View Full Version : Tống Từ
AHYTT
28-05-2005, 10:25 AM
Khi nói về văn học cổ TQ, nói về thể loại người ta hay nói " Hán Phú, Đường Thi, Tông Từ, Nguyên Khúc" (+ tiểu thuyết Minh Thanh), những thể loại phát sinh và phát triển rực rỡ trong các triều đại Hán, Đường, Tống, Nguyên. Đường thi thì đã có 1 chủ đề . Xin mở tiếp chủ đề về Hán phú và Tống từ. Riêng về Nguyên Khúc và tiểu thuyết thời Minh-Thanh do khác biệt bản chất thể loại nên không đem thảo luận chung ở đây. Gộp Phú và Từ là vì theo ý cá nhân anh e ngại là chủ để không có đủ dài hơi để mà duy trì lâu dài (Đường Thi đã quen thuộc mà xem chừng cũng hơi thoi thóp).
Kinh Thi, một trong ngũ kinh, là tập hợp các bài dân ca của người phương Bắc TQ, còn Sở Từ là di sản 'dân gian' vùng nước Sở, miền Nam TQ (cái vụ Sở Từ này anh nói hơi liều vì anh cũng chưa có đọc Sở Từ, chú nào bác nào ở đây am hiểu chỉnh sửa, chia sẻ thêm). Trong trường hợp, Hán Phú và Tống Từ riêng không đủ duy trì thì xin mời thảo luận thêm Kinh Thi và Sở Từ luôn. Vì là chưa nắm rõ tình hình nên ở đây có tính chất thăm dò như vậy.
Mở đầu, xin giới thiệu bài viết 'sơ lược về Từ' trên trang http://www.thivien.maihoatrang.com/module....hamkhao&tkid=24
Sơ lược về từ
Từ được phát triển thành một thể loại độc lập ở Trung Hoa cuối đời Đường (618-907) và thời Ngũ Đại (907-960). Một bài từ gồm các câu dài ngắn khác nhau (trường đoản cú), ngắn có thể chỉ 1 chữ, dài có thể 9, 11 chữ. Số câu trong bài từ cũng không nhất định. Tuỳ theo ngắn dài, bài từ chia làm ba loại: tiểu từ (trên dưới 20 chữ), trung từ (khoảng 30-50 chữ) và mạn từ (60-150 chữ, có bài 240 chữ). Về vần, có thể là vần bằng, trắc, hoặc bằng trắc xen kẽ (một bài từ tiếng Việt quen thuộc là bài Tống biệt của Tản Đà, được sáng tác theo điệu Hoa phong lục).
Từ thường viết cho một điệu nhạc nào đó, nên lời có thể hát lên được, số câu chữ, tiết tấu nhịp điệu của lời đều do khuôn khổ của điệu nhạc quy định. Thoạt đầu, từ được những người dân bình thường hát lên trong những dịp hội hè, sau đó chúng phổ biến nhờ những ca kỹ, và vào đời Đường, các thi nhân mới lưu ý tới thể loại này, và từ dần dần tách khỏi các điệu nhạc, tới đời Tống là thời cực của từ (người ta thường nói: Hán phú, Đường thi, Tống từ, Nguyên khúc).
Đời Tống, những người làm từ (từ nhân) nổi tiếng như Âu Dương Tu, Tô Đông Pha, Tần Quán, Chu Bang Ngạn, Lý Thanh Chiếu, Lục Du, Tân Khí Tật,... mở rộng từ cả về nội dung và hình thức. Với thế hệ đầu tiên, nội dung các bài từ, do cảm hứng bắt nguồn từ những từ khúc hát bởi các ca kỹ nên cũng không ngoài những nỗi sầu tình, những thương hoa, những tiếc xuân, những cuộc rượu, những cơn say, phóng đãng và lả lơi xiêm áo,..., những bài từ "sực nức mùi phấn hương ca kỹ".
Khi nội dung của từ đã được mở rộng, hình thức của nó cũng được mở rộng theo, khuôn khổ và điệu nhạc quy định cũng bị phá vỡ. Người đi rất xa, rất táo bạo trong việc phá cách này là Tô Đông Pha, đến độ ông bị các từ nhân trung thành với khuôn khổ của nhạc điệu chê cười là "không hiểu âm luật". Xin mở một dấu ngoặc: thực ra Tô Đông Pha rất tinh thông âm luật, từ của ông vẫn hát lên được và rất giàu nhạc tính. Ông là một thiên tài đa dạng, "cây đại thụ của các bộ môn thi từ thư hoạ", ông giữ một vai trò trọng yếu trong quá trình phát triển của từ, chính ông là người mở đường cho thời Nam Tống. Ông có hùng tâm sửa đổi phong khí uỷ mị của phái Hoa gian chỉ ca tụng những cảnh trăng hoa (hãy nhớ lại giọng kiêu hùng ngang tàng trong bài Niệm nô kiều, bài từ "để cho tráng sĩ ở Quan Tây gảy đàn tỳ bà bằng đồng, gõ phách bằng sắt mà hát câu Đại giang đông khứ thì mới hợp"). Nhưng từ của Tô Đông Pha cũng không thiếu giọng điệu du dương, ví như bài Thuỷ điệu ca đầu.
Thoát khỏi khuôn khổ quy định của nhạc điệu, lại không bị hạn chế về số câu chữ như thi luật, ta thấy ngay là vần điệu từ phong phú hơn nhiều so với điệu của thi. Có những bài từ đơn giản giống hệt như thơ tứ tuyệt bốn câu ba vần: Đào lãng sa của Lưu Vũ Tích, có bài áp vận như một lối thơ cổ phong hai câu vần trắc hai câu vần bằng gián cách nhau: Điều tiếu lệnh của Vi Ứng Vật, có bài tám câu đều áp vận: Trường tương tư của Bạch Cư Dị. Ngoài ra mỗi thể tài một cách áp vận khác nhau, không thể kể xiết. Hình thức phóng túng của từ sau khi được cởi trói khỏi khuôn khổ của nhạc điệu khiến ta hiểu vì sao từ được các nhà thơ đời Tống ưa chuộng, vì sao thơ Tống không được phát triển và bị phê bình là "khô khan, vụ hình thức".
Đọc thơ và từ của các tác giả đời Tống, người ta ghi nhận hiện tượng đề tài nghiêm túc thì khi diễn đạt bằng thơ, tác giả cũng kèm theo phong cách ngôn ngữ nghiêm túc tương xứng, sự phong khoáng được dành cho từ. Trích mấy câu trong bài Mãn đình phương:
Tiêu hồn đương thử tế
Hương mang du giải
La đ@'i khinh phân (từ này bị bộ lọc nó nọc, nên thông cảm nhớ các chú em :D )
Mạn doanh đắc thanh lâu bạc hãnh danh tồn
(Gặp lúc tiêu hồn
Nhẹ chia giải lụa
Ngầm cởi túi thơm
Chỉ hơn được lầu xanh bạc hãnh danh còn
-Nguyễn Hiến Lê dịch-)
Tới đây, để tránh sự ngộ nhận, cần ghi nhận điểm này: hình thức của từ, dù được giải phóng khỏi khuôn khổ trói buộc của nhạc điệu, thì nó vẫn có những gắn bó nhất định với nhạc điệu, chính nhạc điệu là nét cơ bản của từ để phân biệt nó với thi. Cũng chính nhạc điệu, trong một chừng mực nào đó, đã khiến từ, so với các thể loại văn học khác, đượm nhiều sắc thái dân ca hơn cả. Sở dĩ từ có liên hệ mật thiết với nhạc, vì từ bắt nguồn từ cái mà người Trung Hoa gọi là Yên nhạc, và Yên nhạc ra đời do sự tiếp thu âm nhạc của Tây Vực truyền vào Trung Hoa. Cuộc giao lưu giữa Trung Hoa với khu vực phía Tây (Tây Vực) được mở ra rất sớm, ngay từ đầu thời Chiến Quốc, chủ yếu thông qua một con đường được gọi là Con đường tơ lụa, cùng với sự trao đổi hàng hoá là sự trao đổi văn hoá phẩm.
Ở đây xin trích một vài sử liệu liên quan đến sự hình thành của từ Trung Hoa. Đại cương lịch sử văn hoá Trung Hoa (nhiều tác giả, gs. Lương Duy Thứ chủ biên, nxb Văn hóa thông tin, 1994), trang 429: "Tấn thư - Nhạc chí có ghi: "Lý Diên Niên từ khúc nhạc Hồ sáng tạo thành 12 giai điệu mới, được gọi cái tên mới là vũ nhạc". Trong mười bộ nhạc của triều vua Đường thì có tám vản là của các nước Tây Vực. Âm nhạc phương Tây được nhân dân Trung Hoa ưa thích. Bài Lương châu hành của Vương Kiến đã phản ánh rõ tình hình người dân Lạc Dương đều có học nhạc Tây. Thời Đường, trên nền tảng tiếp thu nhạc khúc phương Tây đã tạo ra khúc Nghê thường vũ y nổi tiếng". Trang 185: "Thời đại nhà Đường dân gian hấp thu và lưu truyền âm nhạc rợ Hồ ở Tây Vực mà hình thành Yên nhạc, đến thời Ngũ Đại có từ là sự phối hợp bắt nguồn từ Yên nhạc là thành".
Như vậy đủ thấy cuộc giao lưu văn hoá giữa Trung Hoa với Tây Vực (mà không chỉ dừng ở Tây Vực, thông qua Tây Vực, Trung Hoa có được những mối giao lưu với các nền văn hoá Hy Lạp, La Mã, Ai Cập, Ba Tư, Ấn Độ,...) đã đóng góp nhiều mặt vào quá trình hình thành và phát triển văn hoá Trung Hoa, mà một thành tựu nổi bật là văn hoá Thịnh Đường, và từ cũng là một trong những thành quả của cuộc giao lưu văn hoá đó.
home_nguoikechuyen
28-05-2005, 06:08 PM
Không thể ghép Sở Từ, Tống Từ, Hán thi vào một topic được anh ơi.
Trông buồn cười lắm.
Anh AHYTT ơi.Có thể đổi tên topic thành Tống Từ được không?
Còn Sở Từ, hán thi, anh em ta sẽ lập topic riêng.
Đồng ý không anh?
Anh Kỵ ơi. Phiền anh sửa topic thành:
Tống từ
cái nhé.
Nếu vậy, xóa cái phần đầu được không anh AHYTT. Bắt đầu từ đoạn :
Mở đầu, xin giới thiệu bài viết 'sơ lược về Từ' trên trang http://www.thivien.maihoatrang.com/module....hamkhao&tkid=24
home_nguoikechuyen
28-05-2005, 06:11 PM
Lời tưạ của Chế Lan Viên viết trong quyển Tống Từ.
…Đầu tiên, chớ nên nghĩ rằng Tống từ bắt đầu từ Sở từ. Hai chữ Từ ấy rất khác nhau. Sở Từ, hay Từ của Khuất Nguyên, có từ 3,4 trăm năm trước Công nguyên, nó còn có tên là Tao, và sau này phát triển thành Phú, một thứ thơ mở rộng để chứa đựng thực tế chứ đâu phảI thứ khép lạI trong tâm hồn mà tên gọI là Từ. Sở dĩ khi nói Tống Từ, ngườI ta hay nghĩ đến Sở từ, chỉ vì cả hai đều từ dân ca mà ra, cả hai đều có câu dài ngắn so le để tiện cho thi tứ tung hoành. Và trong Văn Tâm Điêu Long của Lưu Hiệp, quyển sách nổI tiếng của các thế kỷ đã có một câu: “Sở Từ của Khuất Nguyên làm ảnh hưởng đến các nhà làm Từ muôn đờI sau”. Câu đấy có thể thêm: “ảnh hưởng đến các nhà làm thơ, làm tiểu thuyết, viết kịch, làm hộI hoạ muôn đờI sau”. Cái gì mà các tác phẩm vĩ đạI của Khuất Nguyên không ảnh hưởng đến được. Nhưng ảnh hưởng chủ yếu lên Từ, có lẽ vì nội dung của Từ là lãng mạn, là nộI tâm mà Khuất Nguyên lạI là con sông muôn trượng cuồn cuộn các chất ấy. Từ Tống chính là bắt nguồn từ đờI Đường, hay sớm hơn nữa từ thờI Lục Triều, hoặc sớm hơn nữa từ lúc nào có âm nhạc, và âm nhạc đòi lờI ca của nó. Từ chỉ là lờI các bài ca.
Nhưng tại sao phải chờ đến đời Đường (618-906), Từ mới định hình thành một thể loại, và phải đến Tống thì cái thể loại tôi đòi, đàn em ấy mới làm vua.
Đời Đường ở Trung Quốc mới hình thành những đô thị lớn và một công chúng thưởng thức âm nhạc văn thơ, những kỹ nữ, những đội nhạc công sống bằng nghề đàn hát. Đội của nhà vua gọi là Lê Viên tử đệ, gồm có 300 người, và chính vua Đường cũng là tác giả hàng trăm bài hát cho con em vườn Lê ấy. Đầu thì họ hát các bài lấy từ dân ca ra, hay các bài tuyệt cú của thi nhân, sau thì để cho lời hát ăn khớp với tiết tấu của nhạc, họ làm cho các câu dài ngắn so le xen kẽ nhau và sáng tác bài mới. Sự phát hiện ra những bài hát ở Đôn Hoàng chứng minh rằng ở thế kỷ thứ 7, trước cả những bài hát của các tác giả văn nhân như Bạch Cư Dị, Lưu Vũ Tích, Từ đã có. Những bài ấy khá hoàn chỉnh về hình thức, có bài ngắn (lệnh Từ), bài vừa (trung Từ), dài hơn gọi là mạn Từ. Đã có những tên chỉ từng mô hình như Vọng Giang Nam, Đảo luyện tử, Phượng quy vãn.
Đến đời Đường, các lời bài hát đi kèm âm nhạc làm tôi đòi, em út của nó, dần dần vừa thích ứng với ca hát, lại vừa có một đời sống văn học độc lập của mình. Thơ đời Đường cực thịnh. So với thơ ấy, Từ lại chịu dở sao? Thua kém sao? Huống nữa, người làm Từ cũng là người làm thơ đấy thôi?
Mọi người đều khâm phục bài từ ngắn của nhà thơ Đới Thúc Luân:
Cỏ biên tái, cỏ biên tái, cỏ biên tái khiến người lính già.
Người xưa đánh giá rất cao hai bài từ ngờ là của Lý Bạch, nhất là những câu:
Thềm sương đành đứng nấp
Chim hôm về tổ gấp
Đâu biết nẻo quy trình
Trường đình lại đoản đình
trong bài Bồ Tát man, và những câu:
Gió nắng xiên xiên
Lâu đài nhà Hán
trong điệu Ức Tần nga. Hoàng Thăng đời Tống trong tập “Đường Tống chư hiền tuyệt diệu từ” đã viết hai bài BỒ Tát man, Ức Tần nga này là Tổ của Từ, khúc trăm đời sau.
Nếu cuộc sống thịnh vượng đời Đường làm cho Từ phát triển, định hình, thì trong thơ Ngũ đại (907-974) tiếp theo đó, cuộc sống giữa chinh chiến liên miên đã đẩy Từ đi vào bề sâu, khai thác nội tâm. Lý Dực, ông vua cuối cùng của nước Nam Đường, còn có tên gọi là Lý Hậu chủ, là một ông vua trong cảnh ăn chơi, phút chốc đã hóa tên tù “sớm chiều rửa mặt bằng nước mắt”
Xuân hoa thu nguyệt bao giờ hết
Việc trước nhiều hay ít
Lầu nhỏ đêm qua lại gió đông
Nước cũ không đành quay lại chốn trăng trong
(Xuân hoa thu nguyệt hà thời liễu
Vãng sự tri đa thiểu
Tiểu lâu tạc dạ hựu đông phong
Cố quốc bất kham hồi thủ minh nguyệt trung)
hoặc:
Vạt là không ấm suốt canh tàn
Trong mộng nào hay mình ở trọ
Với những câu những bài từ động đến số phận của con người, đến những bi kịch của xã hội như vậy, Lý Hậu chủ đã đưa Từ ra khỏi số phận “dư ba” của thơ, cái thừa của thơ (thi dư), “cái đạo nhỏ” (tiểu đạo).
Trương Vô Kỵ
29-05-2005, 08:27 AM
Originally posted by AHYTT@May 28 2005, 09:25 AM
Ở đây xin trích một vài sử liệu liên quan đến sự hình thành của từ Trung Hoa. Đại cương lịch sử văn hoá Trung Hoa (nhiều tác giả, gs. Lương Duy Thứ chủ biên, nxb Văn hóa thông tin, 1994), trang 429: "Tấn thư - Nhạc chí có ghi: "Lý Diên Niên từ khúc nhạc Hồ sáng tạo thành 12 giai điệu mới, được gọi cái tên mới là vũ nhạc". Trong mười bộ nhạc của triều vua Đường thì có tám vản là của các nước Tây Vực. Âm nhạc phương Tây được nhân dân Trung Hoa ưa thích. Bài Lương châu hành của Vương Kiến đã phản ánh rõ tình hình người dân Lạc Dương đều có học nhạc Tây. Thời Đường, trên nền tảng tiếp thu nhạc khúc phương Tây đã tạo ra khúc Nghê thường vũ y nổi tiếng". Trang 185: "Thời đại nhà Đường dân gian hấp thu và lưu truyền âm nhạc rợ Hồ ở Tây Vực mà hình thành Yên nhạc, đến thời Ngũ Đại có từ là sự phối hợp bắt nguồn từ Yên nhạc là thành".
Quoted post
Vậy không biết bài Giai Nhân của Lý Diên Niên được sử dụng trong phim Thập diện mai phục có thuộc thể loại từ phẩm không nhỉ ?
Giai nhân
Bắc phương hữu giai nhân
Tuyệt thế nhi độc lập
Nhất cố khuynh nhân thành
Tái cố khuynh nhân quốc
Ninh bất trí
Khuynh thành dữ khuynh quốc
Giai nhân nan tái đắc.
Mà bên Mai hoa trang ngoài các bài từ còn có nhạc điệu cho các điệu từ đó . Chú Home hay anh AHYTT làm ơn post lên được không ?
AHYTT
29-05-2005, 01:06 PM
Có nghe nói Sờ từ quyển của Đào Duy Anh. Ở đây ai có thể tìm (hay sẵn có) thì chia sẻ cho mọi người biết nhé, anh cũng không biết về quyển này. Cảm ơn.
Sở Từ là các bài Từ làm theo điệu ca nước Sở, những bản còn lưu lại đến ngày nay đa phần là của Khuất Nguyên. Tác phẩm tiêu biểu của Khuất Nguyên là Ly tao, là bài thơ trữ tình cá nhân đầu tiên, và cũng là bài thơ dài đâu tiên trong lịch sử thơ ca TQ (373 câu, 2490 chữ) . Người xưa gọi là viên ngọc quí lạ ' tiền thế vị văn, hậu thế mạc kế' (đời trước chưa nghe thấy, đời sau không ai theo kịp). Bài Ly tao gây xúc động đến nỗi về sau chữ tao trở thành 1 tính từ thơ ca (tao nhân, tao đàn). Ngoài Ly tao, ông còn có:
1) Cửu chương: gồm 9 bài.
2) Cửu ca: gồm 11 bài dân ca được ông cải biên nói về việc tế thần mặt trời, thần núi...
3) Thiên vấn (hỏi trời): là 1 bài thơ lạ đề xuất hơn 130 câu hỏi về truyển thuyết, lịch sử.
(dẫn theo sách Bài giảng văn học TQ của GS Lương Duy Thứ)
Đó là nói theo sách vở, còn thực tế thì Ly tao, cửu ca, cửu chương, thiên vấn thì anh chưa tìm được để mà đọc. Các cô các chú ai biết thì phổ cập cho nhau.
At Kỵ : Nhạc thì anh không rành lắm, ý chú em Kỵ hỏi, anh sẽ thử tìm hiểu xem sao.
AHYTT
29-05-2005, 01:13 PM
Giới thiệu về Từ
Từ
Một thể thơ cách luận của Trung Quốc xuất hiện vào đời Đường, phát triển mạnh ở đời Tống, có số chữ trong bài cố định, câu dài câu ngắn và phối hợp chặt chẽ với âm nhạc.
Từ ở thời kỳ đầu và thơ chưa có ranh giới rõ ràng, đến cuối đời Đường mới thành một thể loại độc lập mang đầy đủ những đặc điểm trên. Khác Nhạc phủ ở cách luật nghiêm ngặt, khác thơ Đường luật ở chỗ câu dài câu ngắn, khác thơ cổ phong tạp ngôn ở cách luật nghiêm ngặt và số chữ cố định. Đời Tống có khoảng 870 điệu từ với những biến thể của chúng. Tên điệu từ thoạt đầu có ý nghĩa và chính là đề tài của bài thơ như Dương liễu chi vịnh liễu, Lãng đào sa vịnh cát, Đạp ca từ tả múa..., song về sau chỉ còn là tên gọi đơn thuần. Mỗi điệu có một từ phổ, phải tìm những chữ điền vào cho phù hợp yêu cầu về mặt thanh âm của công thức từ phổ, bởi vậy làm từ gọi là "điền từ". Điệu từ ngắn nhất là Trúc chi từ (14 chữ), dài nhất là Oanh đề từ (240 chữ). Những điệu tương đối dài thường chia làm hai đoạn, công thức có thể khác nhau hoặc hoàn toàn giống nhau (như Trường tương tư)... Số chữ trong câu có thể dài trên mười chữ, cũng có thể chỉ có một chữ (câu đầu trong Thương Ngô dao). Luật bằng trắc rất chặt chẽ, nhìn chung, không có lệ bất luận như ở thơ Đường luật. Một bài từ thường dùng nhiều vần. Vần có thể trắc hoặc bằng. Chỉ dùng vần bằng như Phá trận tử, Tấm viên xuân, Ức Giang Nam, Giá cô thiên...; chỉ dùng vần trắc như Hậu đình hoa, Mãn giang hồng, Niệm nô kiều, Thanh thương oán... Một số có thể dùng cả hai, nhưng chủ yếu vẫn thuộc loại vần bằng hoặc vần trắc. Chủ yếu gieo vần bằng như Cán khê sa, Lãng đào sa..., chủ yếu gieo vần trắc như Ức Tần nga, Như mộng lệnh... Có điệu dùng vần bằng trắc xen kẽ. Trình tự gieo vần ở từ rất đa dạng (vần liền, vần gián cách, vần ôm...): aa bb cc dd (Chiêu Quân oán), abba (Tây giang nguyệt), ababbb (Sa song hận), aaa bb ccc (Điều tiếu lệnh)...
Số đông nhà làm từ Trung Quốc, từ Ôn Đình Quân, Vi Trang thuộc phái Trong hoa đời Đường - Ngũ Đại đến Chu Bang Ngạn, Lý Thanh Chiếu thuộc phái Cách luật, phái Uyển ước đời Bắc Tống đều quá chú trọng đến việc trau chuốt kỹ xảo, chỉ dùng từ thể hiện những vấn đề thuộc phạm vi sinh hoạt cá nhân, do đó về nội dung tư tưởng, giá trị hiện thực là rất hạn chế. Phái từ Hào phóng Bắc Tống, tiêu biểu là Tô Thức và những nhà thơ yêu nước Nam Tống, tiêu biểu là Tân Khí Tật đã mở rộng đề tài của từ, khiến cho từ tiếp xúc với đời sống xã hội rộng lớn, có khả năng biểu hiện tư tưởng tình cảm, cá tính của tác giả rõ rệt hơn.
Ở Việt Nam, một số nhà thơ cổ điển đã làm từ bằng chữ Hán, đầu thế kỷ XX mới có một vài người làm từ bằng chữ Quốc Ngữ. Bài từ sớm nhất hiện còn là bài Vương lang quy của Ngô Chân Lưu đời Đinh. Tuy nhiên, do quy luật phát triển của thể loại văn học trong lịch sử dân tộc Việt Nam, so với thơ Đường luật, từ ít được sử dụng hơn rất nhiều.
Nguyễn Khắc Phi
(từ điển văn học)
Nguồn: http://www.luongsonbac.de/thidan/baiviet.p...=3295&tacgia=97
home_nguoikechuyen
29-05-2005, 06:37 PM
Originally posted by Trương Vô Kỵ@May 29 2005, 06:27 AM
Vậy không biết bài Giai Nhân của Lý Diên Niên được sử dụng trong phim Thập diện mai phục có thuộc thể loại từ phẩm không nhỉ ?
Giai nhân
Bắc phương hữu giai nhân
Tuyệt thế nhi độc lập
Nhất cố khuynh nhân thành
Tái cố khuynh nhân quốc
Ninh bất trí
Khuynh thành dữ khuynh quốc
Giai nhân nan tái đắc.
Mà bên Mai hoa trang ngoài các bài từ còn có nhạc điệu cho các điệu từ đó . Chú Home hay anh AHYTT làm ơn post lên được không ?
Quoted post
Bài này sao gọi là Từ được anh Kỵ ơi.Chỉ là một bài Hán Thi bình thường thôi.
Anh nên xem lại một số tiêu chuẩn để nhận biết Từ trong bài AHYTT đã post.
Ngay cả cái thời gian đã thấy....
Từ
Một thể thơ cách luận của Trung Quốc xuất hiện vào đời Đường, phát triển mạnh ở đời Tống, có số chữ trong bài cố định, câu dài câu ngắn và phối hợp chặt chẽ với âm nhạc.
bài của Lý Diên Niên là đời Hán.
Có thể coi bài này là mổ kiểu Hán Nhạc.Lý Diên Niên là một nhạc sư, bài này viết ra là để lăng xê cho cô em gái, mà say này làm Lý Phi của Hán Vũ Đế.
Bài này không có tựa đề, tựa đề Giai nhân, chắc là do người nào bịa vào.
Bài này có rất nhiều dị bản.
bản của anh Kỵ đã post đã dịch:
Phương bắc có giai nhân
Tuyệt vời đứng riêng bực,
Một liếc, người nghiêng thành.
Hai liếc, người nghiêng nước.
Lẽ nào không biết được
Người đẹp thành nước nghiêng,
Người đẹp khó tìm gặp.
Chỉ buồn cười trong phim Thập Diện Mai Phục họ lại dịch:
"Cười một cái thì nghiêng thành, cười hai cái thì nghiêng nước" :D :( Cười .
Còn nguyên tác bài này đuợc chép lại ở trong Hán thư (《汉书·外戚传》) như thế này:
北方有佳人,绝世而独立。
一顾倾人城,再顾倾人国。
宁不知倾城与倾国?
佳人难再得!
Một số sách thì chép:
漢 書 曰 . 李 延 年 善 歌 . 侍 武 帝 . 歌 曰 .
北 方 有 佳 人 . 絕 世 而 獨 立 . 一 顧 傾 人 城 . 再 顧 傾 人 國. 寧 不 知 傾 城 國 . 佳 人 不 可 再 得 .
Bắc Phương hữu giai nhân
Tuyệt thế nhi độc lập
Nhất cố khuynh nhân thành
Tái cố khuynh nhân quốc
Ninh bất tri khuynh thành quốc
Giai nhân bất khả tái đắc.
home_nguoikechuyen
29-05-2005, 06:40 PM
Originally posted by AHYTT@May 29 2005, 11:06 AM
Có nghe nói Sờ từ quyển của Đào Duy Anh. Ở đây ai có thể tìm (hay sẵn có) thì chia sẻ cho mọi người biết nhé, anh cũng không biết về quyển này. Cảm ơn.
Sở Từ là các bài Từ làm theo điệu ca nước Sở, những bản còn lưu lại đến ngày nay đa phần là của Khuất Nguyên. Tác phẩm tiêu biểu của Khuất Nguyên là Ly tao, là bài thơ trữ tình cá nhân đầu tiên, và cũng là bài thơ dài đâu tiên trong lịch sử thơ ca TQ (373 câu, 2490 chữ) . Người xưa gọi là viên ngọc quí lạ ' tiền thế vị văn, hậu thế mạc kế' (đời trước chưa nghe thấy, đời sau không ai theo kịp). Bài Ly tao gây xúc động đến nỗi về sau chữ tao trở thành 1 tính từ thơ ca (tao nhân, tao đàn). Ngoài Ly tao, ông còn có:
1) Cửu chương: gồm 9 bài.
2) Cửu ca: gồm 11 bài dân ca được ông cải biên nói về việc tế thần mặt trời, thần núi...
3) Thiên vấn (hỏi trời): là 1 bài thơ lạ đề xuất hơn 130 câu hỏi về truyển thuyết, lịch sử.
(dẫn theo sách Bài giảng văn học TQ của GS Lương Duy Thứ)
Đó là nói theo sách vở, còn thực tế thì Ly tao, cửu ca, cửu chương, thiên vấn thì anh chưa tìm được để mà đọc. Các cô các chú ai biết thì phổ cập cho nhau.
At Kỵ : Nhạc thì anh không rành lắm, ý chú em Kỵ hỏi, anh sẽ thử tìm hiểu xem sao.
Quoted post
Hiiiiiiiiiii, quyển này Home đã nói rồi còn gì. Home có mà.
Home bảo tranh thủ nếu có thời gian dỗi thì ngồi dịch lại thơ rồi đưa lên mạng mà.
Home có một quyển. Và Home cũng biết có một nơi còn quyển nữa. Nếu anh thích, em mua lại cho.
AHYTT
30-05-2005, 01:47 PM
Anh vẫn không thông được nhiều về khoản này, vì anh cũng chỉ là dân ngoại đạo như các chú thôi, thời gian lại cực kì ít, bé hơn cái hạt mít, những gì anh biết cũng chỉ qua web, đa phần là bên maihoatrang. Nên có những thắc mắc này, chú nào biết thì nói cho anh tỏ, bác nào hay nói cho em thông. Cám ơn.
1) Có khoảng bao nhiêu điệu từ, bài từ?
Vd như thơ Đường thì có ngũ ngôn hay thất ngôn- tứ tuyệt hay bát cú, theo tập Tổng Đường Thi thì có hơn 50000 bài thơ Đường , người ta cho luôn cón số chính xác nhưng tui chỉ nhớ con số ước lượng như vậy. Có 1 sự ước lượng tương tự với Từ ko? :-/
2) Có 1 sự phân loại nào về các điệu từ cho dễ nắm bắt không ngoài cách phân chia chung chung theo độ dài ? Nhóm lại khoảng 5-10 nhóm cho dễ thuộc, dễ nhớ, nhỉ?
3) Sự phân chia về phong cách, thời kỳ trong Từ?
Qua mấy bài giới thiệu về Từ thì có thấy người ta nhắc về phong cách của các nhóm, nên nếum mà ai biết thử đi vào tác phẩm, tác giả cụ thể của phong cách đó, và nêu ra vài điểm về phong cách của họ. :5:
Và khoản này nữa: Từ , theo như người ta nói, có liên quan mật thiết với nhạc. Bên cạnh các bài từ ( nếu đươc vì hổng phải bao giờ cũng được) nếu chú nào biết có thể đính kèm theo Tên điệu từ, cách ngắt nhịp (thêm / ở những chỗ ngắt), và sẽ thật là bổ ích nếu có kèm theo các file audio đọc hay ca cụ thể (cái này chắc sẽ khó, nhưng cô chú nào biết thì tự đọc hay ca thì tuyệt vời). :71: :P
@ Home chăm chỉ khi nào rảnh thì đưa lên cho anh em cùng tham khảo, chú còn phổ cập cho nhiều người trên các site khác nữa mà :P , cố lên em.
Xem chừng sắp tới anh cũng có bản photo rồi, vì kêu la mãi, cũng có người thương tình, cám ơn lòng tốt của chú em.
Trương Vô Kỵ
30-05-2005, 05:56 PM
Tại hạ tìm thấy bên maihoatrang bài viết về tìm hiểu âm nhạc trong Từ , còn có link một số điệu từ nổi tiếng như : sinh tra tử , trường tương tư, hoa phi hoa,... nhưng mà cái link đấy hình như không work nữa thì phải !
Tìm hiểu âm nhạc trong từ
Từ là một thể loại nghệ thuật đặc biệt được hình thành và phát triển ở Trung Quốc từ khoảng đời Hán-Đường đến tận ngày nay. Từ không chỉ là một thể loại độc lập trong văn học bên cạnh các thể loại văn học khác như thi, phú, tiểu thuyết, mà từ còn chính là một thể loại độc lập trong âm nhạc. Văn học và âm nhạc gặp gỡ, thăng hoa ở chính trong từ. Mặt văn học, đặc biệt tính thơ của từ thường được bàn luận nhiều, nhưng mặt âm nhạc, nhạc điệu của từ thường ít được để ý, nhất là đối với người Việt. Có lẽ, trở ngại chính trong tìm hiểu nhạc điệu trong từ chính là sự xa lạ của nền cổ nhạc cũng như dân nhạc Trung Hoa đối với người Việt Nam, cũng như chính kiến thức mai một về cổ nhạc Việt Nam của chính người Việt Nam.
I. Nhạc phổ của từ
Khi nói về tên một bài từ nào đấy, thực chất là ta đã nói đến hai yếu tố quan trọng cấu thành của từ: từ phổ và nhạc điệu. Từ phổ cho ta biết cấu trúc về mặt ngôn ngữ của bài từ, còn nhạc điệu cho ta biết cấu trúc về mặt âm nhạc của bài từ. Tất nhiên, ngôn ngữ và âm nhạc tuy là hai mặt khác nhau, nhưng chúng thống nhất và hòa đồng trong một bài từ. Vấn đề thống nhất và hài hòa giữa ngôn ngữ và âm nhạc trong bài từ chúng ta sẽ trở lại sau. Từ phổ chính là luật bằng trắc cùng âm vận của bài từ. Nhạc điệu chính là điệu thức âm nhạc của bài từ. Ví dụ bài từ "Trường tương tư" có từ phổ cấu trúc từ 36 chữ, chia thành 2 vế, mỗi vế có 3 vần bằng và có luật nhất định về thanh bằng trắc cho các chữ. Bài từ này có nhạc điệu là "Nam thương điệu" (giáo phường thời Đường ghi là "Song điệu"). Từ phổ của các bài từ có thể tìm trong các sách viết về từ phổ như "Bạch Hương từ phổ" (白香詞譜) của Thư Mộng Lan (舒夢蘭), "Điền từ chỉ yếu" (填詞指要) hay "Từ cách biểu" (詞格表) có rất sẵn trên mạng internet (có thể tìm ở trang web "Thi từ thường thức" http://poetic.ayinfo.cn/sccs.htm). Nhạc điệu của bài từ có thể tìm trong các sách viết về nhạc phổ của các bài từ như "Tân định Cửu cung đại thành Nam Bắc từ cung phổ" (新定九宮大成南北詞宮譜) (gọi tắt là "Cửu cung đại thành") hay "Toái kim từ phổ" (碎金詞譜). "Cửu cung đại thành" là tập đại thành san định các bản nhạc phổ các điệu từ, ca khúc của Trung Quốc dưới triều vua Càn Long nhà Thanh. Tập đại thành này do Trang Thân Vương Doãn Lộc phụng chỉ làm chủ biên cùng với các danh gia về từ khúc như Chu Tường Ngọc, Trâu Kim Sinh, Từ Hưng Hoa, Vương Văn Lộc, Từ Ứng Long, Chu Đình và những người khác sưu tầm, chỉnh lý các khúc từ lưu hành ở Trung Quốc. Tập đại thành về nhạc phổ này có 1513 Nam khúc, 581 Bắc khúc và 4466 khúc điệu liên đồng biến thể, đồng thời sử dụng các ví dụ tuyển từ Đường Tống thi từ, Kim Nguyên cung điệu, Tống Nguyên Nam hý, tạp kịch, tản khúc cho đến Minh Thanh truyền kỳ cùng với các văn thể xướng từ. "Cửu cung đại thành" đích thực là một tập đại thành vĩ đại, xứng đáng đứng cạnh các tập đại thành khác như Toàn Nhạc phủ, Toàn Đường thi, Toàn Tống từ. "Toái kim từ phổ" là tập nhạc phổ các từ khúc do Tạ Nguyên Hoài đời Thanh thu thập, biên soạn. Tập nhạc phổ này có hơn 170 khúc từ. Hai tập nhạc phổ kể trên này là nguồn tư liệu chính để người viết so sánh đối chiếu các các bản nhạc phổ của các bài từ lưu hành trên mạng internet với mục đích xem các bản nhạc phổ đó là cổ bản hay đã có những biến tấu mới. Ở đây chúng ta tạm thời chưa xét đến vấn đề các bản nhạc phổ trong "Cửu cung đại thành" hay "Toái kim từ phổ" có còn lưu giữ nguyên trạng nhạc điệu thời Đường Tống hay đã có những biến đổi nhất định. Vấn đề này đòi hỏi nghiên cứu sâu hơn nhạc lý cổ điển Trung Hoa và những biến đổi qua các thời kỳ.
Các bản nhạc phổ chép trong "Cửu cung đại thành" hay "Toái kim từ phổ" được ghi dưới dạng "Cống xế phổ" (工尺譜). "Cống xế phổ" là một dạng ghi các nốt nhạc (cao độ của các âm) của người Trung Quốc kiểu tương tự như cách ghi các nốt nhạc Sol-La của người phương Tây. Âm nhạc cổ điển Trung Quốc sử dụng 12 nốt nhạc để ghi cao độ các âm. 12 nốt nhạc đó được gọi là 12 luật lữ, gồm các tên như sau: hoàng chung, đại lữ, thái thốc, giáp chung, cô tẩy, trọng lữ, nhuy tân, lâm chung, di tắc, nam lữ, vô dịch, ứng chung. Sở dĩ có tên gọi luật lữ vì 12 nốt nhạc này chia thành 6 nốt dương, gọi là luật (hoàng chung, thái thốc, cô tẩy, nhuy tân, di tắc, vô dịch) và 6 nốt âm gọi là lữ (đại lữ, giáp chung, trọng lữ, lâm chung, nam lữ, ứng chung). Ngoài 12 nốt luật lữ này người Trung Quốc còn thêm các nốt thanh như hoàng chung thanh, đại lữ thanh, thái thốc thanh, giáp chung thanh để ghi cao độ âm cao hơn 12 nốt luật lữ. "Cống xế phổ" không rõ được hình thành ở thời gian nào, nhưng trong "Mộng khê bút đàm" của Thẩm Quát đời Tống đã thấy sử dụng đến. "Cống xế phổ" sử dụng 10 chữ để ghi các nốt nhạc: hò (合), xự (四), y (一), xang (上), câu (勾), xế (尺), cống (工), phan (凡), liu (六), oan (五), cộng thêm 6 từ xự non (hay xừ) (下四), y non (下一), cống non (下工), phan non (下凡), oan non (下五) và y oan (一五) . Hò ghi cho hoàng chung, xự non ghi cho đại lữ, xự ghi cho thái thốc, y non ghi cho giáp chung, y ghi cho cô tẩy, xang ghi cho trung lữ, câu ghi cho nhuy tân , xế ghi cho lâm chung, cống non ghi cho di tắc, cống ghi cho nam lữ, phan non ghi cho vô dịch, phan ghi cho ứng chung, liu ghi cho hoàng chung thanh, oan non ghi cho đại lữ thanh, oan ghi cho thái thốc thanh, y oan ghi cho giáp chung thanh. Như vậy mỗi nốt nhạc đều có tên gọi và ứng với cao độ nhất định. Cao độ của mỗi nốt nhạc được xác định bằng quy tắc "Tam phân tổn ích luật". "Tam phân tổn ích luật" chính là quy tắc xác định tần số tương đối của mỗi nốt nhạc, kiểu như quy tắc Pythagoras hay Zarlino trong nhạc lý phương Tây. Quy tắc này xác định 12 nốt luật lữ qua luật ngũ cung, tức là quãng giữa các nốt được tính liên tiếp bằng "Tam phân tổn ích luật" bằng năm bán cung và 12 nốt luật lữ tạo thành 12 nốt bán cung. Với quy tắc này chúng ta hiểu rõ hơn "ngũ cung" là gì. Về mặt điển cố, có thể "ngũ cung" là do "ngũ thanh", cung, thương, giốc, chủy, vũ tạo thành, nhưng điển cố này không soi sáng luật 5 bán cung trong âm nhạc cổ điển Trung Quốc. Với quy tắc "Tam phân tổn ích luật" chúng ta có thể đối chiếu 12 luật lữ hay các nốt nhạc trong "Cống xế phổ" với các nốt nhạc phương Tây. Kết quả cho thấy mặc dù 12 luật lữ không hoàn toàn trùng khớp với các nốt nhạc phương Tây, nhưng chúng có cao độ tương đối cũng gần tựa như các nốt nhạc phương Tây. Chúng ta có bảng đối chiếu như sau
hò xựnon xự ynon y xang câu xế cốngnon cống phannon phan liu oannon oan
hoàngchung đại lữ tháithốc giápchung côtẩy trunglữ nhuytân lâmchung di tắc namlữ vôdịch ứngchung thhoàng thđại ththốc
công thương giốc chủy vũ
C C# D D# E F F# G G# A A# B C C# D
Bảng đối chiếu này chỉ mang tính chất tương đối, có nghĩa là nó chỉ so sánh quãng (bán cung) giữa các nốt nhạc cống xế với các nốt nhạc Sol-La của phương Tây. Ngay cả tỷ số tương đối về cao độ của các nốt trong "Cống xế phổ" cũng không hoàn toàn trùng khớp với các tỷ số đó của các nốt tương ứng trong bảng trên của hệ Sol-La. Nếu tính các nốt Sol-La theo quy tắc Pythagoras thì cũng chỉ có các nốt hò, xự, y, xế, cống (công, thương, giốc, chủy, vũ) là có tỷ số cao độ tương đối trùng với các nốt tương ứng trong hệ Sol-La. Ngoài các nốt nhạc kể trên "Cống xế phổ" còn có thêm các ký hiệu khác cho biết tiết tấu hay nhịp điệu của bản nhạc. Cụ thể là "bản nhãn", ký hiệu bằng dấu chấm, phảy, nét ngang .... Các ký hiệu này giúp chúng ta xác định tiết tấu, phách nhịp của bản nhạc. Để làm ví dụ minh họa chúng ta xét nhạc phổ của bài từ "Trường tương tư". Trong "Toái kim từ phổ" có dẫn 3 bản nhạc phổ cho bài từ này. Chúng ta lấy bài "Trường tương tư" của Bạch Cư Dị làm ví dụ. Bài từ này có nhạc phổ ở dạng cống xế như sau:
(1=liu, vạch chân cách 1 quãng 8, để bản)
2-1 6 5-6 | 6 5-4-2 1-2 | 6 2 1 1 1-6 2-1-6 5-6 | 2 4 2 4-2-5-2 1-2 |
Biện thủy lưu Tứ thủy lưu lưu đáo Qua châu cổ độ đầu Ngô sơn điểm điểm sầu
2-1 6 6 | 6 5-4-2-1 2 | 2 2 1 6 1 6-2-1 6 | 2 2 2 4-2-5-4-2 1-2 |
Tứ du du hận du du hận đáo quy thời phương thủy hưu nguyệt minh nhân ỷ lâu
( Nguồn maihoatrang )
Trương Vô Kỵ
30-05-2005, 05:59 PM
Đồng chí nào mà vào được cái link này thì post vài bài lên cho anh em biết thế nào là nhạc trong từ
http://cls.hs.yzu.edu.tw/shenhg/tz.htm
cái link này hồi trước anh vào được, không biết sao dạo này lại tịt. Chán ghê.
Trương Vô Kỵ
02-06-2005, 06:54 AM
http://cls.hs.yzu.edu.tw/mp3/Ode/ªø¬Û«ä¡Ð¥Õ©~©ö.MP3
長相思
汴水流
泗水流
流到瓜洲古渡頭
吳山點點愁
思悠悠
恨悠悠
恨到歸時方始休
月明人倚樓
Trường tương tư
Biện thuỷ lưu
Tứ thuỷ lưu
Lưu đáo Qua châu cổ độ đầu
Ngô sơn điểm điểm sầu
Tứ du du
Hận du du
Hận đáo quy thời phương thuỷ hưu
Nguyệt minh nhân ỷ lâu
Bạch Cư Dị
Dịch Thơ
Biện chảy mau
Tứ chảy mau
Chảy tới châu Qua cổ độ đầu
Non Ngô điểm điểm sầu
Nhớ rầu rầu
Hận rầu rầu
Hết hận khi nào gặp lại nhau
Sáng trăng người tựa lầu
Trương Vô Kỵ
03-06-2005, 02:38 AM
Chúng ta lấy bài "Trường tương tư" của Bạch Cư Dị làm ví dụ. Bài từ này có nhạc phổ ở dạng cống xế như sau:
(1=hò, số La Mã cách 1 bát độ, để bản)
II-I 6 5-6 | 6 5-4-2 1-2 | 6 II I I I-6 2-1-6 5-6 | 2 4 2 4-2-5-2 1-2 |
Biện thủy lưu Tứ thủy lưu lưu đáo Qua châu cổ độ đầu Ngô sơn điểm điểm sầu
II-I 6 6 | 6 5-4-2-1 2 | II II I 6 I 6-II-I 6 | 2 2 2 4-2-5-4-2 1-2 |
Tứ du du hận du du hận đáo quy thời phương thủy hưu nguyệt minh nhân ỷ lâu
Các ký hiệu ở đây có nghĩa như sau: số 1 chỉ nốt tương ứng trong công xế phổ (cụ thể ở đây 1 là hò), các số tiếp theo ứng với các nốt tương ứng tiếp theo theo thứ tự trong "công xế phổ", tức là số 2 là xự, số 3 là y, số 4 là xang, số 5 là xê, số 6 là cống, số 7 là phan, chữ số La Mã chỉ nốt cách một bát độ (I là liu, II là oan, liu cách hò một bát độ, oan cách xự một bát độ). Để bản có nghĩa là ngắt nhịp nằm đúng ở vận (chỗ có vạch dọc |). Bài Trường tương tư thuộc Nam thương điệu, cho nên điệu thức của bài từ này lấy thương làm cung. Điều này có nghĩa bài từ này có điệu thức như sau: thương - - giốc - - - chủy - - vũ - - - cung - - thương. (Ở đây mỗi vạch ngang - biểu thị cho một bán cung). Ký phổ Sol-La tương đương của điệu thức này là G--A---C--D---F hay 5--6---1--2---4. Bản nhạc phổ ở trên hoàn toàn phù hợp với thương điệu: các nốt sử dụng là các nốt trong điệu thức. Các nốt kết ở vận là các nốt 6(cống) và 2(xự) đan xen lẫn nhau (6,2,6,2) và hai nốt này cách nhau đúng 5 bán cung. Bản midi của bài từ này lưu ở trang web "Thi từ ngâm xướng" (http://cls.hs.yzu.edu.tw/shenhg/home.htm) có nhạc phổ như sau (Lý Miễn đính phổ, bản 1):
(1=C, nhịp 4/4)
5-6-5-3 2-3-2-1 6-5-6-1 2 2-3 | 5-3-2.(v) 3 5-3-2.(v) 3 | 1 2-3 2-2-1-6 1 2-3 2-1-6 | 5.(v) ;, 5 5 3-1 2 3-3 |
2. (v) ;,: 5-3-2 (v) | 2-3 5-3-2.(v) 3 1 2-3-2-2 | 1-6 1 2-3-3-1 6-5.(v) ; 5 | 5 3-1 2 3-3 2. ;: |
Khuôn nhạc đầu là nhạc đệm mở bài. Các nốt nhạc kết ở vần có ghi chữ (v). Ở đây Lý Miễn sử dụng các nốt nhạc GACDE để phổ nhạc. So với bản nhạc phổ ở "Toái kim từ phổ" thì bản nhạc này không hoàn toàn trùng khớp. Các nốt kết ở vận cũng có sự đan xen (giữa nốt G (số 5) và nốt D (số 2)) và hai nốt này cũng cách nhau 5 bán cung. Thế nhưng khác với bản ở "Toái kim từ phổ", 2 vận đầu (lưu-lưu hay du-du) không có sự đan xen nốt kết vận, mà chỉ sử dụng có 1 nốt kết (nốt D).
Trương Vô Kỵ
03-06-2005, 06:36 PM
http://cls.hs.yzu.edu.tw/mp3/Ode/長相思-李煜.MP3
Trường Tương Tư
( Lý Dục )
Vân nhất oa, Ngọc nhất thoa.
Thiềm thiềm xam nhi bạc bạc la,
Khinh tần song đài loan
Thu phong đảo vũ tương hòa
Liêm ngoại ba thu âm
Lưỡng quả đại dương nhân hại hà.
AHYTT
04-06-2005, 01:34 AM
Anh có dùng soft để load về nhưng không được. Nó đòi Pass và User.
Kỵ em xem thế nào thông báo nhé.
Trương Vô Kỵ
04-06-2005, 03:27 AM
thế quái nào lại có pass và user ở đây nhỉ ? Cái trang này của bọn Tàu, load thoải mái mà !
Ông anh thử xài chương trình internet download manager xem, có lẽ khá hơn cái gì gì đó của ông anh.
:hutthuoc:
Trương Vô Kỵ
04-06-2005, 03:29 AM
http://cls.hs.yzu.edu.tw/mp3/Ode/花非花-白居易.MP3
Hoa phi hoa
Hoa phi hoa
Vụ phi vụ
Dạ bán lai,
Thiên minh khứ
Lai như xuân mộng bất đa thì
Khứ tự triêu vân vô mịch xứ.
Bạch Cư Dị
Dịch Nghĩa
Hoa mà không phải hoa
Sương mà không phải sương
Nửa đêm đến
Sáng sớm đi
Đến tựa mộng xuân trong giây lát
Đi như mây sớm chẳng nơi tìm.
Nguyễn Khắc Phi
Chú thích: Bài từ rất khó dịch đúng nguyên thể nên chỉ dịch nghĩa để bạn đọc tham khảo. Nhiều người cho rằng Hoa phi hoa là bài từ hay nhất của Bạch Cư Dị. Song về nội dung của nó thì còn có những ý kiến khác nhau: một số người cho bài từ miêu tả sinh hoạt cũng như vẻ đẹp mong manh của những kỹ nữ.
Trương Vô Kỵ
05-06-2005, 10:54 PM
http://cls.hs.yzu.edu.tw/mp3/Ode/虞美人-李煜.MP3
虞美人
春花秋月何時了
往事知多少
小樓昨夜又東風
故國不堪回首月明中
雕欄玉砌應猶在
只有朱顏攺
問君能有幾多愁
恰似一江春水向東流
李後主
Ngu mỹ nhân
Xuân hoa thu nguyệt hà thời liễu
Vãng sự tri đa thiểu
Tiểu lâu tạc dạ hựu đông phong
Cố quốc bất kham hồi thủ nguyệt minh trung
Điêu lan ngọc xế ưng do tại
Chỉ hữu chu nhan cải
Vấn quân năng hữu kỷ đa sầu
Cáp tự nhất giang xuân thuỷ hướng đông lưu
Lý Hậu Chủ
Dịch Thơ
Xuân thu hoa nguyệt bao giờ hết
Dĩ vãng bao nhiêu việc
Đêm qua gác nhỏ lại đông phong
Nước cũ chẳng kham ngoảnh lại dưới trăng trong
Hiên son bệ ngọc chừng nguyên tại
Chỉ có dung nhan đổi
Hỏi ai hay đặng bấy nhiêu sầu
Đầy ngập một dòng xuân thuỷ chảy về đông
home_nguoikechuyen
10-06-2005, 08:20 PM
http://cls.hs.yzu.edu.tw/shenhg/tz.htm
Trang web Trung hoa gồm nhạc 74 điệu từ.Rất tuyệt.
Đa số anh em kém tiếng Trung, nên Home đã nhờ một người bạn dịch.
Gửi Home
TÊN 74 ĐIỆU TỪ
(nhưng có những điệu lặp lại đấy, trùng tên mà)
Alex
1 浣溪紗 midi
Hoán khê sa 2 浣溪紗 midi mp3
Hoán khê sa 3 秋風詞 midi mp3
Thu phong từ 4 長相思 midi mp3
Trường tương tư
5 長相思 midi mp3
Trường tương tư 6 長相思 midi
Trường tương tư 7 花非花 midi mp3
Hoa phi hoa 8 虞美人 midi mp3
Ngu mỹ nhân
9 虞美人 midi
Ngu mỹ nhân 10 相見歡 midi mp3
Tương kiến hoan 11 浪淘沙 midi mp3
Lãng đào sa 12 玉樓春 midi mp3
Ngọc lầu xuân
13 玉樓春 midi mp3
Ngọc lầu xuân 14 玉樓春 midi
Ngọc lầu xuân 15 破陣子 midi mp3
Phá trận tử 16 山花子 midi
Sơn hoa tử
17 蝶戀花 midi mp3
Điệp luyến hoa 18 漁家傲 midi
Ngư gia ngạo 19 漁家傲 midi
Ngư gia ngạo 20 蘇幕遮 midi mp3
Tô mạc già
21 菩薩蠻 midi mp3
Bồ tát man 22 菩薩蠻 midi
Bồ tát man 23 夢江南 midi
Mộng Giang Nam 24 眉峰碧 midi
Mi phong bích
25 定風波 midi mp3
Định phong ba 26 念奴嬌 midi mp3
Niệm nô kiều 27 醉翁操 midi mp3
Túy ông thao 28 江城子 midi
Giang thành tử
29 蝶戀花 midi mp3
Điệp luyến hoa 30 卜算子 midi
Bốc toán tử 31 卜算子 midi mp3
Bốc toán tử 32 眼兒媚 midi
Nhãn nhi mị
33 水調歌頭 midi mp3
Thủy từ ca đầu 34 雨霖鈴 midi mp3
Vũ lâm linh 35 憶仙姿 midi
Ức tiên tư 36 八聲甘州 midi
Bát thanh cam châu
37 謁金門 midi
Yết kim môn 38 蝶戀花 midi mp3
Điệp luyến hoa 39 憶王孫 midi
Ức vương tôn 40 漁家傲 midi
Ngư gia ngạo
41 聲聲慢 midi mp3
Thanh thanh mạn 42 一翦梅 midi mp3
Nhất tiễn mai 43 賀新郎 midi mp3
Hạ tân lang 44 破陣子 midi mp3
Phá trận tử
45 摸魚兒 midi mp3
Mô ngư nhi 46 太常引 midi
Thái thường dẫn 47 永遇樂 midi mp3
Vĩnh ngộ lạc 48 好事近 midi
Hảo sự cận
49 祝英臺近 midi mp3
Chúc Anh Đài cận 50 釵頭鳳 midi mp3
Sai đầu phụng 51 釵頭鳳 midi mp3
Sai đầu phụng 52 憶江南 midi mp3
Ức Giang Nam
53 憶江南 midi
Ức Giang Nam 54 青玉案 midi mp3
Thanh Ngọc án 55 淡黃柳 midi
Đạm hoàng liễu 56 暗香 midi mp3
Ám hương
57 上行盃 midi
Thượng hành bôi 58 西江月 midi mp3
Tây giang nguyệt 59 水仙子 midi
Thủy tiên tử 60 青玉案 midi mp3
Thanh Ngọc án
61 浪淘沙 midi
Lãng đào sa 62 八聲甘州 midi mp3
Bát thanh cam châu 63 望海潮 midi
Vọng hải triều 64 鷓鴣天 midi mp3
Chá cô thiên
65 念奴嬌 midi
Niệm Nô kiều 66 醉花陰 midi mp3
Túy hoa âm 67 滿庭芳 midi mp3
Mãn đình phương 68 臨江仙 midi
Lâm giang tiên
69 沁園春 midi
Thấm viên xuân 70 山花子 midi
Sơn hoa tử 71 山花子 midi
Sơn hoa tử 72 鎖窗寒 midi
Tỏa song hàn
73 水調歌頭 midi
Thủy điệu ca đầu 74 念奴嬌(大江東去) midi
Niệm nô kiều (Đại giang đông khứ)
--------------------------------------------------------------------------------
Dưới dạng html:
download tại đây:
http://s31.yousendit.com/d.aspx?id=09Y3M7Z...KM01BXH7LT9SCSH (http://s31.yousendit.com/d.aspx?id=09Y3M7ZQEVPKM01BXH7LT9SCSH)
Anh AHYTT ơi, trang đó download vô tư mà.
Có cả vi giới thiệu nhạc cụ và làn điệu dân ca Trung Hoa nữa. Thật là tuyệt. Chỉ tiếc chả hiểu mô tê gì cả.
Trương Vô Kỵ
10-06-2005, 08:38 PM
Chú Home làm anh chán quá, anh đang định từ từ giới thiệu hết các điệu trên đấy với bà con, chú lại nhảy vào cho một mạch thế này.
home_nguoikechuyen
11-06-2005, 10:16 AM
Originally posted by Trương Vô Kỵ@Jun 10 2005, 06:38 PM
Chú Home làm anh chán quá, anh đang định từ từ giới thiệu hết các điệu trên đấy với bà con, chú lại nhảy vào cho một mạch thế này.
Quoted post
Khà khà.
Anh Kỵ nếu có thời gian chỉnh giúp lại em bài viết trên được không? Lộn xộn quá.
Diễn đàn ta không đưa cả html lên được nhỉ?Không đưa cái mà em gửi lên yousnedit cho bà con tiện theo dõi luôn.
Trương Vô Kỵ
11-06-2005, 05:43 PM
http://cls.hs.yzu.edu.tw/mp3/Ode/相見歡(林花)-李煜.MP3
相見歡
林花謝柳春紅
太匆匆
無奈朝來寒雨晩來風
胭脂淚
相留醉
幾時重
自是人生長恨水長東
李後主
Tương kiến hoan I
Lâm hoa tạ liễu xuân hồng
Thái thông thông
Vô nại triêu lai hàn vũ, vãn lai phong
Yên chi lệ
Tương lưu tuý
Kỷ thời trùng
Tự thị nhân sinh trường hận thuỷ trường đông
Lý Hậu Chủ
Dịch Thơ
Rừng xuân tàn tạ thưa hồng
Rối lung bung
Không cản ban mai mưa lạnh gió chiều dông
Đỏ ngầu lệ
Say tuý luý
Lại tuôn ròng
Từ đây kiếp người trường hận nước xuôi đông
home_nguoikechuyen
29-07-2005, 10:25 PM
Mô phật. My god.!!
Vào đây mà coi trời ạ:
http://www.langven.com/forum/index.php?showtopic=3222&st=0
Mọi người ở 2 trang này đang giỡn mình hay sao vậy ta????
Trương Vô Kỵ
30-07-2005, 11:15 AM
=)) =))
Chú nào bên đấy kể cũng hăng hái nhỉ, copy không thiếu bài nào cả !
Hay là chú Home chơi độc tấu cho nó vui vẻ thế ?
=)) =))
home_nguoikechuyen
31-07-2005, 08:32 PM
Originally posted by Trương Vô Kỵ@Jul 30 2005, 09:15 AM
=)) =))
Chú nào bên đấy kể cũng hăng hái nhỉ, copy không thiếu bài nào cả !
Hay là chú Home chơi độc tấu cho nó vui vẻ thế ?
=)) =))
Quoted post
Cái này thì hỏi ông AHYTT và thằng dung_nan_long ấy.
AHYTT thì lấy bài của tao_lao( mà không biết AHYTT của Lam Sơn có phải là tao_lao của langven không? Cái này thì tôi không biết). Thằng dung_nan_long thì thấy topic này có gì, nó lại bê sang bên kia????