aber nicht auf). Tại saỏ Vì chất "caffeine" trong trà không làm ảnh hưởng đến hệ thống tuần hoàn của tim mà chỉ làm tăng sự sự tuần hoàn của máu ở óc và ảnh hưởng trực tiếp đến thần kinh hệ, nhờ vậy gia tăng sự tập trung tư tưởng.
Tannine: Chất này làm bớt đau ruột, đau bao tử, làm dễ tiêu. Chất Tannine còn "thắng bớt" và điều khiển ảnh hưởng của "caffeine" nhờ vậy sự hăng say làm việc kéo dài ra.
Tại sao ta nên uống Thanh Trà?
Ở Âu Châu, số người uống Thanh Trà càng ngày càng tăng. Chỉ trong vòng 5 năm, tại Đức, số người uống Thanh Trà tăng 20 lần nhờ những khám phá mới nhất của các nhà nghiên cứu ở Nhật, Tàu và Âu Châụ Trà xanh ngăn bớt: răng bị sâu, làm chậm lại tuổi già, chống việc xương bị dòn, hạ áp huyết cao, chống ung thư, chống bệnh tim.
Tại Nhật và Tàu hầu như dân chúng chỉ uống Thanh Trà. Các nhà nghiên cứu Nhật nhận xét như sau: Ở Nhật tuổi trung bình 82 tuổi cho đàn bà, 72 tuổi cho đàn ông. Số người đau tim, ung thư, chết bất đắc kỳ tử rất thấp.
Người dân Trung Quốc tại vùng quê không bao giờ đánh răng. Mỗi sáng họ súc miệng bằng vài ngụm trà xanh. Câu chuyện đưới đây được truyền tụng trong dân gian:
Một ngày nọ bác sĩ hầu cận Mao Trạch Đông trong một cuộc thử máu thường xuyên nhận thấy số lượng bạch huyết cầu của họ Mao bị tăng, bác sĩ tìm nguyên do, ông nhận thấy chẳng những răng họ Mao màu xanh mà trên răng còn đóng một lớp bựa dơ dầy và chính lớp bựa này là cái ổ nhiễm trùng. Bác sĩ đề nghị họ Mao đánh răng mỗi ngày. Họ Mao trả lời: "Tôi chưa hề đánh răng bao giờ, từ khi tôi biết suy nghĩ. Con cọp có bao giờ đánh răng đâu, mà răng nó vẫn bén và không rụng. Ông giảng nghĩa sao về hiện tượng nàỷ". Vị bác sĩ cứng miệng và Mao chủ tịch tiếp tục không đánh răng, chỉ súc miệng bằng Thanh Trà buổi sáng và sau mỗi buổi cơm. Đến năm 80 tuổi, ngoài vài cái răng hàm trên bị rụng, tất cả bộ răng ông còn nguyên.
Cách pha Thanh Trà
Pha Thanh trà không bao giờ dùng nước sôi. Nước sôi để ngờ uội 5 phút rồi mới chế lên trà (80 độ C). Nếu uống đặc: 1 muỗng nhỏ trà cho 1 tách nước, nếu uống thường thì tùy sở thích. Bình trà có thể là bình sứ, bình đất nung hay bình thủy tinh. Chế nước sôi vô bình để hâm nóng bình, đổ nước ra bỏ, để trà vô và chế nước 80 độ C lên trà.
Pha trà: trà để vô nước 80 độ C từ 3 đến 5 phút, lấy muỗng quây 1 vòng, vớt xác trà ra. Xác nầy có thể pha lần thứ hai, lần này để 7 phút.
dungdt
22-07-2004, 02:53 PM
Trà ViệtKhông biết Trà Việt Nam lấy giống từ đâu, nhưng theo cách làm, thì có 3 loại: chè tươi (không phải trà tiếng Hán, mà là chè tiếng Bắc), chè Xanh và chè Đen .
Trà tươi hái từ giống trà tươi, cao thân cành, và lá to hơn các lọai trà kia . Chỉ hái lá chứ không hái đầu cành (ngọn, hay búp) và để cho cành tiếp tục mọc thêm. Lá trà tươi cho thẳng vào nồi nước mới đun sôi, rồi ủ một lúc là uống được . Khi uống, thì uống bằng bát (chén) ăn cơm, hay bằng cốc (ly), và có thể pha đường .
Trà đen được trồng nhiều ở nông trường chè Phú Thọ, chuyên làm trong các xưởng làm chè đen xuất khẩu sang Liên Xô, và châu Âu. Làm Trà Đen thì có đoạn phải lên men. Người Việt không quen uống lọai này, chê là không đủ mạnh, và có màu nâu, đỏ sẫm .
Trà Xanh, còn gọi là Trà Tàu, được trồng cả Bắc lẫn Nam . Người Bắc thì trồng trà tự nhiên, bón phân hữ cơ hoặc ít, hoặc không bón phân, nên cây rất bé nhỏ cằn cỗi. Trà làm ra rất ít, rất mạnh (tỷ lệ cafein cao), khi bán tính theo lạng (1/10 kilogram). Miền Nam Việt Nam vùng Đồng Nai trồng trà có bón phân nên cây tốt tươi hơn, thường cao ngang ngực, và khi bán thì tính theo kilô. Khi làm trà này, chỉ phơi cho hơi tái, vò nhàu, rồi xào trên bếp nhỏ lửa đến khi khô . Miền Bắc thì có người vò nhàu bằng đạp chân, xào bằng chảo nhỏ, và đảo trà bằng tay . Miền Nam thì đảo bằng máy có động cơ điện. Trà Xanh khi uống thì uống bằng chén (?) hạt mít theo kiểu Nguyễn Tuân.
Trà Xanh miền Bắc nổi tiếng ngon là Trà vùng Quán Triều (trên thị xã Thái Nguyên chục ki lô met). Trà Xanh có tiếng nhiều là vùng Đại Từ (giữa Thái Nguyên và Phú Thọ). Trà Xanh có tiếng đẹp mã (xám xanh nhạt, có lấm tấm trắng như mốc trắng, và đều hạt, nhỏ như hạt đậu xanh) là trà Bắc Kạn. Trà nổi tiếng lịch sử là Trà Hà Giang, Sơn La, vùng người Mèo (H'Mon) còn gọi là trà Tuyết, cây có thân to cả mấy người ôm, cành to và dài vài mét, một cây hái được vài chục kilô trà xanh chưa sấy khô. Nghe nói trà đó là do lính miền xuôi trồng trong những trận đánh ngọai xâm với chiến tranh du kích, phải bỏ trại lính mà vào rừng sâu.
Ngoài Trà, thì Việt Nam vốn uống lá Vối . Vối là giống cây gỗ mềm, mọc nhanh, mọc nơi trũng thấp nhiều nước, thường ven sông suối ao hồ. Lá Vối khá to, gần bằng bàn tay người lớn. Cây Vối thường to một người ôm. Lá Vối tươi có vị ngọt như Cam-Thảo, tức là sau khi nếm rồi hít gió bằng miệng thì nơi gió thổi vào có vị ngọt, và có vị chát như Trà. Lá Vối hái về, rửa sạch và nấu chung với nước như luộc rau vậy, nhưng cũng có thể hãm (một từ chuyên cho Trà đạo, có nghĩa là pha) sau khi nước đã sôi như trà Tươi vậy. Nước Vối uống bằng bát (chén) chứ không bằng cốc (ly). Nụ Vối cũng được nấu uống như lá Vối, vì một cây Vối có thể cho cả chục ký nụ. Lá Vối lấy từ cây mọc hoang trên rừng, phơi khô đem về đồng bằng cũng được. Mùa Đông ngoài Bắc, cây Vối rụng lá như cây Bàng, cây Xoan (Sầu Đông) vậy. Đó là lúc thu nhặt lá Vối rụng phơi khô để mùa hè sang năm hãm nước uống vậy .
seabird
22-07-2004, 02:56 PM
Originally posted by fuji@Jul 21 2004, 01:06 PM
À, hay hôm nào tớ về bọn mình đi uống trà đạo đi.Ở HN nhiều quán lắm...Tớ sẽ gọi cả Canhhoabuoi và LH đi cùng nữa, có dịp cho bạn SB thể hiện.Cậu nhỉ.....
Mai tớ thi môn cuối cùng, và sẽ được nghỉ hè luôn.Ôi, lại các kế hoạch, kế hoạch...Suốt ngày kế hoạch.....
Quoted post
Đồng ý thôi nhưng mà ko dám thể hiện đâu, bạn bè lâu lâu gặp gỡ chút thôi mà. Nghỉ hè Fuji định làm gì?? Rỗi thì đi chơi nhiều nhiều và take picture nhé, lâu ko gặp, ko biết dạo này cao hơn ko?, xinh hơn ko? tóc ngắn hay dài?? ;)
dungdt
22-07-2004, 03:23 PM
Trà Hà Nội
Trà Trường Xuân khai trương lần đầu ở phố Hàng Cót, không gian hơi chật trên con phố hơi đông người, gần chợ không phải chốn để người ta tận hưởng hết những dư vị ngọt đắng, tươi lành của nắng của mây, của đất non cao, của đỉnh mờ sương... Trạm dừng chân thứ hai tại 180 Yên Phụ, chưa thực sự mãn nguyện nhưng nó cũng dễ làm người ta quên được phố xá, người xe. Câu lạc bộ những người yêu thích trà VN chính thức khai trương vào ngày 26-10-2001, như là sự cổ xúy tinh thần đầu tiên cho nghệ thuật thanh tao trong thú ẩm thực thường ngày của người Việt.
Trong khu phố ô bàn cờ ngày xưa có một hiệu trà nổi tiếng Hà thành ở phố Hàng Bột mang tên Linh dược trà, hiệu Diệu Xoan. Hiệu trà này chuyên buôn bán trà cho những người Hoa nổi tiếng bấy giờ như Chính Lý, Chính Thái - những hàng trà hạng nhất ở Hàng Bồ, Hàng Cân, Hàng Ðường... Nghệ nhân Trường Xuân là đời thứ năm của Linh dược trà. 40 năm nghiên cứu và thừa hưởng những tinh hoa của gia đình, ông mong muốn xây dựng được một nền nếp, phực hưng cho văn hóa trà VN, một thứ ẩm thủy kỳ diệu nhất trong nghệ thuật ẩm thực của người Việt. Hiện nay, gia bảo của ông là 30 loại trà do chính tay ông làm, với ba nhóm trà chính. Trà xanh nguyên thủy là loại trà mộc chưa ướp hương được đưa về từ vùng hoang dã trên đỉnh cao 800 - 1350m, những cây trà hoang dại mọc xen lẫn với cây rừng ở Phìn Hồ, Nậm Phì, Ðồng Văn... từ những cây chè ở Suối Giàng mà vào năm 1958, một người Nga đã khảo sát vùng trà này và tìm thấy hơn 40.000 cây trà cổ thụ, có cây to ba người ôm không xuể; hay trà Shan Tuyết ở cao nguyên Mộc Châu... Nhóm trà bổ dưỡng được ông dày công nghiên cứu và dựa trên những kinh nghiệm gia truyền, chủ yếu dựa trên nền trà VN : kết hợp giữa thuốc bắc, long nhãn, hạt sen, hoa cúc... và mật ong đong thành những chén trà quý hơn vị thuốc... Ðặc sắc nhất chính là loại trà ướp hương hoa tự nhiên. Có hương đêm lơ lẳng của nhài, có ngầy ngậy của sói, có thuần nhị của mộc, man mát, thanh tịnh và ngát của sen... Ngon nhất và công phu nhất là trà sen. Ngày xưa một cân trà sen trị giá bằng ba chỉ vàng và bây giờ cũng không rẻ hơn. Một cân trà sen ở Trường Xuân được làm bằng 1000 bông hoa sen Hồ Tây. Loại sen lớn gấp hai lần sen ở những vùng khác. Khi trời còn đẫm sương, chưa một ánh nắng yếu ớt nào chạm xuống mây, những nghệ nhân trà đã phải thuê các thiếu nữ với đôi tay thuần thục đi lẩy gạo sen trên hồ. Gạo sen chính là những nhụy trắng non trong đài sen, phải gẩy thật khéo, thật khẽ để gạo sen không nát không bẹp. Ðem thứ gạo quý ấy về, rải từng lớp nhẹ lên từng lớp trà mỏng, ủ kỹ rồi đem sấy khô. Cứ ướp đi ướp lại tới khoảng bảy lần thì được thứ trà sen ngát hương như ý. Khi ấy cánh trà tơi, xốp, đủ để thấm hết hương sen, nước trà xanh, vị trà không còn đậm chát. Nâng nhẹ chén trà nhỏ bằng quả cau trên ngón tay thả thật mềm, thấy hương sen thật gần thật xa, như nồng nàn, như lãng quên, như thường tình, như thanh thoát...
Ba loại nước quý nhất để pha trà là Sơn thủy thượng (nước đầu ngờ uồn hoặc sương tuyết tan trên vùng băng giá), Giang thủy trung (nước ở giữa lòng sông) và Tĩnh thủy hạ (nước ở giếng sâu). Nghệ nhân Trường Xuân đã cất công đi tìm ngờ uồn nước Tam Ðảo, chảy qua những đỉnh non không bóng người hòa với ngờ uồn chảy từ Tuyên Quang. ngờ uồn nước quý này còn chờ sự kiểm định cuối cùng, trong lúc ẩm khách đến với Hiên trà Trường Xuân đang được thưởng trà lấy nước từ giếng chùa Quang Ân.
Trà Đạo Việt nam ở Yên phụ: Uống trà đúng nơi thưởng thức, cảnh vật thì nhìn ra Hồ tây, phong cảnh hữu tình, vừa đến đã có chú chó ngoe ngẩy ra đón, không gian mát mẻ, có vài bông sen mọc trên những chậu hoa trông thật lạ. Vào trong, thay vì ngồi ghế gỗ hay ghế nhựa, bạn được ngồi ghế mây. Nhạc nhẽo thay vì Đan Trường bạn được nghe những tình khúc Văn Cao, Phạm Duy cho đời thêm thi vị. Nhưng như thế chưa đủ, khi tách trà bưng ra, cách anh con trai bác chủ quán nói về trà mới thật là sướng :
"...ở đây có 2 loại trà đặc biệt là trà Sen và trà Tà Sùa, riêng với trà Tà sùa chỉ mọc ở núi cao trên 1800m ở Sơn la, một năm chỉ cho ra được 5 cân, phần nhiều dành cho các quan chức Sơn la uống, nhưng anh cũng đã sưu tầm được 2 cân, mời các em thưởng thúc..còn loại trà Sen thì đây là loại trà được ướp bằng hơn 1000 bông sen ở Hồ Tây, khi uống sẽ có vị đặc biệt của Tây hồ...
Ngoài ra có thể nghe một ông già tóc bạc phơ áo nâu chính là chủ quán và nhứng người bạn của ông đàm đạo giải thích về thú chơi trà, thú chơi ảnh, và được xem những bức ảnh nghệ thuật trà trên tường mới thật là thú vị, quá đỉnh. Phân tích:
- Này nhé, trà tam rược tứ, chúng ta có 3 người ngồi đây
- Ngồi phong cảnh quá ổn, ghế mây.
- Lại uống vào sáng thứ 7, mặt hồ Tây lặng lẽ, con người cũng lặng lẽ sau 1 tuần làm việc căng thẳng
- Nghe nhạc Văn cao
- Hút thuốc vina, ăn omai, kẹo lac, bánh chả, đậu xanh, thêm một cái đỉnh nữa
- Uống trà đúng kiểu, nghe giảng giải về trà
Hy Lạc Trà Lầu ở đường Nguyên Hồng. Nói về mức độ cầu kỳ khi pha trà thì hơn hẳn quán Trà đạo VN. Ngay cả cách chế biến trà cũng vậy. Trà Nữ nhi hoàn giống như cái nhẫn của con gái, Long tỉnh cánh trà phẳng như bị ép trong sách, Điệp luyến hoa trà giống như đôi cánh của con bướm... gần như mỗi cánh trà đều được tạo ra bằng bàn tay lao động thủ công. Xét về mức độ công phu thì chắc chỉ có hơn trà sao tẩm VN.
Đã gọi là Đạo thì cái cần nhất là sự tập trung và tinh thần toát lên từ mỗi động tác chế biến trà, pha trà, uống trà... bố con nhà bác Trường Xuân hay quán Hy Lạc pha trà chẳng thấy tí Đạo nào cả. Đến cả cái quán Ocha trà Nhật đã đóng cửa, pha trà theo đúng nghi thức của Nhật nhưng cũng không có lấy một chút tinh thần của Đạo. Những chỗ đấy đến để uống trà thôi, gọi là đạo nó phí đi.
seabird
23-07-2004, 07:21 PM
To dungdt: tui và U có quen nhau ko nhi [-(
thanhhoa62003
23-07-2004, 09:49 PM
Trà đạo HN vô đường Hồ Xuân Hương uống cũng được đấy! Tuy nhiên trước đây thôi... còn bi giờ lũ choai choai học sinh chúng vào đấy rất xô bồ làm mất đi vẻ trầm tĩnh nơi đây! Nhất là chúng vào quán trà mà toàn gọi rượu ra để chúc tụng nhau chứ! Bọn trẻ hư thật! :P