View Full Version : 100 Bài Thơ Tình Trung Hoa
Trương Vô Kỵ
30-05-2005, 09:18 AM
Thán Hoa
Tự thị tầm xuân khứ hiệu trì,
Bất tu trù trướng oán phương thì.
Cuồng phong lạc tận thâm hồng sắc,
Lục diệp thành âm tử mãn chi.
Đỗ Mục.
Dịch Nghĩa:
Than Hoa (1)
Từ ấy tìm xuân lỡ muộn tình,
Trách gì hương sắc vội qua nhanh.
Gió cuồng rụng hết hoa hồng thắm,
Bóng lá rờn xanh quả trĩu cành.
Chú thích:
(1) Về bài thơ này, sách "Thái bình quảng ký" có ghi một câu chuyện như sau:
Có một lần Đỗ Mục đi chơi ở Hồ Châu, gặp một cô bé rất xinh đẹp nhưng mới hơn mười tuổi. Đỗ bèn hẹn với mẹ cô bé rằng: "Đợi tôi mười năm, nếu tôi không về được thì hẵng gả cô bé". Mười bốn năm sau, Đỗ Mục mới về làm thứ sử Hồ Châu, cô bé đính ước ngày trước đã lấy chồng được ba năm, sinh hai con. Đỗ Mục than tiếc và làm bài thơ này.
Câu chuyện trên vị tất đã có thật, nhưng bài thơ qủa là mượn hoa để ví với người, là một giai tác thở than cho tình yêu không được toại nguyện.
Bây giờ mới biết cha Đỗ Mục này trẻ không tha, già không thương :keke:
Trương Vô Kỵ
30-05-2005, 09:22 AM
Cai Hạ Ca
Lực bạt sơn hề, khí cái thế,
Thời bất lợi hề, truy (1) bất thệ
Truy bất thệ hề khả nại hà,
Ngu (2) hề, Ngu hề nại nhược hà.
Hạng Tịch.
Dịch Nghĩa:
Cai Hạ Ca (3)
Sức nhổ núi hề, khí phách trùm đời,
Thời bất lợi hề, ngựa ô truy không chạy nữa.
Ngựa không chạy nữa hề, biết làm sao?
Ngu Cơ ơi, Ngu Cơ ơi, biết làm sao?
Dịch Thơ:
Sức nhổ núi, khí trùm đời,
Ngựa truy chùn lại bởi thời không may.
Ngựa chùn, biết tính sao đây?
Ngu Cơ ơi, tính sao đây hỡi nàng?
Chú thích:
(1) Truy: Tên con ngựa chiến của Hạng Vũ.
(2) Ngu: Tức Ngu Cơ, vợ của Hạng Vũ. Lúc bị vây khốn ở Cai Hạ, Ngu Cơ cũng theo Hạng Vũ. Khi Hạng Vũ hát bài "Cai Hạ" ca, nàng múa, hát hòa theo rồi tự vẫn.
(3) Cai Hạ ca: Bài thơ duy nhất còn lại của Hạng Vũ, làm khi bị đại quân của Hàn Tín vây chặt ở Cai Hạ. Lúc Hạng Vũ bị vây ở Cai Hạ, nghe quân Hán bốn phía đều hát giọng Sở. Hạng Vũ sợ hỏi: "Hán đã lấy được Sở rồi sao? Sao mà người Sở (trong quân Hán) đông vậy?"
Ngu Cơ luôn đi theo Hạng Vũ, khi thắng lợi cũng như khi thất bại. Trong đêm cuối cùng ở Cai Hạ, Hạng Vũ hát bài "Cai Hạ ca", Ngu Cơ múa kiếm, hát hòa theo, lời ca rằng:
Hán binh dĩ lược địa,
Tứ diện Sở ca thanh.
Trượng phu ý khí tận,
Tiện thiếp hà liêu sinh.
Dịch:
Quân Hán lấy hết đất,
Khúc Sở vang bốn bề.
Trượng phu chí lớn cạn,
Tiện thiếp sống làm chi.
Rồi Ngu Cơ tự vẫn. Tương truyền nơi máu nàng đổ xuống mọc lên một thứ cỏ hễ có rót rượu gần bên thì cỏ múa lả lướt như Ngu Cơ trong tiệc rượu của Hạng Vũ. Người ta gọi cỏ ấy là "Ngu mỹ nhân thảo".
Trương Vô Kỵ
30-05-2005, 09:23 AM
Ngọc Thụ Hậu Đình Hoa
Lệ vũ phương lâm đối cao các,
Tân trang diễm chất bản khuynh thành.
Ánh hộ ngưng kiều sạ bất tiến,
Xuất duy hàm thái tiếu tương nghênh.
Yêu cơ kiểm thị hoa hàm lộ,
Ngọc thụ lưu quang chiếu hậu đình.
Trần Thúc Bảo.
Dịch Nghĩa:
Cây Ngọc Ở Hậu Đình
Nhà ngọc, rừng thơm đối diện với lầu cao,
Mới trang điểm, sắc đẹp vốn khuynh thành.
Cánh cửa lóe lên, dáng kiều ngập ngừng bỗng dừng lại,
Vén rèm bước ra, mặt đọng nét cười đón nhau.
Người cung nữ trẻ mặt tươi như hoa ngậm sương,
(Ấy là) cây ngọc phát sáng, chiếu rực rỡ cả hậu đình.
Chú thích:
Trần Thúc Bảo là một ông vua tài tử, vì phóng đãng mà mất nước. Bài "Ngọc thụ hậu đình hoa" chỉ là một bài thơ tán dương sắc đẹp của cung nữ nhưng vì tính chất diễm lệ của nó nên rất nổi tiếng, được lưu truyền rất rộng và có nhiều ảnh hưởng đối với đời sau.
Trương Vô Kỵ
30-05-2005, 09:30 AM
Xuân Giang Hoa Nguyệt Dạ
Xuân giang triều thủy liên hải bình,
Hải thượng minh nguỵêt cộng triều sinh.
Diễm diễm tuỳ ba thiên vạn lý,
Hà xứ xuân giang vô nguyệt minh.
Giang lưu uyển chuyển nhiễu phương điện,
Nguyệt chiếu hoa lâm giai như tiễn.
Không lý lưu sương bất giác phi,
Đinh thượng bạch sa khan bất kiến.
Giang thiên nhất sắc vô tiêm trần,
Hạo hạo không trung cô nguyệt luân.
Giang bạn hà nhân sơ kiến nguyệt?
Giang nguyệt hà niên sơ chiếu nhân?
Nhân sinh đại đại vô cùng dĩ,
Giang nguyệt niên niên vọng tương tự.
Bất tri giang nguyệt chiếu hà nhần,
Đãn kiến trường giang tống lưu thủy.
Bạch vân nhất phiến khứ du du,
Thanh phong giang thượng bất thăng sầu.
Thùy gia kim dạ biên chu tử,
Hà xứ tương tư minh nguyệt lâu?
Khả liên lâu thượng nguyệt bồi hồi,
Ưng chiếu ly nhân trang kính đài.
Ngọc hộ liêm trung quyển bất khứ,
Đảo y châm thượng phất hoàn lai.
Thử thời tương vọng bất tương văn,
Nguyệt trục nguyệt hoa lưu chiếu quân.
Hồng nhạn trường phi quang bất độ,
Ngư long tiềm được thủy thành văn.
Tạc dạ nhàn đàm mộng lạc hoa,
Khả liên xuân bán bất hoàn gia.
Giang thủy lưu xuân khứ dục tận,
Giang đàm lạc nguyệt phục tây tà.
Tà nguyệt trầm trầm tàng hải vụ,
Kiệt Thạch, Tiêu Tương vô hạn lộ.
Bất tri thừa nguỵêt kỷ nhân qui,
Lạc nguyệt dao tình mãn giang thụ.
Dịch Nghĩa:
Đêm Hoa Trăng Trên Sông Xuân
Thủy triều lên mặt sông ngang mặt biển,
Trên biển trăng sáng cùng lên với thủy triều
Dập dờn trôi theo sóng muôn ngàn dặm,
Có nơi nào trên sông xuân không sáng ánh trăng.
Dòng sông lượn quanh khu cồn hương thơm,
Trăng chiếu rừng hoa ngời như hạt tuyết.
Trên sông, sương trôi tưởng như không bay,
Bãi sông cát trắng nhìn chẳng nhận ra.
Sông và trời một màu không mảy bụi,
Vằng vặc giữa không trung - một vầng trăng trơ trọi.
Người bên sông, ai kẻ đầu tiên không thấy trăng?
Trăng trên sông, đêm nào lần đầu tiên rọi xuống người?
Người sinh đời đời không bao giờ hết,
Trăng trên sông năm này qua năm khác ngắm vẫn y nguyên.
Chẳng biết trăng trên sông chiếu sáng ai,
Chỉ thấy sông dài đưa dòng nước chảy.
Mây trắng một dải vẩn vơ bay,
Cây phong biếc xanh trên bờ buồn khôn xiết.
Người nhà ai đêm nay dong con thuyền nhỏ?
Người nơi nao trên lầu trăng sáng đương tương tư?
Đáng thương cho trên lầu vầng trăng bồi hồi,
Phải chiếu sáng đài gương người ly biệt.
Rèm nhà ngọc cuốn lên rồi, trăng vẫn không đi,
Phiến đá đập áo phủi đi rồi, trăng vẫn cứ trở lại.
Giờ đây cùng ngắm trăng mà không nghe thấy tiếng nhau,
Nguyện theo ánh trăng trôi tới chiếu sáng người.
Chim hồng nhạn bay dài không thể mang ánh trăng đi,
Cá rồng quẫy ngầm chỉ khiến làn nước gợn sóng.
Đêm qua thanh vắng mơ thấy hoa rơi,
Đáng thương cho ngươi đã nửa mùa xuân chưa về nhà.
Nước sông trôi xuôi, xuân đi sắp hết,
Trăng lặn trên bãi sông, trăng xế về tây.
Trăng xế chìm dần trong sương mù mặt bể,
Núi Kiệt Thạch, sông Tiêu Tương đường thẳm không cùng.
Chẳng biết nương ánh trăng đã mấy người về,
Trăng lặn làm xao xuyến tình những hàng cây ven sông.
Dịch Thơ:
Sông xuân triều dậy mặt biển bằng,
Trên biển trăng cùng triều nước dâng.
Dờn dợn vời theo muôn dặm sóng,
Sông xuân đâu chẳng sáng ngời trăng.
Quanh co sông lượn cồn hương chảy,
Trăng chiếu vườn hoa như tuyết rải.
Tầng không sương tỏa tưởng không bay,
Cát trắng bên doi nhìn chẳng thấy.
Trong suốt trời sông suốt một màu,
Trên sông vằng vặc một trăng cao.
Ai người đầu đã trông trăng ấy?
Trăng ấy soi người tự thuở nao?
Người cứ đời đời sinh nở mãi,
Trăng vẫn năm năm sông nước giãi.
Soi ai nào biết được lòng trăng,
Chỉ thấy sông dài đưa nước chảy.
Mây bạc lưng chừng trôi đến đâu,
Cành phong xanh bến biết bao sầu
Đêm nay ai mảng buông thuyền đó,
Ai ở lầu trăng nhớ chốn nào?
Trăng lầu quanh quẩn đáng thương ôi,
Soi mãi dài gương kẻ lẻ đôi.
Cửa ngọc cuốn rèm xua vẫn ở,
Hòn châm vừa phẩy ánh liền soi.
Chừ đây trông ngóng bẵng tăm hơi,
Mong quyến theo trăng đến rọi người.
Bay mỏi nhạn không mang ánh được,
Vẫy ngầm, cá chỉ vẫy tăm thôi.
Đêm qua thanh vắng mộng hoa rơi,
Nhà chửa về, xuân quá nửa rồi.
Nước cuốn xuân đi, trôi sắp hết,
Vòm sông trăng lại xế sang đoài.
Trăng khuất mù kh ơi chìm chậm chậm,
Dòng Tương, non Kiệt ngàn muôn dặm.
Nương trăng mấy kẻ nhớ về theo,
Trăng lặn xao tình cây nước gợn.
Bản dịch của Khương Hữu Dụng
Chú thích:
"Xuân giang hoa nguyệt dạ" là bài thơ trữ tình nổi tiếng trong lịch sử văn học Trung Quốc. Nhà nghiên cứu văn học đời Thanh Vương Khải Vận khen bài thơ này là "chỉ một thiên tuỵêt diệu, đủ xứng đáng là đại gia" (cô thiên hoành tuyệt, cánh vi đại gia); nhà thơ hiện đại Văn Nhất Đa thì ca ngợi rằng bài thơ này là "Thơ trong thơ, đỉnh núi trên các đỉnh núi" (Thi trung đích thi, đỉnh phong thượng đích đỉnh phong). Theo lời Lưu Kế Tài thì đối với người Nhật Bản hiện đại, hai bài thơ Đường được hâm mộ nhất là "Xuân giang hoa nguyệt dạ" của Trương Nhược Hư và "Trường hận ca" của Bạch Cư Dị.
Bài thơ thể hiện nỗi nhớ của người du tử đối với người khuê phụ. Tựa đề "Xuân giang hoa nguyệt dạ" có nghĩa là "đêm hoa trăng trên sông xuân" nhưng cũng là tên một khúc hát thời Trần Hậu Chủ, do đó tựa đề cũng có thể không cần dịch nghĩa.