PDA

View Full Version : Giải Nobel


MinhKhánh
06-10-2004, 02:09 PM
Công trình về khứu giác đoạt giải Nobel y học 2004 (http://www.vnexpress.net/Vietnam/Khoa-hoc/2004/10/3B9D720A/)

Giải Nobel Y học 2004 vừa được trao cho hai nhà nghiên cứu Mỹ, Richard Axel và Linda B. Buck, với công trình tìm hiểu sự hoạt động của giác quan bí ẩn nhất - khứu giác. Chẳng hạn, bằng cách nào một người có thể ngửi thấy cây đinh tử hương trong mùa xuân, và nhớ lại nó trong mùa đông.

Nobel Vật lý 2004 thuộc về ba nhà nghiên cứu Mỹ (http://www.vnexpress.net/Vietnam/Khoa-hoc/2004/10/3B9D72B7/)

David J. Gross, H. David Politzer và Frank Wilczeck đã chính thức trở thành chủ nhân của giải Nobel Vật lý năm nay với những khám phá về lực hạt nhân mạnh - loại lực giúp liên kết các hạt nằm trong nhân nguyên tử.

MinhKhánh
08-10-2004, 04:25 PM
Giải Nobel về Khoa Học, Văn Chương và Kinh Tế 1901-1999:

Một Vài Phân Tích và Bài Học

Nguyễn Văn Tuấn

Tháng Mười này (1999), như thông lệ hàng năm, Hàn Lâm Viện Thụy Điển đã công bố danh sách các nhà khoa học, văn thi sĩ, và các nhà hoạt động xã hội chính trị được trao giải Nobel. Năm nay, ông Gunter Blobel, giáo sư trường Đại học Rockefeller (New York) được trao giải thưởng về y khoa, do có công khám phá sự vận chuyển của các proteins trong tế bào. Giải Nobel về Vật lý được tặng cho hai ông Gerardus T. Hooft thuộc trường đại học Utrecht (Hòa Lan) và ông Martinus J.G. Veltman, người Hòa Lan, nguyên là giáo sư vật lý trường Đại học Michigan (Mỹ). Hai vị này đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quan tới cấu trúc và sự liên đới giữa các electron. Giải về hóa học được trao cho giáo sư Ahmed Zewail, người gốc Ai Cập, thuộc Học Viện Kỹ Thuật California (California Institute of Technology), do các công trình nghiên cứu về sự thay đổi của các phản ứng hóa học dùng femtosecond spectroscopỵ Giải Nobel về văn chương về tay nhà văn Gunter Grass (Đức). Giáo sư Robert A. Mundell thuộc trường Đại học Columbia được trao giải Nobel về kinh tế học, vì đã có công phân tích hệ thống tiền tệ và chính sách tài chính trong các chế độ chuyển ngân khác nhau. Và sau cùng là giải Nobel về hòa bình được tặng cho "Nhóm y sĩ không biên giới" (Doctors without Border hay Médicins sans Frontieres) ở Bỉ, do các hoạt động thiện nguyện của nhóm này trên khắp thế giớị Đây là năm cuối của thiên niên kỷ, nên tôi có tò mò thu thập vài dữ kiện liên quan đến giải thưởng nàỵ

Như chúng ta đã biết, giải Nobel là một giải thưởng cao quí nhất dành cho các nhà khoa học, văn thi sĩ và các nhà hoạt động vì hòa bình. Giải này được trao theo y như di chúc của ông Alfred Nobel, một nhà hóa học và kỹ nghệ người Thụy Điển sống vào thế kỷ thứ 19. Năm 1845, ông Alfred Nobel viết trong di chúc rằng phần bất động sản của ông nên được dùng cho việc thành lập một ngân quỹ để tặng cho các nghiên cứu xuất sắc, hay có công đem lại phúc lợi lớn nhất cho nhân loại. Ông chọn ra 4 ngành để trao giải: vật lý, hóa học, văn chương, và cho mục tiêu hoà bình. Cũng theo di chúc đó, một trong 4 giải thưởng này nên được tặng cho những ai có khám phá quan trọng trong lĩnh vực y khoa (medicine) và sinh lý học (physiology). Sau này, giải thưởng về kinh tế học cũng được đưa vào hệ thống giải Nobel.

Không có giải thưởng Nobel về toán học, một ngành khoa học được coi là "hoàng tử trong các khoa học". Điều này cũng gây ra nhiều suy luận và đồn đãi không chính xác; một trong những lời đồn này là bà vợ ông Nobel bị một nhà toán học nổi tiếng người Thụy Điển (Gosta Mittag-Leffler) cám dỗ, nên ông ghét những nhà toán học. Sự thực thì ông Nobel không bao giờ có vợ, ông ta chỉ có một người tình, gốc Áo tên là Sophie Hess. Ông Mittag-Leffler cũng chẳng có quan hệ tình cảm gì với bà Sophie Hess. Lý do chính không có giải Nobel cho toán học là vì ông Nobel không thích toán học hay các môn học lý thuyết (ông là một nhà kỹ nghệ, rất thực tế). Theo ông, các môn học này thiếu tính thực tế. Do đó, trong các giải thưởng về vật lý, người ta thường thấy liên quan tới các công trình nghiên cứu vật lý ứng dụng hơn là vật lý lý thuyết. Tất nhiên sau này, các nhà toán học có thành lập một giải riêng có tên là The Field Prize (Field là tên một nhà toán học người Gia Nã Đại) cho cộng đồng toán học.

Giải Nobel về vật lý, hóa học va kinh tế học được giao cho Hoàng Gia Hàn Lâm Viện Khoa Học Thụy Điển (Royal Sweh Academy of Sciences) phụ trách. Giải Nobel về y khoa và sinh lý học được Viện Nghiên Cứu Y Khoa Karolinska ở Stockholm (Karolinska Institute of Stockholm) đảm nhận. Về văn chương, Hàn Lâm Viện Thụy Điển (Sweh Academy) được giao nhiệm vụ quản lý. Riêng giải thưởng về Hòa Bình được một hội đồng năm người (Norwegian Nobel Committee), bầu chọn bỏi Quốc Hội Na Uy, đảm nhận. Các cơ quan này, ngoài việc đảm nhận quản lý giải Nobel, còn được ủy nhiệm tìm chọn người xứng đáng.

Quá trình chọn người xứng đáng và tặng giải tương đối đơn giản. Mỗi năm, vào tháng Hai, hội đồng giải Nobel (Nobel Committees) gửi thư đến hàng ngàn nhà khoa học, nhà văn, nhà thơ, các hàn lâm viện sĩ ở nhiều nước, và yêu cầu họ đề cử người xứng đáng được tặng giải Nobel. Những ngưỡi được gửi giấy mời đề cử thường là hội viên của Hàn Lâm Viện Hoàng Gia (Royal Academy of Sciences), các nhà khoa học đã từng được tặng giải Nobel, các giáo sư trong các phân khoa y khoa ở các nước Bắc Âu như Thụy Điển, Đan Mạch, Phần Lan, Iceland và Na Uy, và các dân biểu của các nước nàỵ Sau khi đã có một danh sách các nhà khoa học, văn thi sĩ, nhà hoạt động được đề cử, một hội đồng gồm 12 người sẽ họp và bầu. Đề cử viên nào được nhiều phiếu nhất sẽ được công bố và tặng giải. Trong trường hợp không có đa số phiếu, giải thưởng sẽ không được phát cho ai.

Giải Nobel cũng có khi gây sóng gió chính trị. Năm 1937, Hitler ra lệnh cấm công dân Đức nhận giải Nobel, vì trước đó (1935) giải này đã được trao cho một đối thủ chính trị của Hitler là ông Carl von Ossietzkỵ Cũng có khi người được tặng giải lại từ chối nhận giải, như trường hợp ông Lê Đức Thọ, nhưng tên họ vẫn được ghi vào danh sách những người được giảị Giải Nobel chỉ được trao cho người còn tại thế (ngoại trừ trường hợp ông tổng thư ký Liên Hiệp Quốc Dag Hammarskjoeld được ta9.ng giải hòa bình năm 1961 sau khi ông đã qua đời một năm). Công nương Diana Spencer, công chúa của xứ Wales (The Princess of Wales) đã được đề cử giải Nobel hòa bình năm 1997, nhưng hội đồng quyết định không trao, vì bà đã qua đời trước đó.

Tất cả các giải thưởng được trao từ năm 1901, ngoại trừ giải về kinh tế học được trao từ năm 1969. Kể từ năm 1901 tới 1999, HLV Thụy Điển đã trao giải Nobel cho đúng 600 nhà khoa học và văn thi sĩ (không tính 98 giải thưởng về hòa bình). Trong số này, y học và sinh lý học chiếm nhiều giải nhất (167 giải), tiếp đến là vật lý (159), hóa học (134), văn chương (96) và kinh tế học (44). Tuy nhiên, giải này không hoàn toàn liên tục, vì không chọn được ai xứng đáng, hay vì chiến tranh. Những năm 1940-1942, vì lý do chiến tranh nên không có tổ chức phát giải. Đây là một giải thưởng có giá trị lớn về mặt tài chính. Vào những năm đầu thế kỷ, mỗi giải Nobel trị giá khoảng 130,000 tới 151,000 kronor Thụy Điển (tức khoảng 40 ngàn đô la Mỹ); vào thập niên 50s và 60s, 164,000 tới 226,000 kronor; vào thập niên 80s, 880,000 tới 3 triệu kronor (khoảng 1 triệu đô la Mỹ); và năm 1999 là 7.9 triệu kronor tức tương đương 960,000 đô la Mỹ.

Có thể nói mỗi giải Nobel về khoa học phản ánh một tiến bộ quan trọng trong khoa học và kỹ thuật. Nhìn qua các công trình khoa học được trao giải này cũng có thể cho người ta một một khái niệm về quá trình văn minh của nhân loại. Trong ngành vật lý, người được giải Nobel đầu tiên (1901) là ông Wilhelm K. Roentgen, người Đức do có công khám phá ra quang tuyến X. Những khám phá quan trọng khác trong vật lý và hóa học phải kể đến khám phá về phóng xạ (radioactive; giải Nobel năm 1903 cho ba nhà khoa học người Pháp Antoine H. Becquerel, Pierre Curie, và Marie Sklodowska Curie); thuyết tương tương đối (Mỹ; Albert Einstein, 1921); cấu trúc của nguyên tử (Đan Mạch; Niels Bohr, 1922); đo lường electron (Mỹ; Robert A. Millikan, 1923); khám phá neutron (Anh; James Chadwick, 1935); và thuyết superconductivity (Mỹ; John Bardeen, Leon N. Cooper, và John N. Schrieffer, 1972). Trong ngành y khoa và sinh lý học, những công trình và khám phá có tính cách lịch sử phải kể đến nghiên cứu liên quan tới bệnh sốt rét (Anh; Ronald Ross, 1902); bệnh lao (Đức; Robert Koch, 1905), sốt ban (Pháp; Charles Nicolle, 1928); phân loại máu (Mỹ; Karl Landsteiner, 1930), bệnh truyền nhiễm (Alexender Fleming, Mỹ; Ernst Boris Chain, Anh; Howard Walter Florey, Uùc, 1945), sốt vàng (Mỹ; Max Theiler, 1951), chữa trị bệnh lao bằng thuốc streptomycin (Mỹ; Salman Abraham Waksman, 1952); và khám phá DNA (Francis Harry Compton Crick, Anh; James Dewey Watson, Mỹ; và Maurice Hugh Frederick Wilkins, Anh, 1961). Các giải Nobel về y khoa và sinh lý học sau này thường được trao cho các công trình nghiên cứu liên quan tới khoa học sinh học phân tử )molecular biology). Những tiến bộ về sinh học phân tử và di truyền học những năm gần đây phần lớn nhờ vào các kỹ thuật PCR (polymerase chain reaction) do hai nhà khoa học Mỹ (Kary Mullis) và Gia Nã Đại (Michael Smith) khám phá, và đã được trao giải thưởng Nobel về hóa học vào năm 1993.

MinhKhánh
08-10-2004, 04:26 PM
Trong suốt thế kỷ 20 này, Mỹ và các nước Tây phương luân phiên nhau chiếm hầu hết các giải thưởng Nobel. Hơn 90% (trong số 600 giải) được trao cho các nhà khoa học và hoạt động của 16 nước như sau (theo thứ tự): Mỹ, Anh, Đức, Pháp, Thụy Điển, Nga, Thụy Sĩ, Hòa Lan, Đan Mạch, Ý, Áo, Gia Nã Đại, Nhật, Na Uy, Úc và Bỉ. Nhìn qua số giải các nước này đoạt được, tôi có thể chia làm 6 nhóm như sau:



Nhóm 1 (231 giải): Mỹ

Nhóm 2 (40 tới 70): Anh, Đức và Pháp.

Nhóm 3 (10 tới 30): Thụy điển, Nga, Thụy sĩ, Hoà Lan, Đan Mạch, và Ý.

Nhóm 4 (5 tới 9): Áo, Gia Nã Đại, Úc, Nhật, Na uy, Bỉ, Tây Ban Nhạ

Nhóm 5 (3 tới 4): Hung gia lợi, Ấn độ, Aí nhĩ lan, Ba lan và Tô cách lan.

Nhóm 6 (1 tới 2): phần còn lại như Chí lợi, Mễ Tây Cơ, Ai cập, Hy lạp, Á căn đình, Columbia, Guatamela, Hồi quốc (Pakistan), Nigeria, Bồ đào nha, Iceland, Slovia, West Ấn Độ, Trung quốc và Nam Tư.



Nếu nhìn giải Nobel là một thước đo về sự tiến bộ về khoa học và kỹ thuật, và phân tích theo vài móc thời gian trong thế kỷ này theo từng nhóm cho thấy nền khoa học kỹ thuật của Mỹ đang trên đà càng ngày càng phát triển. Trong những năm trước 1946, Mỹ chỉ chiếm khoảng 15% trong tổng số 185 giải, thấp hơn Đức (20%) và chỉ tương đương với Anh (14%) và Pháp (13%). Tuy nhiên, sau Thế chiến thứ II (1946-1960), Mỹ đột nhiên nhảy lên địa vị số một, chiếm 45% các giải Nobel, hơn cả Anh (17%), Đức (6%) và Pháp (5%). Mỹ duy trì địa vị này vào những năm 1961 và 1980, trong khi các cường quốc khác không có gì thay đổi quan trọng. Nhưng trong thập niên 80s và 90s, số lượng giải Nobel được trao cho các nhà khoa học và văn thi sĩ người Mỹ lên đến 55%, trong khi đó cả ba nước Anh, Đức và Pháp chỉ chiếm 18%. Trong cùng thời gian này, nhóm 3 (tức các nước Bắc Âu, Nga, Ý, Thụy Sĩ và Hòa Lan) càng ngày càng tụt hậu. Nhóm 4 có lẽ là nhóm "lè phè" nhất, chiếm khoảng 7 tới 9% và không có gì thay đổi đáng kể trong những thập niên gần đâỵ Ngược lại, nhóm 5 thì lại tụt hậu kể từ sau năm 1945 và có dấu hiệu cho thấy không "ngóc đầu" lên nỗi. Nhóm 6, tức là nhóm có nền kinh tế kém phát triển nhất và có thể cho là các nước "đang phát triển" lại có đà thăng tiến đáng mừng, nhất là trong thập niên 80s và 90s.



Phân phối số giải Nobel theo nhóm và giai đoạn(%)



1901-1945 1946-1960 1961-1980 1981-1999

(N=185) (N=88) (N=164) (N=163)

Mỹ 14.6 45.5 45.7 54.6

Nhóm 2: 45.6 27.3 25.0 17.8

Nhóm 3: 19.5 17.1 12.2 6.8

Nhóm 4: 8.7 3.4 7.9 6.8

Nhóm 5: 5.9 1.1 1.2 1.2

Nhóm 6: 5.7 5.6 7.9 12.8



[N là số giải thưởng cho từng giai đoạn.]





Phân tích theo lĩnh vực hoạt động cũng cho thấy Mỹ rõ ràng có thế mạnh về các ngành khoa học, đặc biệt là kinh tế học, y khoa, và vật lý, nhưng lại không ở thế chủ lực về môn hóa học, và yếu về mặt văn chương. Trong suốt 30 năm (kể từ 1969), Mỹ chiếm hơn 60% các giải thưởng về kinh tế học! Trong khoảng thời gian 1901-1999 (ngoại trừ 1940-1942), gần phân nửa trong số 167 giải thưởng cho ngành y khoa và sinh lý học lọt về tay các nhà khoa học Mỹ hay làm việc ở Mỹ. Tương tự, 45% các giải về vật lý cũng được các nhà khoa học Mỹ thay nhau đoạt giảị Tuy nhiên, trong ngành hóa học, nhóm 2 (Anh, Đức và Pháp) "thống trị". Trong hơn 90 năm qua, ba nước này đoạt 40% các giải thưởng về hóa học, cao hơn Mỹ (35%). Về văn chương, nhóm 2, mà đặc biệt là Pháp, đứng đầu. Trong thế kỷ này, các nhà văn và nhà thơ Pháp chiếm 12.5% các giải Nobel về văn chương, trong khi đó, Đức và Anh mỗi nước đoạt khoảng 7%, thấp hơn Mỹ (10%). Nhóm 3 (Thụy điển, Nga, Thụy sĩ, Hoà Lan, Đan Mạch, và Ý) cũng có phần tương đối (22%) trong các giải về văn chương. Nhóm các nước phát triển (nhóm 6) cũng chiếm khoảng 1 phần 5 tổng số 96 giải Nobel về văn chương.



Phân phối số giải theo nhóm và lĩnh vực (%)



Y khoa Vật lý Hóa học Kinh tế Văn chương

(N=167) (N=159) (N=134) (N=44) (N=96)

My õ 46.1 44.9 34.9 61.4 10.4

Nhóm 2 27.0 29.6 40.2 15.9 27.1

Nhóm 3 12.0 16.4 8.1 9.1 21.9

Nhóm 4 6.6 4.4 6.6 9.1 12.5

Nhóm 5 0.6 2.5 2.1 2.3 7.3

Nhóm 6 7.7 2.2 8.1 2.2 20.8



[N là số giải thưởng cho từng ngành.]



Thực ra, cách phân chia theo quốc gia như trên cũng không hoàn toàn chính xác, vì nó được dựa theo quốc tịch, chứ không phải nguyên quán, của nhà khoc học lúc nhận giải. Chẳng hạn như ông Gunter Blobel (giải Nobel y khoa 1999) là người sinh trưởng ở Đức, nhưng lại mang quốc tịch Mỹ, và do đó được phân xếp là giải của Mỹ. Tương tự, bà Marie Sklodowska Curie (giải Nobel vật lý, 1903; hóa học, 1911) là người gốc Ba Lan, nhưng mang quốc tịch Pháp. Nước Do Thái không có ai chiếm giải Nobel về khoa học. văn chương hay kinh tế, nhưng trong thực tế, rất nhiều người lãnh giải này ở các nước như Mỹ và Âu châu có gốc Do Thái. Trường hợp ông Albert Einstein (giải Nobel vật lý, 1921) là một trong nhiều ví dụ điển hình.



Trường đại học hay viện nghiên cứu nào có nhiều nhà khoa học đoạt giải Nobel? Trong số 600 nhà khoa học được trao các giải trong các ngành khoa học, kinh tế, và văn chương là giáo sư, nhà nghiên cứu hay cộng sự viên của khoảng 195 trường đại học hay viện nghiên cứu trên thế giới. Trong số này, khoảng 46% ở Mỹ, 15% ở Anh, 13% ở Đức. Nếu chú trọng vào thời kỳ sau thế chiến thứ hai, số trường và viện ở Mỹ đoạt giải Nobel lên đến gần 60%, trong khi đó Anh chỉ chiếm 14% và Đức là 7%. Trong số 195 trường và viện này, có trường/viện đoạt giải nhiều lần, thậm chí 24 lần (trường Đại học Harvard, Mỹ). Riêng ở Mỹ, chỉ 12 trường đại học chiếm khoảng 35% trong tổng số các giải Nobel về khoa học. Trong số 21 trường và viện có 4 giải Nobel trở lên, chỉ có là còn duy trì thế đứng của họ trong giải Nobel (Viện hàn lâm khoa học, Mạc Tư Khoa (Academy of Science Moscow), Trung tâm Nghiên Cứu IBMD (IBM Research Labs at Rueschlikon), Viện Nghiên Cứu Karolinska ở Stockholm (Karolinska Institute at Stockholm), Trung Tâm Nghiên Cứu Khoa Học Thụy Sĩ (CERN at Geneva), và Trung Tâm Nghiên Cứu Y Khoa ở Cambridge (MRC Labs at Cambridge)), các trường/viện còn lại ơ Aâu châu dần dần mất hẳn vị thế trong giải Nobel.



Trong ngành y khoa và sinh lý học, chỉ 15 trường đại học (8 ở Mỹ) chiếm khoảng 40% trong số 167 giải cho ngành này. Dẫn đầu là trường đại học Harvard, với 11 giải, kế tiếp theo là trường đại học Luân Đôn (9 giải). Phần còn lại gồm các trường ớ Pháp, Đức, và Thụy Điển.



Các trường và trung tâm dẫn đầu trong ngành y khoa và sinh lý học



Harvard University Cambridge, Mỹ 11
University of London, Anh 9
California Institute of Technology, Mỹ 5
Institut Pasteur Paris, Pháp 5
Max-Planck-Gesellschaft Munich, Đức 5
University of Oxford, Anh 5
Massachusetts Institute of Technology, Mỹ 5
Rockefeller Institute for Medical Research, Mỹ 5
Rockefeller University New York, Mỹ 4
The Karolinska Institute Stockholm, Thụy Điển 4
University of Cambridge, Anh 4
National Institutes of Health, Mỹ 3
University of Texas, Dallas, Mỹ 3
University of Wisconsin, Maon, Mỹ 3
Washington University St. Louis, Mỹ 3


Trong ngành vật lý, có 15 trường hay trung tâm nghiên cứu "thống trị" khoảng 47% trong tổng số 159 giải Nobel về vật lý. Trong số này phải kể đến trường đại học Harvard, Stanford (Mỹ) và Cambridge (Anh). Hàn Lâm Viện Khoa HỌc của Nga cũng chiếm 5 giải, tương đương với trường đại học California tại Berkeley và Học Viện Kỹ Thuật Massachusetts (Mỹ).
.....
(ngờ uồn nét)

MinhKhánh
08-10-2004, 04:26 PM
Các trường và trung tâm dẫn đầu trong ngành vật lý



Harvard University, Cambridge, Mỹ 8
Stanford University, California, Mỹ 7
University of Cambridge, Anh 7
California Institute of Technology, Mỹ 6
Princeton University, Mỹ 6
Academy of Sciences Moscow, Nga 5
Massachusetts Institute of Technology, Mỹ 5
University of California at Berkeley, Mỹ 5
University of London, Anh 4
Columbia University, New York, Mỹ 4
IBM Research Laboratory, Thụy Sĩ 4
Max-Planck-Gesellschaft Munich, Đức 4
University of Chicago, Illinois, Mỹ 4
CERN Geneva, Thụy Sĩ 3
Sorbonne University Paris, Pháp 3




Trong ngành hóa học, có 14 trung tâm chiếm hơn 43% tổng số 134 giải cho ngành này. Trong số 14 trung tâm này, 5 ở Đức, 5 ở Mỹ và 3 ở Anh. Dẫn đầu là viện nghienc cứu Max-Planck-Gesellschaft, ở Munich (Đức), với 9 giải thưởng về hóa học, hơn hẳn các trường như Cambridge (6 giải), Harvard (5), California tại Berkeley (5).



Các trường và trung tâm dẫn đầu trong ngành hóa học



Max-Planck-Gesellschaft, Munich, Đức 9
University of Cambridge, Anh 6
Harvard University, Cambridge, Mỹ 5
University of California, Berkeley, Mỹ 5
University of Heidelberg, Đức 4
University of London, Anh 4
University of Oxford, Anh 4
Berlin University, Đức 3
Cornell University, Ithaca, Mỹ 3
Rockefeller University, New York, Mỹ 3
Stanford University, California, Mỹ 3
University of Goettingen, Đức 3
University of Munich, Đức 3
University of Stockholm, Thụy Điển 3


Trong ngành kinh tế, chỉ có 4 trường thuộc loại "mạnh", chiếm gần 40% trong tổng số 44 giải thưởng về kinh tế. Dẫn đầu là trường đại học Chicago (8 giải), kế theo là trường Harvard (3), Massachusetts Institute of Technology (3), và đại học Cambridge (Anh, 3 giải).

Về mặt tuổi tác, tuổi trung bình của các vị tú Nobel (Nobel laureates) là 56. Chỉ 8% các vị lãnh giải Nobel có tuổi dưới 40, và 13% trên tuổi 70. Các vị tú Nobel trong các ngành khoa học như y khoa, vật lý và hóa học đoạt giải này trung bình vào độ tuổi 52-55. Trong văn chương, độ tuổi trung bình tương đối cao hơn các nhà khoa học khoảng 10 tuổị Trong ngành kinh tế học, tuổi trung bình còn cao hơn cả các vị tú văn chương, với độ tuổi trung bình là 67. Thực ra, chưa có người nào lãnh giải Nobel về kinh tế dưới 50 tuổị Tuy nhiên, trong các ngành khoa học và văn chương, phần đông giải thưởng được tặng cho những công trình đã được công bố trước khoảng 15 tới 30 năm. Chẳng hạn như ông Peter C. Doherty (Úc) được giải Nobel y khoa năm 1996 nhờ vào các công trình nghiên cứu mà ông làm từ thập niên 70s. Do đó, có thể nói rằng giai đoạn từ 25 tới 35 tuổi là một đỉnh cao thời gian trong trong sự nghiệp nghiên cứu.



Tuổi trung bình của Nobel laureates



Y khoa & sinh học 55 (32-87)

Vật lý 52 (25-84)

Hóa học 55 (35-83)

Kinh tế 67 (51-81)

Văn chương 64 (42-85)



[số trong ngoặc là tuổi thấp nhất và cao nhất]

Người trẻ tuổi nhất nhận giải Nobel là Sir William L. Bragg, người Anh, giải vật lý năm 1915, lúc ông mới 25 tuoiå! Những người trẻ tuổi khác là nhà vật lý nổi tiếng Werner K. Heisenberg (Đức, vật lý, 1932, 31 tuổi), Paul ẠM. Dirac (Anh, vật lý, 1933, 31 tuổi), Carl D. Anderson (Mỹ, vật lý, 1936, 31 tuổi), Tsung-Dao Lee (Mỹ, Vật lý, 1957, 31 tuổi). Người lớn tuổi nhất là cụ Peyton Rous (Mỹ), giải Nobel y khoa năm 1966, lúc cụ đã 87 tuổi! Trong nhóm bát tuần này còn có cụ Ernst Ruska (Đức, vật lý, 1986), Paul Heyse (Đức, văn chương, 1910), Barbara McClintock (Mỹ, y khoa, 1983), Ronald Coase (Mỹ, kinh tế, 1991), Robert F Furchgott (Mỹ, y khoa, 1998), Goerg Wittig (Đức, Hóa học, 1979), Jaroslav Seifert (Tiệp, văn chương, 1984), Charles J. Pedersen (Mỹ, hóa học, 1986), Pyotr Leonidovitch Kapitsa (Nga, vật lý, 1978), và Theodor Mommsen (Đức, văn chương, 1902).

Nói về giới tính, như ai cũng có thể đoán được, các giải Nobel trong suốt thế kỷ 20 này "bị" nhóm đàn ông thống trị. Trong 600 giải khoa học, văn chương và kinh tế, chỉ có 20 vị là phụ nữ. Trong số 20 vị này, gần phân nửa (9) người chiếm giải văn chương, 6 giải y khoa, 3 cho hóa học và 2 vật lý. Chưa có phụ nữ nào chiếm giải Nobel về kinh tế học!

Cũng có vài người được trao tặng hai giải thưởng. Bắt đầu là bà Marie Sklodowska Curie (người Pháp, gốc Ba Lan) đoạt một giải về vật lý (1903) và một giải về hóa học (1911). Một nhà khoa học cũng đoạt hai giải trong hai lĩnh vực hoàn toàn khác nhau là ông Linus Pauling (Hóa học 1954 và hòa bình 1962). Ông Frederick Sanger (người Anh) đoạt hai giải hóa học: lần đầu năm 1958 và 22 năm sau (1980) lại đọat thên một giải nữa. Ông John Bardeen (người Mỹ) cũng đoạt hai giải về vật lý: lần đầu năm 1956 và lần hai vào năm 1972.

Gia đình được nhiều giải Nobel nhất trong thế kỷ này là dòng họ Curie, Pháp. Hai vợ chồng Pierre và Marie Sklodowska Curie (bà Marie Sklodowska sinh ra ở Warswa, Ba Lan vào năm 1867, nhưng di cư sang Pháp sống và làm việc từ năm 1891) được tặng giải Nobel về vật lý năm 1903 [cùng với Henry Becquerel] do có công khám phá chất phóng xạ từ uranium. Như đề cập trên, năm 1911, bà Marie Sklodowska Curie lại doạt thêm một giải Nobel về hóa học do khám phá ra radium và polonium. Khoảng 24 năm sau, con gái ông bà Curie là Irene Joliot-Curie và chồng cô là Frederick Joliot-Curie cùng nhau đoạt thêm một giải Nobel về cho gia đình, do có các công trình về sự kết hợp của chất phóng xạ.

Nói chung sự hiện diện của người Á châu trong các giải thưởng Nobel còn rất ư là khiêm tốn. Trong ba quốc gia có người đã từng đoạt các giải này, Nhật có số lượng hùng hậu nhất (7 giải), hơn Trung Quốc (2) và Pakistani (1). Trong số 7 giải về tay người Nhật, có 3 giải về vật lý (Hii Yukawa, 1949; Shin-ichiro Tomonaga, 1965; và Leo Esaki, 1973), một giải về hóa học (Kenichi Fukui, 1981), một giải về y học (Susumu Tonegawa, 1987) và hai giải về văn chương (Yasunari Kawabata, 1968; và Kenzaburo Oe, 1994). Hai nhà vật lý đoạt giải Nobel (1957) cho Trung Quốc là TsungĐao Lee và Chen Ning Yang. Thực ra, hai giáo sư này đoạt giải lúc làm việc với trường Đại học Princeton (Lee) và Columbia (Yang). Ba vị mang quốc tịch Ấn Độ từng đoạt giải Nobel là ông Amartya Sen (giải kinh tế, 1998), Sir Chandrasekhara V. Raman (vật lý, 1930) và thi hào Sir Rabindranath Tagore (giải văn chương, 1913). Ngoại trừ thi hào Tagore, hai giáo sư Sen và Raman đều được giải nhờ vào các công trình nghiên cứu ở Anh.

Việt Nam ta chưa có ai được tặng giải Nobel trong các ngành khoa học hay văn chương. Tuy nhiên, các nhà khoa học Việt hay gốc Việt đều có mặt hầu như trong mọi lĩnh vực nghiên cứụ Trong một vài ngành hẹp, Việt Nam và khoa học gia gốc Việt cũng có nhiều cống hiến quan trọng; một số vị này được đồng nghiệp khắp thế giới nể trọng. Tuy nhiên, con số những nhà khoa học gốc Việt ở hạng quốc tế này còn rất ít, và có thể nói là "đếm đầu ngón tay."

So với các nước trong vùng Đông Nam Á, Việt Nam có một truyền thống và thành tích khoa học đáng tự hàọ Mặc dù phải đương đầu với chiến tranh một cách triền miên, với sự thiếu thốn trầm trọng và kinh niên về cơ sở vật chất cho nghiên cứu, các nhà khoa học Việt Nam, đặc biệt là trong ngành toán và vật lý, cũng đã có nhiều cống hiến quan trọng cho khoa học thế giới. Số lượng và chất lượng những bài báo về toán và vật lý từ Việt Nam hơn hẳn các nước như Thái Lan, Mã Lai và Nam Dương. Thực ra, nếu dựa vào số lượng bài báo khoa học, năng suất và danh tiếng (prestige), có thể nói rằng các nhà toán học Việt Nam sánh ngang hàng các nhà toán học Trung Quốc, và chắc chắn là hơn hẳn các nước trong vùng, kể cả Singapore. Viện Vật lý và viện Toán ở Hà Nội là hai trung tâm nghiên cứu được nhiều đồng nghiệp trên thế giới đánh giá khá cao. Hai "lò" đào tạo này cũng đã cung cấp cho thế giới, kể cả Mỹ, nhiều giáo sư về toán và vật lý. Mặc dù thế, trong các ngành ứng dụng khác như hóa học và y khoa, thì Việt Nam chưa có cống hiến gì đáng kể cho kiến thức của nhân loại. Trong suốt 35 năm qua, số lượng bài báo về y khoa, sinh vật học, và hóa học từ Việt Nam chỉ khoảng 250 bài. Con số này rất ư là khiêm tốn nếu so với Thái Lan (5210 bài), Mã Lai (2088), Singapore (6932) và ... Mỹ (588,000)!

Nhưng Việt Nam vẫn chưa có ai đoạt giải Nobel về vật lý hay giải Field trong toán học. Trong thế kỷ 21, thường được ví von là thế kỷ của Á châu, người Việt Nam ta có cơ đoạt những giải này không? Khó mà trả lời cho câu hỏi này, vì không ai đoán được tương lai một cách khẳng định. Tôi vẫn nghĩ xác suất thì có đó, nhưng làm cách nào để nâng cao cái xác suất này mới là một vấn đề đáng bàn. Nhìn qua các giải Nobel trong thế kỷ này, ai cũng thấy nước Mỹ đã nhảy một bước dài trong khoa học kỹ thuật và trở thành cường quốc số một trên thế giới. Nhưng điều đó đâu phải vì dân Mỹ thông minh hơn ngườị Có thể nói họ biết thu hút người tài giỏi, bất cứ từ đâu đến. Cuối thập niên 30s, vì không thể sống dưới chế độ fascism của Đức, hàng loạt các nhà khoa học lớn trong đó có Einstein, von Neumann, Fermi, v.v. đã bỏ châu Âu sang Mỹ, và chính họ đã là những người có vai trò quyết định trong việc đưa nền khoa học kỹ thuật Mỹ từ chỗ chưa có gì trội nổi đặc biệt lên địa vị hàng đầu sau Thế Chiến thứ hai. Dòng chảy chất xám vào Mỹ từ châu Âu, từ các nước thế giới thứ ba sau chiến tranh, và từ Nga và Đông Âu những năm 70, cho đến giờ vẫn không ngừng được nhà nước Mỹ khuyến khích và thúc đẩy bằng mọi biện pháp. Cho tới nay, tuy đã dẫn đầu thế giới về khoa học kỹ thuật, Mỹ vẫn có chính sách ưu tiên cho nhập cư người có tài từ các nước khác.

Thực ra, quan niệm trọng người tài đã được tiền nhân ta đề cập hơn 600 năm về trước; họ đã từng khắc trên bia một câu văn tâm huyết "Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh, nguyên khí suy thì thế nước yếu." Việt Nam đang ở thế yếu. Thực vậy, cho đến nay, đứng trước ngưỡng cửa thế kỷ 21, một thế kỷ chắc chắn sẽ có nhiều thử thách bất ngờ, thật đáng buồn khi thấy phần lớn các nhân tài của Việt Nam vẫn còn đang vật lộn với cuộc sống hàng ngày, thay vì sáng tạo. Đây cũng là một vấn đề mà Việt Nam cần phải quan tâm và giải quyết trước mắt, phải đào tạo, phát hiện, bồi dưỡng, sử dụng và phát huy nhân tài một cách đúng mức. Cách đây không lâu, một nhà khoa bảng trong nước có viết một bài về tình trạng giáo dục ở Việt Nam, mà tôi xin trích ra đây một đoạn để làm đoạn kết cho bài viết này: "Thời đại này, dân tộc nào không huy động được tiềm năng trí tuệ của bản thân ắt phải lệ thuộc vào trí tuệ kẻ khác và sẽ dễ dàng bị nhận chìm trong trào lưu toàn cầu hóa kinh tế đi đôi với cạnh tranh ác liệt là xu thế không đảo ngược của thế kỷ tới. Trong cuộc chiến để giành chỗ đứng xứng đáng với tầm vóc dân tộc trong một thế giới như vậy, chỉ có một chiến lược khả dĩ thành công, đó là dựa vào trí tuệ và tài năng để khắc phục những yếu kém khác." Đây cũng là một lời cảnh cáo cho những ai còn quan tâm tới vận mệnh của Việt Nam trong thế kỷ 21.

MinhKhánh
08-10-2004, 04:35 PM
Một thế kỷ giải Nobel Hòa bình

Trong suốt 101 năm kể từ ngày ra đời, nhiều tổ chức và cá nhân nhận giải đều có chung một điểm là những đóng góp tích cực cho nền hòa bình thế giới.

http://vnexpress.net/Vietnam/The-gioi/Tu-lieu/2002/10/3B9C131F/dunant2.jpg
Jean Henry Dunant, người đầu tiên nhận giải Nobel Hòa bình.
1901: Giải được chia cho hai người: Jean Henry Dunant (1828-1910), người Thụy Sỹ, sáng lập viên của Ủy ban Chữ thập đỏ quốc tế và Frédéric Passy (1822-1912), người Pháp, sáng lập viên và Chủ tịch đầu tiên của Hội hòa bình Pháp.

1902: Hai người Thụy Sỹ cùng nhận giải là Elie Ducommun (1833-1906), Thư ký danh dự của Ủy ban thường trực về hòa bình quốc tế (trụ sở tại thành phố Bern, Thụy Sĩ) và Charles Albert Gobat (1843-1914), Tổng thư ký Liên minh Nghị viện Thế giới (IPU), cũng có trụ sở tại thành phố Bern.
http://vnexpress.net/Vietnam/The-gioi/Tu-lieu/2002/10/3B9C131F/ducommun.jpg[img]

Elie Ducommun.
1903: Sir William Randal Cremer (1838-1908), người Anh. Ông là nghị sĩ quốc hội và thư ký Liên đoàn Trọng tài Quốc tế (IAL).

1904: Viện Luật Quốc tế (Institut de Droit International) đóng trụ sở tại Gent, Bỉ. Tổ chức khoa học này ra đời năm 1873.

1905: Baroness Bertha Sophie Felicita von née Countess Kinsky von Chinic und Tettau Suttner (1843-1914), người Áo (sinh tại thành phố Prague, lúc đó thuộc Áo). Ông là nhà văn, tác giả của cuốn sách nổi tiếng "Hãy hạ vũ khí" (Die Waffen nieder). Ông được phong làm chủ tịch danh dự của Ủy ban thường trực về hòa bình quốc tế.
[img]http://vnexpress.net/Vietnam/The-gioi/Tu-lieu/2002/10/3B9C131F/Roosevelt.jpg

Tổng thống Mỹ Theodore Roosevelt.
1906: Theodore Roosevelt (1858-1919), tổng thống Mỹ, người đã vạch ra hiệp ước hòa bình giữa Nga và Nhật năm 1905.

1907: Giải được chia sẻ giữa Ernesto Teodoro Moneta (1833-1918), người Italy, chủ tịch Liên đoàn Hòa bình Lombard (Società internazionale per la pace: Unione Lombarda); và Louis Renault (1843-1918), người Pháp, giáo sư giảng dạy môn luật quốc tế tại Đại học Sorbonne, Paris.

1908: Hai người đồng nhận giải là Klas Pontus Arnoldsonm (1844-1916), người Thụy Điển, và Fredrik Bajer (1837-1922), người Đan Mạch. Arnoldson là nhà văn kiêm nghị sĩ quốc hội, sáng lập viên của Liên đoàn Phán xử và Hòa bình Thụy Điển (Svenska freds- og skiljedomsföreningen). Bajer cũng là nghị sĩ quốc hội Đan Mạch, chủ tịch danh dự của Ủy ban thường trực về hòa bình quốc tế.

1909: Giải được chia cho hai người là Auguste Marie François Beernaert (1829-1912), cựu thủ tướng Bỉ, thành viên Tòa án Phán xử Quốc tế (Cour Internationale d'Arbitrage); và Baron De Constant de Rebecque Paul Henri Benjamin Balluet d'Estournelles de Constant (1852-1924), nghị sĩ Pháp, sáng lập viên kiêm chủ tịch Nhóm nghị sĩ Pháp về phán xử quốc tế (Groupe parlementaire de l'arbitrage international), sáng lập viên Ủy ban bảo vệ quyền lợi quốc gia và hòa giải quốc tế (Comité de défense des intérêts nationaux et de conciliation internationale).

1910: Giải được trao cho Ủy ban thường trực về hòa bình quốc tế, có trụ sở tại Bern, ra đời năm 1891.
http://vnexpress.net/Vietnam/The-gioi/Tu-lieu/2002/10/3B9C131F/fried.jpg

Nhà báo Alfred Hermann Fried.
1911: Hai người cùng được trao là Tobias Michael Carel Asser (1838-1913), luật sư Hà Lan, thành viên nội các, người khởi xướng Hội nghị về luật tư nhân quốc tế (Conférences de droit international privé); và Alfred Hermann Fried (1864-1921), nhà báo người Áo, sáng lập viên tờ báo về hòa bình Die Waffen Nieder (sau đổi tên là Die Friedenswarte).

1912: Không trao.

1913: Trao giải cho năm 1912 cho Elihu Root (1845-1937), cựu ngoại trưởng Mỹ, người khởi xướng một số hiệp định về vấn đề phán xử.

1913: Henri La Fontaine (1854-1943), nghị sĩ Bỉ, Chủ tịch Ủy ban thường trực về hòa bình quốc tế.

1914-1916: Không trao.

1917: Giải trao cho Ủy ban Chữ thập đỏ Quốc tế đóng tại Geneva. Tổ chức này được thành lập năm 1863.

1918-1919: Không trao.

1920: Trao giải năm 1919 cho Thomas Woodrow Wilson (1856-1924), tổng thống Mỹ, sáng lập viên Hội Quốc liên (League of Nations).
http://vnexpress.net/Vietnam/The-gioi/Tu-lieu/2002/10/3B9C131F/bourgeois.jpg

Léon Bourgeois.
1920: Léon Victor Auguste Bourgeois (1851-1925), từng nắm các chức vụ cao cấp trong chính quyền Pháp như: bộ trưởng Văn hóa, bộ trưởng Tư pháp, thủ tướng, chủ tịch Quốc hội và chủ tịch Hội đồng của Hội Quốc liên.

1921: Giải được trao cho hai người là Karl Hjalmar Branting (1860-1925), thủ tướng Thụy Điển, đại biểu của nước này trong Hội đồng của Hội Quốc liên; và Christian Lous Lange (1869-1938), người Nauy, tổng thư ký Liên minh Nghị viện thế giới (IPU), có trụ sở tại Brussels, Bỉ.

1922: Fridtjof Nansen (1861-1930), nhà thám hiểm, nhà khoa học và người hoạt động nhân đạo tích cực của Nauy. Ông là đại biểu của nước này tại Hội Quốc liên, người khởi xướng sử dụng Hộ chiếu Nansen cho những người tị nạn.

1923-1925: Không trao.

1926: Trao giải năm 1925 cho hai người là Sir Austen Chamberlain (1863-1937), ngoại trưởng Anh, một nhà thương thuyết của Hiệp ước Locarno; và Charles Gates Dawes (1865-1951), phó tổng thống Mỹ, chủ tịch Hội đồng về bồi thường chiến tranh của các nước đồng minh. Ông cũng là người khởi xướng kế hoạch mang tên ông, Kế hoạch Dawes.

http://vnexpress.net/Vietnam/The-gioi/Tu-lieu/2002/10/3B9C131F/Stressmann.jpg
Gustav Stressmann.
1926: Hai người cùng nhận giải là Aristide Briand (1862-1932), Ngoại trưởng Pháp, nhà thương thuyết của Hiệp ước Locarno và Công ước Briand-Kellogg; và Gustav Stresemann, (1878-1929), cựu thủ tướng và ngoại trưởng Đức, người tham gia đàm phán Hiệp ước Locarno.

1927: Giải được trao cho hai người Ferdinand Edouard Buisson (1841-1932), giáo sư Pháp tại Đại học Sorbonne Paris, sáng lập viên kiêm chủ tịch Liên đoàn Nhân quyền (Ligue des droits de l'homme); và Ludwig Quidde (1858-1941), sử gia Đức, thành viên Quốc hội Bavaria, thành viên Hội đồng Lập hiến Đức năm 1919, đại biểu tham dự nhiều hội nghị về hòa bình thế giới.
http://vnexpress.net/Vietnam/The-gioi/Tu-lieu/2002/10/3B9C131F/addams.jpg
1928-1929: Không trao.

1930: Trao giải năm 1929 cho Frank Billings Kellogg, (1856-1937), cựu ngoại trưởng Mỹ, tham gia đàm phán Công ước Briand-Kellogg.

1930: Lars Olof Jonathan Söderblom, (1866-1931), Tổng giám mục Thụy Điển, thủ lĩnh của phong trào giáo hội toàn thế giới.


Jane Addams.
1931: Hai người Mỹ cùng nhận giải là Jane Addams, (1860-1935), nhà xã hội học, chủ tịch Liên đoàn Quốc tế về Hòa bình và Tự do của Phụ nữ; và Nicholas Murray Bufler, (1862-1947), hiệu trưởng Đại học Columbia, người khởi xướng Công ước Briand-Kellogg.

1932-1933: Không trao.

1934: Trao giải năm 1933 cho Sir Norman Angell (Lance) (1874-1967), nhà văn Anh, thành viên Ủy ban Điều hành của Hội Quốc liên và Hội đồng Hòa bình Quốc gia Anh. Ông là tác giả của cuốn sách Ảo tưởng lớn (The Great Illusion) cùng nhiều tác phẩm khác.

1934: Arthur Henderson, (1863-1935), cựu ngoại trưởng Anh, chủ tịch Liên đoàn về Hội nghị giải trừ quân bị các nước giai đoạn 1932-1934.

1935: Không trao.

1936: Trao giải năm 1935 cho Carl von Ossietzky (1889-1938), nhà báo Đức công tác tại báo Die Weltbühne và nhiều tờ khác, một người theo chủ nghĩa hòa bình.

1936: Carlos Saavedra Lamas (1878-1959), ngoại trưởng Argentina, chủ tịch Hội Quốc liên, người đứng ra phân xử cuộc tranh chấp giữa Paraguay và Bolivia năm 1935.

1937: Tử tước Edgar Algernon Robert Gascoyne Cecil (1864-1958), nhà văn Anh, sáng lập viên kiêm chủ tịch của Tổ chức Vận động Hòa bình Quốc tế (IPC).

1938: Giải được trao cho Văn phòng Quốc tế Nansen về người tị nạn, đóng tại Geneva. Đây là một tổ chức viện trợ quốc tế do Fridtjof Nansen thành lập năm 1921.

1939-1943: Giai đoạn này, 1/3 số tiền thưởng của giải được chuyển cho Quỹ chính của Viện Nobel, còn lại giao cho Quỹ đặc biệt quản lý.

1944: Không trao.

1945: Trao giải năm 1944 cho Ủy ban Chữ thập đỏ Quốc tế.
http://vnexpress.net/Vietnam/The-gioi/Tu-lieu/2002/10/3B9C131F/hull.jpg


Cordell Hull.
1945: Cordell Hull (1871-1955), Cựu ngoại trưởng Mỹ, một trong những người khởi xướng thành lập Liên Hợp Quốc.

1946: Giải được chia cho hai người Mỹ là Emily Greene Balch (1867-1961), giáo sư sử học và xã hội học, Chủ tịch Liên đoàn Quốc tế về Hòa bình và Tự do của Phụ nữ; và John Raleigh Mott (1865-1955), Chủ tịch đầu tiên của Hội đồng Truyền giáo Quốc tế, Chủ tịch Liên minh Thế giới của những tín đồ cơ đốc trẻ tuổi.

1947: Hai tổ chức cùng nhận giải là Hội đồng Giúp đỡ Những người bạn, đóng trụ sở tại London, ra đời từ năm 1647; và Ủy ban Giúp đỡ Những người bạn Mỹ (Quakers), đóng tại Washington, thành lập năm 1672.

1948: Không trao.

1949: Baron John Boyd (1880-1971), nhà vật lý, nhà dinh dưỡng học Anh, Tổng giám đốc Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp của Liên Hợp Quốc, Chủ tịch Hội đồng Hòa bình Quốc gia và Liên minh các tổ chức hòa bình thế giới.

MinhKhánh
08-10-2004, 04:41 PM
1950: Ralph Bunche (1904-1971), giáo sư Mỹ tại Đại học Harvard, Cambridge và Mass, giám đốc cơ quan Ủy thác Liên Hợp Quốc, người dàn xếp hòa bình ở Palestine năm 1948.

1951: Léon Jouhaux, (1879-1954), người Pháp, chủ tịch Ủy ban Quốc tế của Hội đồng châu Âu, phó chủ tịch Liên minh Quốc tế về tự do thương mại, phó chủ tịch, thành viên Hội đồng ILO và đại biểu tham dự các kỳ họp của Liên Hợp Quốc.

1952: Không trao.

1953: Trao giải năm 1952 cho Albert Schweitzer (1875-1965), nhà vật lý và truyền giáo Pháp, sáng lập viên bệnh viện Lambarene ở Gabon.

1953: George Catlett Marshall (1880-1959), tướng quân, chủ tịch Hội chữ thập đỏ Mỹ, cựu ngoại trưởng và bộ trưởng Quốc phòng, đại biểu tham dự các kỳ họp của Liên Hợp Quốc, người khởi xướng Kế hoạch Marshall.

1954: Không trao.

1955: Trao giải năm 1954 cho Văn phòng của Cao Ủy Liên Hợp Quốc về người tị nạn (đóng tại Geneva), một tổ chức viện trợ quốc tế do Liên Hợp Quốc lập ra năm 1951.

1955-1956: Không trao.
http://vnexpress.net/Vietnam/The-gioi/Tu-lieu/2002/10/3B9C131F/pearson.jpg

Lester Bowles Pearson.
1957: Lester Bowles Pearson (1897-1972), cựu ngoại trưởng Canada, chủ tịch Đại hội đồng Liên Hợp Quốc năm 1952.

1958: Georges Pire (1910-1969), thầy tu người Bỉ dòng Dominican, người đứng đầu tổ chức viện trợ cho người tị nạn mang tên L'Europe du coeur au service du monde.

1959: Philip John Noel-Baker (1889-1982), nghị sĩ Anh, người tích cực tham gia vận động cho hòa bình và hợp tác quốc tế.

1960: Không trao.

1961: Trao giải năm 1960 cho Albert John Lutuni (1898-1967), Chủ tịch phong trào giải phóng Nam Phi ANC.

1961: Dag Hjalmar Agne Carl Hammarskjöld (1905-1961), người Thụy Điển, Tổng thư ký Liên Hợp Quốc. Ông được trao giải sau khi tử nạn máy bay.

1962: Không trao.

1963: Trao giải năm 1962 cho Linus Carl Pauling (1901-1994), người Mỹ công tác tại Học viện Công nghệ California. Ông là người hoạt động đặc biệt tích cực cho việc chấm dứt các vụ thử vũ khí hạt nhân.

1963: Hai tổ chức đồng nhận giải là Ủy ban Chữ thập đỏ quốc tế và Liên đoàn các hội Chữ thập đỏ.
http://vnexpress.net/Vietnam/The-gioi/Tu-lieu/2002/10/3B9C131F/vv.jpg

Martin Luther King.
1964: Martin Luther King (1929-1968), lãnh đạo phong trào đấu tranh cho vấn đề nhân quyền và bình đẳng giữa người da đen và da trắng ở Mỹ.

1965: Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc (UNICEF), ra đời năm 1946.

1966-1967: Không trao.

1968: René Cassin (1887-1976), người Pháp, Chủ tịch Tòa án Nhân quyền châu Âu.

1969: Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), đóng trụ sở tại Geneva, Thụy Sỹ.

1970: Norman Ernest Borlaug, người Mỹ, lãnh đạo nhóm nghiên cứu tại Trung tâm cải tiến lúa mì và ngô, đặt tại thành phố Mexico.

1971: Willy Brandt, (1913-1992), cựu thủ tướng CHLB Đức, ông là hiện thân của quan điểm mới về Đông Âu và Đông Đức.

1972: Không trao.
http://vnexpress.net/Vietnam/The-gioi/Tu-lieu/2002/10/3B9C131F/anh-2.jpg

Nhà ngoại giao Lê Đức Thọ và Henry Kissinger.
1973: Hai người cùng được trao giải là Lê Đức Thọ (1911-1990), nhà ngoại giao Việt Nam, và Henry A. Kissinger (sinh năm 1923), cựu ngoại trưởng Mỹ. Hai ông đã tham gia đàm phán để tiến tới ký Hiệp định Paris năm 1973. Nhưng ông Lê Đức Thọ đã từ chối nhận giải.

1974: Giải được chia cho hai người là Sean MacBride (1904-1988), người Ireland, Chủ tịch Tổ chức Hòa bình Quốc tế đóng tại Geneva, kiêm Ủy nhiệm viên của Liên Hợp Quốc về vấn đề Namibia; và Eisaku Sato (1901-1975), cựu thủ tướng Nhật Bản.

1975: Andrei Sakharov (1921-1989), nhà hoạt động về vấn đề nhân quyền của Liên Xô.

1976: Không trao.

1977: Trao giải năm 1976 cho hai người Bắc Ireland đồng sáng lập Tổ chức Những người Hòa bình là: Betty Williams (sinh năm 1943) và Mairead Corrigan (sinh năm 1944).

1977: Tổ chức Ân xá Quốc tế, đóng tại London. Đây là tổ chức có phạm vi hoạt động trên toàn thế giới chuyên bảo vệ quyền của các tù nhân.

http://vnexpress.net/Vietnam/The-gioi/Tu-lieu/2002/10/3B9C131F/al-sadat.jpg
Answar al-Sadat.
1978: Hai người cùng nhận giải là Mohammad Anwar Al-Sadat (1918-1981), tổng thống Ai Cập, và Menachem Begin (1913-1992), thủ tướng Israel. Hai người đã cùng tham gia đàm phán hòa bình giữa Ai Cập và Israel.

1979: Mẹ Teresa (1914-1997), người Ấn Độ, đứng đầu phong trào nhân đạo của những người truyền giáo.

1980: Adolfo Perez Esquivel (sinh năm 1931), kiến trúc sư người Argentina, hoạt động tích cực cho vấn đề nhân quyền.

1981: Văn phòng Cao Ủy về Người tị nạn của Liên Hợp Quốc được trao giải.

1982: Giải được chia sẻ giữa Alva Myrdal (1902-1986), cựu thủ tướng Thụy Điển, nhà ngoại giao và đại biểu tham dự các hội nghị về giải trừ quân bị của Liên Hợp Quốc và Alfonso Garcia Robles (1911-1991), nhà ngoại giao Mexico, hoạt động tích cực cho vấn đề giải trừ quân bị.

1983: Lech Walesa (sinh năm 1943), chính trị gia Ba Lan, người hoạt động cho nhân quyền. Sau này ông trở thành Tổng thống Ba Lan.
http://vnexpress.net/Vietnam/The-gioi/Tu-lieu/2002/10/3B9C131F/tutu.jpg

Desmond Mpilo Tutu.
1984: Desmond Mpilo Tutu (sinh năm 1931), giám mục Nam Phi, cựu tổng thư ký của Hội đồng Nhà thờ Nam Phi.

1985: Tổ chức Thầy thuốc Quốc tế về Phòng ngừa Chiến tranh hạt nhân, đóng tại Boston, Mỹ, được trao giải.

1986: Elie Wiesel (sinh năm 1928), nhà văn Mỹ, nhà hoạt động nhân đạo tích cực được trao giải.

1987: Oscar Arias Sánchez (sinh năm 1941), tổng thống Costa Rica, người khởi xướng các vòng đàm phán hòa bình ở Trung Mỹ.

1988: Lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên Hợp Quốc nhận giải.

1989: Dalai Lama thứ 14 Tenzin Gyatso, (sinh năm 1935), lãnh tụ tôn giáo và nhà hoạt động chính trị tại Tây Tạng, Trung Quốc, được nhận giải.

1990: Mikhail Sergeyevich Gorbachev (sinh năm 1931), Tổng thống Liên Xô, người được coi là nhân vật có công trong việc chấm dứt Chiến tranh Lạnh.

1991: Aung San Suu Kyi (sinh năm 1945), thủ lĩnh phe đối lập ở Myanmar.

1992: Rigoberta Menchu Tum (sinh năm 1959), nhà hoạt động cho nhân quyền của Guatemala, đấu tranh cho những người dân tộc thiểu số.
http://vnexpress.net/Vietnam/The-gioi/Tu-lieu/2002/10/3B9C131F/mandela.jpg

Nelson Mandela.
1993: Hai chính khách Nam Phi cùng nhận giải là Nelson Madela (sinh năm 1918), Thủ lĩnh tổ chức ANC và Frederik Willem de Klerk (sinh năm 1936), Tổng thống Nam Phi.

1994: Ba chính khách có công trong tiến trình hòa bình ở Trung Đông cùng chia nhau giải là: Chủ tịch Tổ chức Giải phóng Palestine (PLO) Yasser Arafat (sinh năm 1929); Ngoại trưởng Israel Shimon Peres (sinh năm 1923), và Thủ tướng Israel Yitzhak Rabin (1922-1995).

1995: Joseph Rofblat (sinh năm 1908), người Anh và Hội nghị Pugwash về Khoa học và các vấn đề Thế giới cùng nhận giải, vì những đóng góp trong việc giảm bớt vai trò của vũ khí hạt nhân trong nền chính trị quốc tế.
http://vnexpress.net/Vietnam/The-gioi/Tu-lieu/2002/10/3B9C131F/peace-1996-1a.jpg

Carlos Filipe Ximenes.
1996: Hai người Đông Timor cùng được trao giải là Carlos Filipe Ximenes Belo (sinh năm 1948) và José Ramos-Horta (sinh năm 1949) vì những cống hiến của họ cho một giải pháp hòa bình trong cuộc xung đột ở Đông Timor.

1997: Tổ chức Quốc tế vận động cấm sử dụng mìn sát thương (ICBL) và Jody Williams (sinh năm 1950), một người Mỹ, cùng được nhận giải.

1998: Giải được trao cho 2 người Bắc Ireland là John Hume (sinh năm 1937) và David Trimble (sinh năm 1944) vì những đóng góp của họ trong việc tìm một giải pháp hòa bình cho vấn đề Bắc Ireland.

1999: Tổ chức Thầy thuốc không biên giới được nhận giải do những đóng góp trong vấn đề nhân đạo.

2000: Tổng thống Hàn Quốc Kim Tê Chung (sinh năm 1925) được nhận giải vì công lao của ông trong vấn đề dân chủ, nhân quyền ở nước mình và khu vực Đông Á nói chung, đặc biệt là quan điểm hòa giải với CHDCND Triều Tiên.
http://vnexpress.net/Vietnam/The-gioi/Tu-lieu/2002/10/3B9C131F/Annan.jpg

Tổng thư ký Liên Hợp Quốc Kofi Annan.
2001: Giải được trao cho Liên Hợp Quốc (UN) và Tổng thư ký của tổ chức này, ông Kofi Annan (sinh năm 1938), người Ghana, do những đóng góp cho hòa bình thế giới.

2002: Cựu tổng thống Mỹ Jimmy Carter (sinh năm 1924), được trao giải nhờ “hàng thập kỷ nỗ lực tìm kiếm giải pháp hòa bình cho các cuộc xung đột quốc tế, đẩy mạnh dân chủ và nhân quyền, thúc đẩy tiến bộ kinh tế và xã hội”.

Đình Chính (theo Norwegian Nobel Institute)
http://vnexpress.net/Vietnam/The-gioi/Tu-l...02/10/3B9C131F/

MinhKhánh
08-10-2004, 04:42 PM
Israel chia sẻ với Mỹ giải Nobel hóa học 2004
http://vnexpress.net/Vietnam/Khoa-hoc/2004/10/3B9D7353/tg.jpg

Avram Hershko (trái) và Aaron Ciechanover.
Bằng công trình tìm hiểu cách thức mà cơ thể người chọn lọc và tiêu diệt các protein độc hại nhằm bảo vệ nó khỏi bệnh tật, hai nhà khoa học Israel cùng một người Mỹ đã vinh dự được sở hữu giải Nobel hóa học trị giá 1,36 triệu đôla năm nay.

Aaron Ciechanover và Avram Hershko (người Israel) cùng với Irwin Rose vào những năm 1980 đã khám phá ra rằng các tế bào sẽ tặng một "nụ hôn tử thần" lên những protein mà hệ miễn dịch sẽ phải tiêu diệt. Các protein bị đánh dấu này sau đó bị hệ miễn dịch "chặt" ra nhiều mảnh nhỏ.

Sự "thủ tiêu protein có chủ định" chi phối nhiều quá trình trong cơ thể như phân chia tế bào, sửa chữa ADN và kiểm soát chất lượng của việc sản xuất protein mới, là những quá trình phòng thủ quan trọng của hệ miễn dịch.

"Khi quá trình tiêu hủy protein gặp trục trặc, chúng ta sẽ bị ốm. Hai ví dụ cho trường hợp này là chứng ung thư họng và xơ hóa u nang", Hội đồng trao giải cho nhận định, đồng thời bổ sung thêm rằng những phát kiến của ba nhà khoa học đã "tạo ra cơ hội để phát triển những loại thuốc chống lại các căn bệnh này".

Ciechanover, 57 tuổi, là giám đốc của Viện nghiên cứu Y khoa Rappaport Family tại Technion ở Haifa, Israel, trong khi Hershko, 67 tuổi, gốc Hungary, là một giáo sư ở đó.

Rose là một chuyên gia tại phòng sinh lý học và lý sinh, thuộc trường Y, Đại học tổng hợp Irvine, bang California, Mỹ.

Năm ngoái, giải Nobel hóa học được trao cho hai nhà khoa học Mỹ Peter Agre và Robert MacKinnon, với thành tựu tìm ra hệ thống kênh dẫn trong màng tế bào - nơi luân chuyển muối và nước qua các tế bào của cơ thể. Phát hiện được ca ngợi là "có một ý nghĩa quan trọng trong việc mang đến hiểu biết cho con người về nhiều loại bệnh tật".

Giải thưởng Nobel ra đời từ di chúc của nhà công nghiệp và cũng là người phát minh ra thuốc nổ, Alfred Nobel. Tuần lễ Giải Nobel sẽ kết thúc bằng việc trao giải Nobel kinh tế vào ngày 11/10 tới. Giải Hòa bình - giải duy nhất trao tặng tại Oslo, Nauy - sẽ được công bố vào 8/10.

Thuận An (theo AP, Reuters)

MinhKhánh
08-10-2004, 04:44 PM
Giải Nobel văn chương 2004
bbc
http://www.bbc.co.uk/worldservice/images/2004/10/20041007112712jelinek.jpg


Phụ nữ thường ít nhận được giải Nobel văn chương
Elfriede Jelinek, sinh năm 1946, là nữ văn sĩ thứ 10 đoạt giải văn chương trong lịch sử trên 100 năm của giải Nobel.
Bà không phải là nhà văn nhiều người nghĩ sẽ đoạt giải Nobel văn chương năm nay.

Trả lời phỏng vấn trên đài phát thanh Thụy Điển, bà nói bà cảm thấy bà đại diện nhận giải cho tất cả các nhà văn nữ trên thế giới, bởi vì rất ít phụ nữ nhận được giải thưởng cao quí này.

Hội đồng Nobel nói rằng quyết định của họ hoàn toàn dựa trên thành quả văn chương, không liên quan gì đến những yếu tố như phái tính, địa lý hay chính trị.

Nhưng các bình luận gia đã nói rằng Hội đồng Nobel ắt phải xét đến yếu tố phái tính khi trao giải năm nay.

Trên thực tế giải Nobel văn chương đã từng được trao cho những nhà văn tương đối ít nỗi tiếng cũng như cho những người trên thế giới ai cũng biết đến.

Cuốn sách nỗi tiếng nhất của Elfriede Jelinek, The Piano Teacher, được dựng thành phim năm 2001 do Michael Haneke đạo diễn.
http://newsimg.bbc.co.uk/media/images/40152000/jpg/_40152498_jelinek_ap203.jpg

Tiểu sử Jelinek - Nobel văn học 2004


Elfriede Jelinek gây tranh cãi tại quê hương bà
Elfriede Jelinek, sinh năm 1946, là nữ văn sĩ thứ 10 đoạt giải văn chương trong lịch sử trên 100 năm của giải Nobel.
Là người Áo, bà gây nhiều tranh cãi, vừa được xem là thiên tài lại cũng là 'ác quỷ' ở quê nhà.

Bà gây tranh cãi nhiều nhất vào năm 1980 khi được trích lời nói là "Áo là một quốc gia tội phạm", nhắc lại chi tiết quốc gia bà từng tham gia vào các tội ác của phát xít Đức.

Tiểu thuyết năm 1990 của bà, Wonderful, Wonderful Times, đề cập chủ đề này.

Một web site về du lịch Áo, aboutAustria.org, mô tả Jelinek là "một ác quỷ bị áp bức vì những quan điểm chỉ trích của bà, đặc biệt ở Áo."

Nhưng nó thừa nhận nhà văn 57 tuổi này là một trong những nhà văn đương đại nhiều ảnh hưởng nhất tại Áo.

Tác phẩm nổi tiếng nhất của bà có lẽ là quyển Cô giáo dạy piano (The Piano Teacher), được lên phim năm 2001 do đạo diễn Áo Michael Haneke thực hiện.

Diễn viên Pháp Isabelle Huppert đóng vai cô giáo, Erika Kohut, tại nhạc viện Vienna.

Bản thân tác giả từng học nhạc tại trường này - có bằng về đàn organ năm 2001 - trước khi chuyển sang lĩnh vực văn học và sân khấu.

Nhiều người đã ngạc nhiên khi giải Nobel văn học trị giá 1.36 triệu đôla về tay nhà văn người Áo.

Nhiều chuyên gia đã dự đoán một phụ nữ sẽ giành giải năm nay, nhưng ứng viên được trông chờ là Assia Djebar của Algeria, Joyce Carol Oates của Mỹ và Inger Christensen của Đan Mạch.

MinhKhánh
12-10-2004, 04:05 PM
Người Kenya được giải Nobel hòa bình
http://newsimg.bbc.co.uk/media/images/40155000/jpg/_40155386_wangari_afp203b.jpg


Nhà hoạt động nhân quyền và môi trường Kenya, Wangari Maathai, đã giành giải thưởng Nobel hòa bình.
Bà là người phụ nữ châu Phi đầu tiên nhận giải Nobel hòa bình kể từ khi giải thành lập năm 1901.

Ủy ban trao giải Nobel nói bà Maathai, một bộ trưởng chính phủ ở Kenya, là tấm gương cho mọi người dân châu Phi chiến đấu cho dân chủ và hòa bình.

Bà Maathai đã dẫn đầu một chiến dịch trồng hàng triệu cây ở khắp châu Phi để làm chậm lại quá trình phá rừng.

Ủy ban nói bà đã kết hợp khoa học với sự dấn thân xã hội và làm việc cả ở tầm mức địa phương và quốc tế.

Năm nay, con số đề cử lên đến 194 người.

Luật sư người Iran Shirin Ebadi, 56 tuổi, nhận giải Nobel hòa bình năm 2003.

Vào thứ Hai tuần sau, giải Nobel cuối cùng, giải kinh tế, sẽ được loan báo.

Chân dung Wangari Maathai - Nobel hòa bình 2004
Wangari Maathai được ca ngợi vì lòng dũng cảm
Nhà hoạt động nhân quyền và môi trường Kenya, Wangari Maathai, đã giành giải thưởng Nobel hòa bình.
Bà là người phụ nữ châu Phi đầu tiên nhận giải Nobel hòa bình kể từ khi giải thành lập năm 1901.

Năm 1977, bà thành lập một tổ chức - đa phần thành viên là phụ nữ - có tên Phong trào vành đai xanh nhằm giảm hậu quả của việc phá rừng.

Việc bà huy động được người nghèo trồng đến 30 triệu cây đã được các nước khác bắt chước.

Phong trào vành đai xanh tiếp tục vận động cho giáo dục, dinh dưỡng và các vấn đề khác quan trọng với phụ nữ.

Vào cuối thập niên 1980, bà trở thành nhà vận động chống lại một tòa nhà chọc trời dự định xây ở giữa công viên chính - Uhuru - ở thủ đô của nước Kenya.

Bà bị lên án, nhưng đã thành công trong việc ngăn chặn kế hoạch.

Gần đây hơn, bà trở thành nhà vận động hàng đầu về các vấn đề xã hội, đến nỗi bị bắt và một lần thậm chí bị đánh bất tỉnh.

Bà cũng dẫn đầu một cuộc biểu tình của những phụ nữ khỏa thân.

Năm 1997, bà ra ứng cử tổng thống, nhưng thất bại.

Nhưng trong cuộc bầu cử 2002, bà trở thành nghị sĩ và được bổ nhiệm thứ trưởng môi trường năm 2003.

Bà sinh năm 1940 và có ba con.

Người chồng cũ của bà, ly hôn trong thập niên 1980, được cho là đã có lần nói bà "quá học thức, quá mạnh mẽ, quá thành công, quá bướng bỉnh và quá khó để kiểm soát."

MinhKhánh
12-10-2004, 04:07 PM
Nobel 2004 cho kinh tế động học

Andrew Walker
Chuyên gia kinh tế của đài BBC


Giải thưởng Nô-ben kinh tế trị giá một phẩy ba triệu đô la Mỹ năm nay đã thuộc về kinh tế gia Finn Kydland sinh ra tại Na Uy và kinh tế gia Edward Prescott của Hoa Kỳ.
Giải thưởng này là để ghi nhận đóng góp của họ được biết tới với tên kinh tế vĩ mô động, vốn giải thích về vấn đề chu kỳ kinh tế bị ảnh hưởng bởi các yếu tố như công nghệ và chính sách kinh tế.

Công trình của hai vị giáo sư đưa ra giải pháp lý thuyết làm nền tảng cho một số nghiên cứu phát triển quan trọng trong chính sách kinh tế trong vòng 2 thập niên trở lại đây.

Đó là các nghiên cứu về vai trò của ngân hàng trung ương trong việc qui định lãi suất cơ bản, cùng mục tiêu khống chế lạm phát.

Giải thích stagflation

Công trình của giáo sư Prescott và Kydland cũng giải thích được vấn đề mới xuất hiện hồi thập niên 1970, được gọi là stagflation.

Đó là tình trạng kinh tế có lạm phát song hành với thất nghiệp cao, vấn đề mà giới kinh tế gia thời đó hầu như không giải thích được.

Giải pháp trong lý thuyết mới của hai ông là đưa ra khái niệm được gọi là độ rơ thời gian.

Để hiểu rõ hơn có thể đưa ví dụ về chính sách của chính phủ muốn giảm con số thất nghiệp bằng cách kích thích kinh tế phát triển thông qua việc hạ lãi suất cơ bản, tức là theo chiến lược giữ lạm phát ở mức thấp.

Thế nhưng trên thực tế quá trình này có thể khiến lạm phát tăng thêm.

Kết quả là chính sách của nhà nước làm mất lòng tin, kéo theo là lạm phát cùng thất nghiệp lại còn tăng cao lên nữa.

Ngân hàng độc lập

Giải pháp đưa ra chính là sáng kiến về hệ thống ngân hàng trung ương độc lập, để cho nếu ngân hàng muốn giữ lạm phát ở mức thấp thì không bị sức ép của xã hội làm ảnh hưởng.

Thế là trong vòng hơn 10 năm trở lại đây, nhiều quốc gia đã thay đổi cơ chế, trao quyền quyết định về lãi suất cơ bản từ tay bộ trưởng tài chính sang thống đốc ngân hàng trung ương.

Anh Quốc và các nước sử dụng đồng Euro đã áp dụng cơ chế mới này.

Hội đồng trao giải nhận định rằng bước cải tổ này là quá trình quan trọng trong giai đoạn hiện tại là thời của lạm phát ổn định và thấp.