View Full Version : Bàn Về Hai Chữ Việt Nam
Trương Vô Kỵ
26-08-2005, 07:26 PM
Trước tiên xin được bàn đến nghĩa của chữ Việt trong Việt Nam.
Nói đến chữ này hẳn nhiều người không hiểu nghĩa của nó. Hiện nay ý nghĩa của chữ Việt đang còn được tranh cãi khá sôi nổi.
Theo một số thư tịch thì chữ Việt có nghĩa là ưu việt như dưới đây :
優越
Ưu Việt
越裳
Việt Thường
Việt Thường là tên của nước Việt Nam thời vua Hùng Vương. Chữ Việt này ý nói chúng ta là một dân tộc có nên văn minh ưu việt ở phía nam đã tự lập quốc.
Cũng có người nói chữ Việt 粵 này nằm trong chữ Bách Việt là từ để chỉ các bộ tộc phía nam Trung Quốc. Đây là các cách hiểu theo thư tịch cổ.
Trong tiếng Trung có khoảng hai mấy cách để viết chữ Việt khác nhau, tuy nhiên khi anh tra từ điển thì từ Việt Nam được viết như sau
越南
Tức là chữ Việt trong ưu việt, thật ra việc này vẫn chưa chắc chắn và chưa ngã ngũ vì đa số việc nghiên cứu của chúng ta là theo ghi chép bên TQ để lại nên chữ Việt đó vẫn còn tùy người mà nêu các cách viết khác nhau. Không biết anh em có ai biết thêm thì xin chỉ dẫn.
Vấn đề tiếp theo là nguồn gốc của hai chữ Việt Nam. Theo sử ghi lại thì vào đời vua Gia Long, ông đã cử xứ thần đi TQ để xin đổi quốc hiệu là Nam Việt ( chữ Nam Việt được gép lại từ hai chữ Việt Thường là Đại Việt trước đây và xứ An Nam - miền nam mới mở rộng ). Tuy nhiên nhà Thanh thấy tên nước giống thời Triệu Đà nên đã sợ và không cho phép mà đổi thành Việt Nam. Hai bên thống nhất.
Vấn đề là bên Tàu cũng có các vùng như Việt Tây thuộc Tứ Xuyên và hai vùng Quảng Đông, Quảng Tây cũng được gọi là Việt Đông, Việt Tây nữa nên hai chữ Việt Nam không được triều Nguyễn ủng hộ xử dụng vì như vậy ta vẫn bị coi chỉ là một phần của Tàu mà lại đổi thành Đại Nam để tương đương với Đại Thanh bên tàu.
Khi thực dân Pháp đô hộ chúng ta thì dân Pháp dùng hai chữ An Nam ( annamien, annamienne ) để chỉ chúng ta là chính và dân vẫn hay quen dùng tên đó, vậy không biết khi nào thì hai chữ Việt Nam lại trở nên phổ biến thông dụng với người dân và tại sao.
Đến thời chính phủ Trần Trọng Kim năm 1945 thì tên nước được dùng chính thức là Việt Nam. Tuy nhiên thời gian những năm 20, 30 của thế kỷ 20 hai từ này bắt đầu được dùng phổ biến. Nhưng tại sao nó lại thành phổ biến thì chúng ta vẫn chưa rõ, và tại sao lại lấy thành Việt Nam mà không phải là Nam Việt ? Phải chăng đây là do việc thân Trung Quốc mà ra ?
Chú Kỵ cho anh xin nguồn cái thư tịch cổ mà chú dẫn ra ở đây để anh đập chết nó được không? Sao có thằng nào ghi chép mà ngu thế nhỉ!
Chú không biết chữ Hán thì thôi, anh không bàn đến làm gì, nhưng mà những vấn đề này lại được đem ra tranh cãi thì anh thực sự tò mò, không biết trình độ người đang tranh cãi đến đâu nhỉ?
Những yếu tố lịch sử cần được xác minh thì cũng được đưa ra dẫn chứng không rõ ràng, còn từ ngữ giải thích thì sai be bét, vậy không hiểu có thể tin tưởng được "những thư tịch cổ" của chú đến đâu nữa!
Cái sai a bờ cờ nhất trong đống thư tịch cổ của chú, là cái sai từ việc giải thích nghĩa của từ. Trong tiếng Hán, mỗi từ mang một nghĩa, mà không phải ghép nó vào với từ này hay từ kia thì mới hiểu được nghĩa của nó.
Chữ Ưu Việt 優越 có nghĩa ưu việt, vì đó là nghĩa của chữ Ưu 優, chỉ một mình từ này đã mang nghĩa Ưu tú 優秀, hay đối xử tốt : Ưu đãi 優待 ... rồi. Từ Việt 越 chỉ có nghĩa là vượt lên, vượt quá định mức thôi!
Chữ Việt Thường 越裳 thì lại càng chẳng có gì đặc biệt cả. Chữ Thường 裳 trong chữ Việt Thường chỉ là từ để chỉ váy áo, chỉ đồ mặc trên người, chẳng có liên quan gì đến chữ Ưu Việt 優越 lại càng không có nghĩa tuyên ngôn gì đến nền văn minh Ưu việt nào hết.
Mong là cái "thư tịch cổ" của chú không có gắng luận thêm nghĩa của chữ Việt Nam 越南, vì chữ này thì chỉ nghĩa là "Vượt về phía nam", nghĩa là đất nước ta là dân tộc ở phương Nam, nếu lấy Trung Hoa làm mốc. Điều ấy cũng có nghĩa là nếu luận tên nước theo nghĩa chữ, người ta chẳng biết 越南 là ở đâu nếu không biết 中華. Chẳng có gì để mà tự hào với cái tên tiếng Hán cả.
Nếu chú thích bàn về chuyện này, anh giới thiệu với chú bài viết sau đây:
http://www.ptthlamson.net/forums/index.php...indpost&p=20712 (http://www.ptthlamson.net/forums/index.php?showtopic=1616&view=findpost&p=20712)
Khi viết nó, anh có ghi tháng ngày trong đấy, gần đây có được update lên một chút cho khỏi mất tính thời đại. Dưới đó còn có một bài phân tích chữ Nôm nữa, nếu chú thích thì tham khảo luôn.
Trương Vô Kỵ
27-08-2005, 04:37 AM
Bàn về chữ Việt thì đã có rất nhiều người bàn đến rồi, cả về mặt nó phải là từ tiếng Hán không hay có nguồn gốc thuần Việt. Dù cách nào thì chữ Việt này cũng phải có một ý nghĩa nào đó. Em xin trích cho anh vài đoạn ngắn quan trọng trong các bài nghiên cứu về chữ Việt.
Chữ Việt (粵)để chỉ dân tộc Việt phía Nam sông Trường Giang khác với chữ Việt (越)để chỉ dân tộc Việt Nam. Chữ Việt thứ hai được sử dụng với nghĩa "ưu việt", "vượt trội" và dịch nghĩa chữ Việt Nam chính là dân tộc phương Nam ưu việt (có đủ cơ sở cho sự tự hào này vì từ thời Ngô Quyền về sau, nước Đại Việt đã liên tục đánh thắng quân Nam Hán, quân Tống, quân Nguyên). Không thể cho đó là sự quên gốc Hồng Bàng, Văn Lang được.
Mở đầu Việt sử tiêu án (1775), Ngô Thì Sĩ viết: “Xét theo thiên Vũ Cống, nước Việt ở về phía nam đất Dương Châu. Theo sách Thiên Quan (quan sát bầu trời) từ sao Bắc Đẩu mười một độ qua sao Khiên Ngưu đến sao Chức Nữ bảy độ là tinh kỷ. Kể về sao thì ở về ngôi Sửu, cùng một phận dã tinh truyện với nước Ngô. Cõi nam là Việt môn, có rất nhiều nước như Âu Việt, Mân Việt, Lạc Việt cho nên gọi là Bách Việt”.
Theo bản đồ thiên văn quốc tế hiện nay thì vùng Bách Việt này nằm trong khu vực giới hạn bởi thiên kinh tuyến 105 và 120 độ đông, thiên vĩ tuyến 20 đến 32 độ bắc. Ngôi Sửu và tinh kỷ bảy độ từ Khiên Ngưu (tức ngôi Anpha chòm Aquila – Thiên ưng, tên riêng là Altair) tới Chức nữ (tức ngôi Vega của chòm Lyra – Thiên Cầm) hoàn toàn thuộc vùng này. Nguyễn Duy Hinh trong quyển “Văn Minh Lạc Việt” ghi nhận thiên Luật lịch chí của Hán Thư 4 lần ghi tên một ngôi sao là Việt. Tôi tìm trên bản Hán Thư ở mạng Quốc Học của Trung Quốc thì không thấy, nên tạm nêu ra để dò hỏi thêm.
Trong chiều hướng thiên văn khởi đi từ đài quan sát Nam Giao tại Kinh Thư, đến Hán Thư và sách Thiên Quan mà Ngô Thì Sĩ đã dẫn, tôi xin đề nghị một cách hiểu mới của từ Việt: Từ “Việt” (bộ tẩu) đã có sẵn trong vốn ngữ vựng của người Hoa Hạ, đến đời Thương nó cũng đã được dùng trên các mảnh giáp cốt. Trong ngành thiên văn, “Việt” được các nhà quan sát dùng để chỉ khu vực phía nam Giao Chỉ và đặt tên cho một chòm sao xa xôi. Dùng thiên văn đoán định các vùng đất mà con người chưa có điều kiện thâm nhập là cách làm có hệ thống của văn minh Hoa Hạ - Trung Nguyên. Trường hợp từ Cửu Chân và Nhật Nam ở trên là sự liên tục của hệ thống ấy. Ở góc độ dân gian hoặc không thuần chuyên môn của ngành hẹp thiên văn, huyền bí hóa các tác nghiệp này, người ta thường xem sao để xét thịnh suy một vùng đất hoặc con người, sao sáng được ví với vượng khí, đản sinh ..v.v.. và ngược lại là khí suy, chết chóc... Năm tháng qua đi, người Hoa Hạ dần dần nâng sự hiểu biết của mình về vùng đất phía nam xa lạ bằng những cuộc thám hiểm rồi tranh chấp, xâm lấn đất đai. “Việt” được khoác thêm nghĩa “vượt qua dòng Trường Giang”. Đến đây người Hoa nhận thấy vùng đất này có rất nhiều nhóm dân tộc trong một diện mạo văn hóa rất chung như xăm mình, cắt tóc. Họ bèn khai sinh ra thuật ngữ Bách Việt để mô tả. Sau này, các nhà ngôn ngữ học tiếp tục đi xa hơn nữa bằng cách tạo ra chữ “Việt” mới bộ mễ (lúa gạo) nhằm cụ thể hóa rằng cộng đồng người phương nam có nền kinh tế trồng trọt mùa vụ với lúa nước là cây lương thực chính.
Việt, là cái búa, một loài rìu dùng làm binh khí của người Việt xưa. Cái búa còn dược gọi là cái phủ, và có thể từ "búa" là từ từ "Phủ" mà ra. Có khi người ta còn gọi là "phủ việt." Chữ "việt" nguyên thủy có từ khi Trung Quốc có văn tự, đời nhà Thương. Chữ ấy có cái đuôi trông giống như cái rìu tìm được ở Quốc Oai, hình như chiếc giày mà nay vẫn còn thấy ở một loại dao dùng để cắt đồ cứng. Cái rìu này được phục chế bằng cách tra cán vào, và giống hệt cái đuôi của chữ "việt" đời Thương.
Rìu là vũ khí của người Nam Á và người Nam Đảo. Người Nam Á và người Thái dùng rìu có vai, và người Nam Đảo dùng rìu hình chữ nhật. Người Hoa Hạ, sau gọi là Hán, dùng đao làm vũ khí. Người Nam Á có cương vực ở phía nam vùng Đông Á, và người Nam Đảo có cương vực xưa ở ph́ia đông và phía bắc Đông Á.
Tiếng việt này nguyên là "gwar," sau được đọc là "gwat," rồi là "Yuet."
Tham khảo:
1. Paul K. Benedict, "Austro-Thai, Language and Culture with a Glossary of Roots", (1975), ISBN 0-87536-323-7.
p. 97: ax: AT *gwar, Gwar, kwar, *gwal, qwal. Thai qwaan, khwaan.
p. 110: Ch. ki@n "ax" , kwa "dagger-ax" . AT: *gwal, qwal.
Trích theo http://www.hoklo.org/YuetCulture/ProtoYuet/Ax
2. Nguồn Gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam, Bình Nguyên Lộc, 1971.
Thực ra việc bàn luận về chữ Việt thì mấy bác nghiên cứu cũng bàn mãi rồi, nhưng hình như cũng chưa có ai đưa được kết luận cuối cùng nào về nguồn gốc của nó, ý nghĩa cũng như nó có liên quan đến tiếng Trung hay không.
Còn từ Việt Nam được dùng rộng rãi khi nào, anh có tài liệu gì nói không ah ?
Mùa Thu Chết
27-08-2005, 07:30 PM
Đúng là cái bài viết đầu tiên của Trương Vô Kỵ vớ vẩn không ngửi được.
Ngồi đây lai rai với các bác vậy.
Trước tiên , em xin trích về giải thích chữ Việt trong Tự điển Thiều Chửu:
1.粵 việt (13 n)
1 : Bèn. Tiếng mở đầu (phát ngữ). Như việt hữu 粵有 bèn có.
2 : Nước Việt, đất Việt, cùng nghĩa như chữ việt 越. Tỉnh Quảng Ðông 廣東, Quảng Tây 廣西 nguyên trước là đất của Bách Việt 百粵, nên Tàu họ gọi hai tỉnh ấy là tỉnh Việt.
2.鉞 việt (13n)
1 : Cái búa lớn.
2 : Sao Việt.
3.樾 việt (16n)
1 : Chỗ bóng rợp cuả hai cây rủ xuống gọi là việt, chịu để cho người ta che chở cho gọi là việt ấm 樾蔭, kinh Phật gọi người bố thí cầu cho qua bể khổ gọi là đàn việt 檀越, cũng có khi viết chữ việt này 樾.
4.越 việt, hoạt (12n)
1 : Qua, vượt qua. Như độ lượng tương việt 度量相越 độ lượng cùng khác nhau. Sự gì quá lắm cũng gọi là việt.
2 : Rơi đổ. Như vẫn việt 隕越 xô đổ, nói việc hỏng mất.
3 : Tan, phát dương ra. Như tinh thần phóng việt 精神放越 tinh thần phát dương ra, thanh âm thanh việt 聲音清越 tiếng tăm trong mà tan ra. Tục gọi lá cờ phấp phới, bóng sáng lập lòe là việt cả.
4 : Nước Việt, đất Việt.
5 : Giống Việt, ngày xưa các vùng Giang, Chiết, Mân, Việt đều là nói của giống Việt ở gọi là Bách Việt 百越. Như giống Âu Việt 甌越 thì ở Chiết Giang 浙江, Mân Việt 閩越 thì ở Phúc Kiến 福建, Dương Việt 陽越 thì ở Giang Tây 江西, Nam Việt 南越 thì ở Quảng Đông 廣東, Lạc Việt 駱越 thì ở nước ta, đều là Bách Việt cả, có khi viết là 粵.
6 : Một âm là hoạt cái lỗ dưới đàn sắt.
Chữ Việt trong Việt Nam theo lối viết chữ Nho là 4.越 việt( chữ Việt bộ Tẩu)(gọi là Việt 1 cho dễ viết) và 1.粵 việt (chữ Việt bộ Mễ)( Gọi là Việt 2).
Theo lối viết chữ Việt 1 đi với bộ Tẩu và nghĩ chữ còn lại là chữ Tuất, nên mọi người nghĩ chữ Tẩu có nghĩa là chạy và chữ Tuất là chó, và thêm về lịch sử -> Việt là vượt và chạy ->Người Hán dùng chữ Việt để chỉ những sắc tộc ở phía Nam sông Dương Tử, mà họ coi là thấp kém, vựơt ra khỏi lễ giáo.
Xin dừng ở đây một chút, vì có một phát hiện khá hay.Vì chữ Tuất( nghĩa là chó, hay chi thứ 10 trong 12 chi) theo Hán Việt Thiều Chửư viết là thế này 戌 , còn trong chữ Việt không có dấu ngang bên trái nhưng , đó là viết chữ Tuất theo Giáp Cốt văn là gồm một chữ( là binh khí ngày xưa) và 1 vết dọc xuống tượng trưng như một vết chém( không có dấu gạch ngang bên trái) -> Tuất : vết chém, gây sát thương.
Vậy có thể nói ý kiến chữ Việt gồm có bộ Tẩu và chữ Tuất , rồi suy ra Việt là vượt và chạy là sai.
Ta lại quay trở lại với Giáp Cốt Văn để tìm hiểu nguồn gốc bộ Tẩu.
Bộ tẩu vẽ một người đang giơ hai cánh tay đi về phía trước, và cầm binh khí-> tẩu chỉ một chiến sĩ cầm binh khí và đang đi có thể suy là đang ra trận.
Vậy có thể khẳng định 1 điều : Chữ Việt ở đây là chỉ chiến sĩ cầm binh khí khi ra trận không phải ý nghĩa là chạy, vượt ra khỏi lễ giáo,kém cỏi như ngưòi ta hay đưa ra.
Thứ 2, chữ Việt 2( chữ Việt đi với bộ Mễ) , mà người ta thường nghĩ 米 Mễ ở đây là chỉ bản đồ->đất đai của người Việt ở từ khi mới lập quốc.
Theo Giáp Cốt Văn thì bộ Mễ là 9 hạt gạo , 9 tượng trưng cho sung túc, đầy đủ và 1 dấu dọc là chỉ cây lúa.
Còn chữ dưới bộ Mễ hình dáng như chiếc cày.
Như vậy Chữ Việt đi với bộ Mễ ở đây là chỉ ngành nông nghiệp lúa nước của tổ tiên ta.
Còn về chữ Việt có từ thời nào? Người ta vẫn cho rằng là từ thời nhà Thương hay nhà Chu.
Theo Sử kí Tư Mã Thiên có ghi về nhà Thương:
Thành Thang lập ra nhà Thương , đầu tiên đóng ở đất Bạc. Đến thời Bàn Canh là vị vua thứ 19 thì dời qua Ân và có lẽ từ đó đổi tên nhàThương thành nhà Ân. Đến thời Vũ Đinh là vị vua thứ 22 , lấy hiệu là Cao Tôn, và có xảy ra biến cố phạt Quỷ Phương, thứ vu Kinh .Cái này lại liên quan đến truyền thuyết Phù Đổng Thiên Vương của chúng ta, truyền thuyết này nói đến việc chống giặc Ân. Chống giặc Ân tức là chống quân của Ân Cao Tôn từ phía Bắc kéo xuống .Ngoài ra theo truyền thuyết thì Lộc Tục làm vua phương nam, xưng là Kinh-Dương vương, Quốc hiệu là Xích Quỷ. Chữ Xích có nghĩa là chỉ đường Xích đạo, Quỷ ở đây là Sao Quỷ tượng trưng cho phương Nam. Khi vua Vũ Đinh nhà Ân đóng quân tại Kinh , tức là vùng Kinh thuộc châu Kinh. Thời điểm đó thì Sao Quỷ nằm tại vùng châu Kinh , cho nên Quỷ Phương tượng trưng cho dân của vùng châu Kinh , châu Kinh đây là chỉ dân Việt.
Mà nhà Thương xuất hiện trước thời nhà Chu , ngoài ra một số sách thời nhà Chu người ta tìm thấy có nói đến chữ Việt rồi.
Nên có thể khẳng định chữ Việt xuất hiện từ thời nhà Thương, hoặc trước đó.
*Bài viết có tham khảo từ nhiều nguồn tài liệu
Mùa Thu Chết
27-08-2005, 07:38 PM
Trương Vô Kỵ có thể đăng cả mấy bài viết về chữ Việt mà TVK đã trích ra đựơc không??
Bàn ngoài lề với các bạn 1 chút:
Originally posted by Mùa Thu Chết@Aug 27 2005, 05:30 PM
Theo Sử kí Tư Mã Thiên có ghi về nhà Thương:
Thành Thang lập ra nhà Thương , đầu tiên đóng ở đất Bạc. Đến thời Bàn Canh là vị vua thứ 19 thì dời qua Ân và có lẽ từ đó đổi tên nhàThương thành nhà Ân. Đến thời Vũ Đinh là vị vua thứ 22 , lấy hiệu là Cao Tôn, và có xảy ra biến cố phạt Quỷ Phương, thứ vu Kinh .Cái này lại liên quan đến truyền thuyết Phù Đổng Thiên Vương của chúng ta, truyền thuyết này nói đến việc chống giặc Ân. Chống giặc Ân tức là chống quân của Ân Cao Tôn từ phía Bắc kéo xuống .
Thực ra truyền thuyết Thánh Gióng nói chống giặc Ân là có chỗ không hợp lý. Căn cứ theo truyền thuyết thì các địa danh trong câu chuyện đều nằm rải rác xung quanh khu vực đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam. Xét về không gian địa lý và thời gian thì việc nhà Ân đem quân từ phương Bắc, vượt qua hàng ngàn cây số để đánh tới vùng đòng bằng Bắc Bộ là hoàn toàn không thể xảy ra.
Theo tôi thì "Giặc Ân" không có nghĩa là quân lính của Ân Cao Tôn và cuộc chiến của hánh Gióng cũng không hẳn là cuộc chiến giữa 2 quốc gia. Nhiều khả năng đó chỉ là cuộc đấu tranh giữa 2 bộ lạc (hoặc liên minh bộ lạc) mà 1 là thuộc "phe nhà Ân", 1 là "phe Hùng Vương" lúc đó đang "đóng đô" tại Việt Trì, Vĩnh Phú.
Ngoài ra theo truyền thuyết thì Lộc Tục làm vua phương nam, xưng là
Kinh-Dương vương, Quốc hiệu là Xích Quỷ. Chữ Xích có nghĩa là chỉ đường Xích đạo, Quỷ ở đây là Sao Quỷ tượng trưng cho phương Nam. Khi vua Vũ Đinh nhà Ân đóng quân tại Kinh , tức là vùng Kinh thuộc châu Kinh. Thời điểm đó thì Sao Quỷ nằm tại vùng châu Kinh , cho nên Quỷ Phương tượng trưng cho dân của vùng châu Kinh , châu Kinh đây là chỉ dân Việt.
Chữ Xích có nghĩa là màu đỏ, chữ Quỷ không phải là sao Quỷ mà là từ người phương Bắc khinh miệt gọi giống dân không giống họ. Xích Quỷ chính là "người có nước da màu đỏ (so với dân phương Bắc".
Bạn cứ thử so màu da của những người dân tộc vùng Tây Nguyên với màu da của người phương Bắc xem.
Tôi sẽ bổ sung tài liệu sau.
brightsun
27-08-2005, 08:05 PM
Hồ Bạch Thảo
Những sử liệu liên quan đến việc đặt tên nước Việt Nam
Tuy vào năm Sùng Hưng Đại Bảo thứ 6 [1054] vua Lý Thái Tông đặt tên nước ta là Đại-Việt, nhưng quốc hiệu này chỉ được dùng trong nội bộ; bấy giờ Trung-Quốc vẫn gọi nước ta là Giao-Chỉ. Thời vua Lý Anh Tông Chính Long Báo Ứng năm thứ 2 [1164], nhà Tống đổi Giao-Chỉ thành An-Nam quốc. Kể từ đó cho đến cuối thời Hậu Lê, tên nước An-Nam được dùng trong việc bang giao với Trung-Quốc; Riêng trong nước, muốn chứng tỏ sự độc lập, vẫn dùng quốc hiệu là Đại-Việt (Ngoại trừ nhà Hồ đặt quốc hiệu là Đại-Ngu). Điều này giải thích tại sao hai nhà viết sử dưới đời nhà Trần, Sử-thần Lê Văn Hưu đặt tên cho bộ sử là Đại-Việt sử ký; trong khi Lê Trắc, sống lưu vong tại Trung-Quốc, phải đặt tên cho bộ sử là An-Nam chí lược.
Trong văn thư giao dịch với nước ta dưới thời Tây Sơn, nhà Thanh vẫn dùng quốc hiệu An-Nam. Sau khi thống nhất đất nước, Gia Long gửi biểu văn sang nhà Thanh xin đặt lại tên nước là Nam-Việt. Việc làm này khiến vua Gia Khánh cực lực phản đối, vì sợ Gia Long dùng tên nước cũ thời Triệu Đà để đòi lại đất của Nam-Việt gồm cả hai tỉnh Quảng-Đông, Quảng-Tây. Gia Khánh lại còn lo Gia Long thừa thắng xông lên, dùng võ lực để dành lại đất, nên ra lệnh báo động đề phòng tại hai tỉnh này. Dưới đây là chỉ dụ của vua Gia Khánh ra lệnh cho Tổng-đốc Lưỡng-Quảng Tôn Ngọc Đình phải đối phó với tình hình, cùng bác bỏ điều xin của Gia Long:
Ngày 20 tháng 12 năm Gia Khánh thứ 7 [13/1/1803]
Dụ các Quân Cơ Đại Thần: Hôm qua Tôn Ngọc Đình tấu dâng biểu văn thỉnh phong của Nguyễn Phúc Ánh [Gia Long], Trẫm đã duyệt đọc kỹ, việc xin phong tên nước hai chữ “Nam-Việt” không thể chấp nhận được. Địa danh “Nam-Việt” bao hàm rất lớn, khảo sử xưa hai tỉnh Quảng-Đông, Quảng-Tây đều nằm ở trong đó. Nguyễn Phúc Ánh là tiểu Di nơi biên giới, tuy hiện nay có được toàn đất An-Nam, bất quá lãnh thổ bằng đất Giao-Chỉ xưa là cùng, làm sao lại được xưng là Nam-Việt. Biết đâu đây không phải là ý muốn khoe khoang tự thị của ngoại Di, xin thay đổi quốc hiệu, để thử bụng [Thiên triều] trước, đương nhiên đáng bác đi. Đã ra lệnh cho Quân Cơ Đại-thần soạn thay một tờ hịch dụ, cùng mang nguyên biểu giao cho Tôn Ngọc Đình trả lại; để xem sau khi nhận được chúng sẽ bẩm báo phúc đáp ra sao, rồi đợi chiếu chỉ mà liệu biện. Ngoài ra Nguyễn Phúc Ánh cầu phong quốc hiệu Nam-Việt, rõ ràng tự thị võ công muốn đòi xin thêm đất. Sợ bọn chúng âm mưu bất trắc, nên lệnh truyền các quan địa phương tại hai tỉnh Quảng-Đông, Quảng-Tây lưu tâm phòng bị vùng biển cùng biên giới, quan ải; không được trễ nải lơ là. Nay truyền dụ các nơi để hay biết. [1]
Nội dung chỉ dụ nêu trên cho thấy triều đình nhà Thanh xử sự theo lối trịch thượng, vua Gia Khánh không trực tiếp gửi chỉ dụ cho vua Gia Long, chỉ giao cho viên Tổng-đốc Lưỡng-Quảng trả lời mà thôi. Gia Long cũng không vừa, coi như văn thư nhận được chỉ là ý kiến riêng của Tôn Ngọc Đình, không xứng đáng là một quốc thư, nên lại một lần nữa yêu cầu thẳng vua Gia Khánh cho đặt tên nước là Nam-Việt.
Ngày 6 tháng 4 năm Gia Khánh thứ tám [26/5/1803]
Dụ các Quân Cơ Đại-thần: Tôn Ngọc Đình dâng tấu triệp xin chiếu chỉ để tuân hành về việc tờ bẩm phúc đáp của Nguyễn Phúc Ánh. Trẫm đã đọc kỹ, Nguyễn Phúc Ánh cho rằng lời dụ lần trước là ý kiến riêng của Tôn Ngọc Đình, biểu văn của y chưa tấu lên trên để được nghe quyết định [của Hoàng-đế], nên lần này vẫn thỉnh phong quốc hiệu Nam-Việt và khẩn xin tấu thay. Trẫm duyệt biểu văn, lời và ý rất mềm dẻo, hết sức cung thuận. Xưng rằng nước y trước kia có đất Việt-Thường, nay lấy thêm đất An-Nam [của Tây Sơn]; không dám quên gốc đã giữ đời nối đời, bèn dùng tên cũ Nam-Việt, đấy là tình thực. Tôn Ngọc Đình hãy truyền hịch cho viên Quốc-trưởng rằng:
“Lần trước đến xin thỉnh phong quốc hiệu, danh nghĩa chưa hợp, nên không dám mạo muội tấu đầy đủ. Nay nhận được biểu phúc đáp, tường thuật đầu đuôi việc dựng nước, xin được phong tên mới, đã thể theo thực tình tâu lên đại Hoàng-đế. Nay nhận được chỉ dụ rằng:
“Viên Quốc-trưởng có lòng thành, lần trước cung kính giao nạp sắc ấn trước đây ban cho [An-Nam] bị Nguyễn Quang Toản bỏ lại, cùng trói giải bọn giặc cướp ngoài biển; lại cung kính thỉnh mệnh, nên được soi xét kỹ tấm lòng thành. Việc cầu phong và dâng biểu cống; đặc dụ chấp thuận. Đến việc xin đặt tên nước là Nam-Việt, thì nước này trước đây có đất cũ Việt-Thường, sau lại được toàn lãnh thổ An-Nam; vậy Thiên-triều phong quốc hiệu cho dùng hai chữ “Việt-Nam”; lấy chữ “Việt” để đằng trước tượng trưng cương vực thời xưa; dùng chữ “Nam” để đằng sau, biểu tượng đất mới được phong; lại còn có nghĩa là phía nam của Bách-Việt; không lẫn lộn với tên nước cũ “Nam-Việt”. Một khi tên nước đã chính, nghĩa của chữ cũng tốt lành; vĩnh viễn thừa hưởng ân trạch của Thiên triều. Hiện đã ra lệnh cho Bồi-thần đến kinh khuyết thỉnh phong, sắc ấn ban sẽ lấy hai chữ đó làm tên. Nước ngươi được ban tên đẹp, xếp vào nước ngoại phiên thần phục, càng đầy đủ sự vinh hiển.”
Tôn Ngọc Đình tiếp nhận chiếu chỉ này, một mặt truyền hịch dụ Nguyễn Phúc Ánh, một mặt sai Ủy-viên bạn tống Sứ-thần nước này đến kinh đô dâng biểu tiến cống. Lưu ý tiết trời nắng nóng, nên cho đi từ từ để tỏ lòng thể tuất. Vào khoảng cuối tháng 7 đến kinh đô, lúc này Trẫm tránh nóng tại sơn trang, gặp dịp Cáp Tát Khắc vào triều cận, lệnh cùng dự yến luôn một thể. Vẫn để viên Sứ-thần khởi trình từ Quảng-Tây, nhật kỳ nhớ báo trước khi đi. Đem dụ này truyền để hay biết.” [2]
Văn bản nêu trên đề cập lời đối đáp khéo léo giữa hai lãnh tụ Việt, Trung. Gia Long tránh né bàn về tên nước thời nhà Triệu, giải thích một cách hợp lý rằng Nam-Việt là tên ghép đất cũ Việt-Thường của cha ông [địa danh xưa thuộc miền nam Việt-Nam từ Thanh-Hóa trở vào] và An-Nam của nhà Tây Sơn. Gia Khánh cũng không vừa, chấp nhận lời giải thích đó, nhưng ghép hai địa danh Việt-Thường và An-Nam theo một cách khác, thành hai chữ Việt và Nam. Kể từ đó ta có tên nước là Việt-Nam.
Theo sử Việt, Thượng-thư Lê Quang Định cầm đầu sứ bộ dâng biểu cầu phong. Ngoài nhiệm vụ này, sứ bộ đã cố gắng bắt liên lạc với người Việt lưu vong tại Trung-Quốc để tìm hậu thuẫn. Lúc bấy giờ, có một di thần nhà Lê tên là Lê Quýnh rất nổi tiếng tại Trung-Quốc, vì khẳng khái không chịu theo lệnh vua Càn long cạo đầu gióc tóc theo phong tục Mãn Thanh. Lê Quýnh bị giam hơn mười năm tại nhà tù Bắc-Sở, Bắc-Kinh; đến đời Gia Khánh thì được tha, nhưng bi quản chế tại một trại lính trong thành. Có lẽ tiếng tăm Lê Quýnh được nhóm phản Thanh phục Minh truyền sang Nông-Nại [Đồng-Nai], nên vua Gia Long biết tiếng Lê Quýnh [3] . Con Lê Quýnh là Lê Doãn Trác xin gia nhập vào phái đoàn để được sang Trung-Quốc tìm cha, được chấp thuận cho làm Hành-nhân.
Chắc Sứ-bộ Lê Quang Định đã bố trí gặp Lê Quýnh tại Trác-Châu để bàn bạc, trước khi vào cung đình triều yết. Nhưng chẳng may việc Lê Quýnh đến Trác-Châu bị tiết lộ; căn cứ vào chỉ dụ của vua Gia Khánh đề cập sau đây, vụ án liên lụy đến một số người:
Ngày 30 tháng 7 năm Gia Khánh thứ tám [15/9/1803]
Dụ Nội Các: Bọn Miên Chí tâu “Người An-Nam tên Lê Quýnh ngầm đến Trác-Châu tìm gặp con y, nay xin giao cho phủ Thuận-Thiên chiếu theo lệ xét xử.”
Lê Quýnh là viên quan của phiên bang nơi biên giới, phạm tội nên bị giam. Vào năm Gia Khánh thứ 5 [1800] được Trẫm đặc cách phóng thích, mệnh an sáp tại ngoài doanh hỏa khí, cấp lương tiền như lính Bát Kỳ; vẫn giao cho quan phụ trách trông coi, không được tự ý đi ra ngoài. Nay Lê Quýnh cùng Lý Bỉnh Đạo nói dối xin đi thăm mộ Lê Duy Kỳ [vua Lê Chiêu Thống], được doanh này cho hai người lính hộ tống. Đi đến khoảng phụ cận cầu Lư-Cấu, Lê Quýnh thừa lúc sơ hở bỏ đi, quân hộ tống chỉ đưa được Lý Bỉnh Đạo trở về, riêng Lê Quýnh thì đi thẳng đến Trác-Châu. Qua viên Tri-châu này thẩm vấn, y khai rằng “Nhân nghe tin trong số Cống-sứ Việt-Nam có con y là Lê Doãn Trác giữ chức Hành-nhân, trên đường đến kinh đô; nên y đi thăm hỏi sự tình.” Bọn Lê Quýnh trú tại xưởng Lam-Điện, làm sao biết được Lê Doãn Trác theo phái đoàn Cống-sứ Việt-Nam đến kinh đô? Huống Sứ-thần nước này đến Trác-Châu vào ngày 25, Lê Quýnh đến ngay vào ngày hôm sau, cớ sao được tin nhanh như vậy? Vả lại bọn Lê Quýnh muốn đi ra ngoài để thăm gặp, thì cứ bẩm lên viên Đại-thần cai quản, để được tâu lên, đợi chiếu chỉ chấp thuận mới có thể đi được. Sao y chưa trình rõ ràng lại ngầm đi [đi chui], quả thực không tuân lệnh quản thúc. Ngoại trừ việc giáng chỉ đem các quan viên trong doanh phân biệt xét xử; nay truyền lệnh doanh phụ trách cùng phủ Thuận-Thiên giải giao bọn Lê Quýnh, Lý Bỉnh Đạo hai người đến bộ Hình để thẩm vấn. [4]
Lời đàn hạch nêu trên có vẻ nghiêm trọng, nhưng cuối cùng chỉ là “giơ cao đánh sẽ.” Những câu hỏi quan trọng như “Tại sao Lê Quýnh biết được con mình đến kinh đô? Tại sao biết Sứ-thần Việt-Nam đến vào ngày 25?” ắt phải liên quan đến sứ bộ Việt-Nam lúc bấy giờ, nhưng có lẽ vì lý do ngoại giao nên lờ đi không nhắc đến. Sau khi thẩm vấn, Lê Quýnh được tha, cho quản chế tại xưởng Lam-Điện như cũ, riêng viên quan chuyên trách quản lý Lê Quýnh thì bị đày đi Ô-Lỗ-Mộc-Tề; nội dung được đề cập qua chỉ dụ dưới đây:
Ngày 15 tháng 8 năm Gia Khánh thứ tám [30/9/1803]
Lại dụ Nội Các: Bộ Hình đã đem viên Tham-lãnh Bảo Thiện đối chất xác minh với Lê Quýnh rồi soạn tấu triệp trình lên như sau:
“Bọn người An-Nam Lê Quýnh cư trú tại xưởng Lam-Điện, do Tham-Lãnh Bảo Thiện chuyên trách quản lý. Nhân Lê Quýnh xin phép đi thăm Cống-sứ, Bảo Thiện không bẩm lên quan Đại-thần cai quản, bèn tự chấp thuận cho đi, hành động thuộc loại chuyên quyền tự ý. Khi Lê Quýnh cung khai việc này, viên Đại-thần cai quản đích thân hỏi viên Tham-lãnh, y không thừa nhận; rồi Quân Cơ Đại-thần chuyển chiếu chỉ hỏi tường tận, sau ba bốn lần cung khai y vẫn không nói rõ sự thực. Đến khi giải giao Bảo Thiện đến bộ Hình đối chất với Lê Quýnh, y không còn bao che được, rốt cuộc phải thừa nhận.”
Y thuộc lọai giảo hoạt, nếu chỉ giao về bộ nghị xử thì e quá nhẹ; nay truyền lệnh cách chức Bảo Thiện, phát vãng đến Ô-Lỗ-Mộc-Tề [5] hiệu lực, để chuộc tội. Còn bọn Lê Quýnh, Lý Bỉnh Đạo đã được hỏi rõ và cũng không phải ngầm đi, mọi việc đều hợp lẽ; nay lại giao cho doanh Hỏa-Khí an sáp tại xưởng Lam-Điện, hãy lưu tâm quản thúc, không được tự ý đi ra ngoài sinh chuyện. Điều cung khai rằng Lê Quýnh trên đường đi tình cờ gặp viên quan Mông-Cổ họ A, còn đơn vị hiệu cờ cùng tên thì không nhớ rõ; cũng không cần tra cứu thêm nữa. [6]
© 2005 talawas
--------------------------------------------------------------------------------
[1]Hồ Bạch Thảo, bản dịch Cao Tông Thực Lục trang 250, phần chữ Nho trang 411.
[2]Bản dịch Cao Tông Thực Lục, trang 251, phần chữ Nho trang 413
[3]La Sơn Yên Hồ Hoàng Xuân Hãn, tập 2, trang 924; trích lại từ Quốc Sử Di Biên của Thám-hoa Phan Thúc Trực.
[4]Bản dịch Cao Tông Thực Lục, trang 253, phần chữ Nho trang 414.
[5]Ô-Lỗ-Mộc-Tề: Địa danh, thuộc tỉnh Tân-Cương.
[6]Bản dịch Cao Tông Thực Lục, trang 255, phần chữ Nho trang 416.
Vầng, em không phủ nhận là em cực kì ngu chữ Hán, ông cụ nhà em dạy mãi rồi cuối cùng phải thốt lên :'' Không ai dạy bò đi nghe nhạc và không ai dạy mày viết chữ Hán''. Thú thật là cụ nói thế cũng hơi phũ, chả gì thì em cũng biết 1 vạch là chữ nhất, hai vạch là chữ nhị, ba vạch là chữ tam .. Cơ mà chữ vạn thì mỏi tay lắm. Không viết nổi. Thế nhưng khi online, em vẫn cứ hết mở mồm ra là :'' Kỉ sở bất dục, vật thi ư nhân ''. Khép miệng lại là :'' Nhân chi sơ sờ tí mẹ .. à... tính bản thiện chứ '', thỉnh thoảng lại chả vờ thở dài chép miệng một câu :'' Tiên thiên hạ nhi ưu chi ưu , hậu thiên hạ nhi lạc chi lạc '' ... Đấy, thành ra mọi người ai cũng nghĩ em hay chữ, tài giỏi kinh hoàng lắm cơ. Sợ thế không biết.
Trương Vô Kỵ
27-08-2005, 10:11 PM
anh hmm : huyền sử thì vẫn là huyền sử thôi, theo em xích quỷ không phải chỉ dân màu đỏ mà dùng để chỉ mặt trời, vì dân thần nông nam thờ thần mặt trời thì hợp lý hơn là nói đấy là dân có màu da đỏ.
Bàn về chữ Việt thì có nhiều tài liệu lắm, đây là một link, ai quan tâm thì có thể vào, chứ chép cả ra đây dài lắm :
http://vkhuc.tripod.com/Viet.htm
Buôn lê chút : đúng là hình như có lắm cao nhân thích ẩn dật, thấy cái gì đáng làm thì mới chịu ra mặt, còn không thì ẩn cư trong rừng trúc.
:thanx:
Mùa Thu Chết
28-08-2005, 12:58 PM
Trả lời bạn hmm:
Nếu theo ý kiến của bạn Xích Quỷ, Quỷ ở đây là chỉ sự khinh miệt mà người phương Bắc chỉ giống người không giống họ.
Ý kiến của bạn nói về chữ Quỷ thì mình không phản đối vì như chúng ta vẫn thấy ngày xưa người Trung Hoa vẫn gọi dân Âu là Bạch Quỷ, dân Phi là Hắc Quỷ.
Nhưng bạn hãy xem lại đoạn tôi đưa ra:
Ngoài ra theo truyền thuyết thì Lộc Tục làm vua phương nam, xưng là
Kinh-Dương vương, Quốc hiệu là Xích Quỷ
Trong sách ta có về 18 đời vua Hùng có nói:
Kinh Dương Vương, húy Lộc Tục, sinh năm Nhâm
Ngọ (2919 tr.TL) lên ngôi năm 41 tuổi, không rõ truyền mấy đời vua ở
ngôi tất cả 86 năm, từ năm Nhâm Tuất (2879 tr.TL) đến Đinh Hợi
(2794 tr.TL). So ngang với Trung Quốc vào thời đại Tam Hoàng.
Dạ, vua ta đặt quốc hiệu cho nước sao lại có nghĩa khinh miệt đựơc ạ??
Có thể một từ có nhiều cách hiểu, nhưng phải đặt trong hoàn cảnh hợp lí.
Nói xích quỷ, quỷ ở đây là ma quỷ, quỷ quái cũng chẳng sai.
Nhưng nếu bạn nói:
Đồ quỷ ạ.
tất nhiên câu nói ở đây không có ý nói xấu.
Mùa Thu Chết
28-08-2005, 01:58 PM
Tại hạ cũng rất muốn đựơc lai rai với các bác về đề tài này.
Nên xin đựơc dọn vườn đãi sạn chút:
Việt Thường là tên của nước Việt Nam thời vua Hùng Vương. Chữ Việt này ý nói chúng ta là một dân tộc có nên văn minh ưu việt ở phía nam đã tự lập quốc.
Chữ Việt Thường 越裳 thì lại càng chẳng có gì đặc biệt cả. Chữ Thường 裳 trong chữ Việt Thường chỉ là từ để chỉ váy áo, chỉ đồ mặc trên người, chẳng có liên quan gì đến chữ Ưu Việt 優越 lại càng không có nghĩa tuyên ngôn gì đến nền văn minh Ưu việt nào hết.
Không biết bác ICQ nói Việt Thường ở đây có ý nói về lịch sử không? Vì cái tên Việt Thường này đọc sử Việt Nam sẽ thấy nhiều.
Còn về ý kiến của TVK.
Việt Thường là tên của nước Việt Nam thời vua Hùng Vương
Em đọc sử Việt Nam chưa thấy đoạn nào nói Việt Thường là tên nước Việt Nam thời vua Hùng Vương cả.
Trong Đại VIệt sử kí toàn thư - Viện khoa học Xã hội Việt Nam 1992 có đoạn viết:
Việt Sử Lược chép nước Văn Lang gồm 15 bộ lạc, trong đó có 10 bộ lạc giống tên như Toàn thư ghi trên đây (Giao Chỉ, Vũ Ninh, Việt Thường, Ninh Hải, Lục Hải, Hoài Hoan, Cửu Chân, Bình Văn, Cửu Đức, Văn Lang), và 5 bộ lạc với tên khác (Quân Ninh, Gia Ninh, Thang Tuyền, Tân Xương, Nhật Nam). Lĩnh Nam Chích Quái cũng chép đủ tên 15 bộ, nhưng trong các bản hiện còn, tên các bộ ấy có nhiều sai khác chênh lệch. Dư Địa Chí của Nguyễn Trãi chép đúng tên các bộ như Toàn Thư đã ghi trên đây, nhưng không có tên bộ Văn Lang.
Ngoài ra trong cuốn này có nói:
Việt Thường Thị: tên nước thời cổ ở phía Nam Trung Quốc có quan hệ với nhà Chu (hiến chim trĩ cho Thành Vương), lần đầu tiên được ghi trong sách Thượng Thư Đại Truyện. Có nhiều giải thích khác nhau, có thuyết nói rằng Việt Thường Thị ở miền quận Cửu Đức, tức miền Hà Tĩnh (Thủy Kinh Chú, Cựu Đường Thư); có thuyết nói Việt Thường thị ở vị trí nước Lâm Ấp đời sau (Văn Hiến thông khảo, Minh Sử, Minh nhất thống chí).
brightsun -> Cảm ơn em đã share cho tài liệu quý, đọc truyện này anh cũng mới biết đến nguồn gốc ra đời của cái tên Việt Nam.
MTC -> nếu chú hiểu ý nghĩa của chữ THƯỜNG 裳 trong tiếng Hán thì chú chẳng phải hỏi anh câu ấy làm gì cho mất công. Còn chuyện thấy nhiều hay thấy ít thì chẳng liên quan gì đến ý nghĩa của nó cả.
Anh có vào trong cái link của chú Kỵ gửi, khoan hãy bàn đến trình độ của nó thế nào, nội chỉ xem qua cái nội dung, nếu mà chú là người đã đọc nó rồi mà lại còn post lên bài viết đầu tiên về nghĩa của chữ Việt thì anh thấy chú cũng tài ... loi.
giacat_tiensinh
22-07-2006, 04:50 PM
Chữ Việt trong từ Việt Nam viết theo tiếng hán thuộc bộ tẩu , giống như chữ Việt trong chữ Việt Thường , chữ Việt nước Việt của Câu Tiễn .Nhưng chữ Việt dùng cho tỉnh Quảng Đông lại thuộc bộ mễ ?
wuqing
06-02-2007, 07:31 PM
brightsun:xin bai' fuc kha nang cua bac'.noi' it nhung nhieu` y' nghia~.ko thua kem' kha nang cua vu~ trong fung. la` may'.ko bit' em hieu sai hay ko nhung quan trong la` tam dac' voi nhung~ dieu` bac' viet'.