PDA

View Full Version : Thư Pháp Trung Hoa


magic
12-01-2006, 07:23 PM
Thư pháp là một môn nghệ thuật cực hay nhưng trong diễn đàn Lam sơn chưa được đề cập đến. Xin được sơ qua 1 số nét về thư pháp Trung Hoa để mọi người cùng xem. Rất tiếc là ở đây không hỗ trợ phông chữ tiếng Trung nên sẽ có nhiều chữ tiếng Trung không đọc được.
:hoamuoigio:

Người xưa còn xem mỗi chữ Hán như một “bức vẽ” nhỏ (xuất phát từ đồ họa), nên đã nâng cao thành một thứ nghệ thuật rất đặc biệt, gọi là thư pháp, viết thế nào để nét bút thể hiện được những rung cảm thưởng ngoạn, mang đầy đủ cái đẹp khách quan (văn bản) và chủ quan (tác giả). Chẳng những là nghệ thuật, thư pháp còn là Đạo, như người xưa đã nói: ** Học tập thư pháp khả dĩ tu thân, dưỡng tính, đào dã tâm tình” (Rèn luyện thư pháp có thể sửa mình, nuôi tính và uốn nắn tình cảm). Theo từng thời kì lịch sử, thư pháp dựa trên từng tự thể khác nhau, nhưng quan trọng nhất vẫn là lệ thư, tiểu triện, khả thư và hành thư, trong đó thể thảo thư xuất phát từ chân thư và hành thư chiếm địa vị rất cao.

Người Trung Quốc cho rằng Lí Tư, thừa tướng đời Tần Thủy hoàng đế là ông tổ của thư pháp. Nhà Tần sau khi thống nhất lãnh thổ, phải tiến hành thống nhất văn hóa, trong đó chữ viết chiếm phần quan trọng, ** xa đồng quỹ, thư đồng văn”. Việc cải cách và thống nhất văn tự do Lí Tư (? – 208 TCN) thực hiện.
Đời Hán, lệ thư phổ biến, rồi nhờ cái bút lông (mao bút, do tướng Mông Điềm đời Tần phát minh), giấy (do Thái Luân đời Hán chế tạo) và mực (do Hình Di đời Hán phát minh), chữ viết uyển chuyển, biến dạng thành ra lối thảo thư. Thảo thư nẫy sinh chương thảo với Sử Du, Trương Chi, Tương truyền chính Trương Chi cải cách chương thảo thành kim thảo, nhưng nổi tiếng về kim thảo lại là hai cha con Vương Hi Chi, Vương Hiến Chi (** Thảo thánh nhị Vương). Rồi tiến một bước nữa mà ra cuồng thảo (còn gọi là đại thảo hay túy thảo), “như thế đầy lãng mạn, nét bút liên miên tiêu sát, mực đẫm lâm li hào sảng, cơ hồ say sưa loạn cuồng, nhưng kì thực có khuôn phép quy củ hẳn hoi”; ta có Trương Húc và Thích Hoài Tố đời Đường được tôn là ** cuồng thảo nhị tuyệt”

Thư và họa đi song song. Triệu Mạnh Diêu đời Nguyên nổi tiếng về hội họa với những đề tài phong cảnh, nhân vật, cây cỏ; ông vẽ theo phương châm “họa quý hữu cổ ý” (tranh vẽ quý ở chỗ có ý nghĩa cổ điển). Đồng thời, ông cũng nổi tiếng về thư pháp với các thể chính khải, tiểu khải, hành thư.

Trong lịch sử, trải qua các đời đều có những nhà thư pháp nổi tiếng, như Vương Hiến Chí sở trường về hành và thảo; Ngu Thế Nam (558 – 638) rất giỏi về chữ khắc bia với tác phẩm ** Khổng Tử miếu đường bi; Âu Dương Tuần (557 – 641) là một trong bốn nhà khải thư nổi tiếng, ba người còn lại là Chử Toại Lương (596 – 658?), Nhan Chân Khanh (709 – 785) và Liễu Công Quyền (778 – 865); Triệu Mạnh Diêu (1254 – 1322) kiêm cả chính khải, tiểu khải và hành thư. Lối viết phóng túng được gọi là cuồng thảo với Trương Húc đời Đường, Hoàng Đình Kiên (1045 – 1105) đời Tống… Một số nhà thơ Đường – Tống cũng có thành tựu về thư pháp, như Lí Ung (678 – 747), Lí Bạch (701 – 162), Dương Ngưng Thức (873 – 954), Thái Tương (1012 – 1067), Tô Thức (1037 – 1101)…
Để trở thành nhà thư pháp, người ta phải mất công khổ luyện hàng chục năm, chứ không chỉ một sớm một chiều mà thành danh. Bởi thế, Nhật Bản mới gọi là Thư đạo, bên cạnh Võ đạo và Trà đạo. Những thiên thư pháp lẫy lừng không khác gì bảo vật. Chẳng hạn, Thái Ung đời Hán viết thiên lí luận Bút pháp, đến đời Tấn, Vĩ Đản sưu tầm được, Chung Diêu cầu xin mãi không xong, uất ức sinh trọng bệnh hôn mê, vua Ngụy Thái Tổ ban cho Ngũ linh đan mới cứu tỉnh. Vĩ Đản mất, trối lại người nhà phải chôn thiên ấy như vật tùy táng. Chung Diêu lén quật mồ lấy cắp, theo đó khổ luyện ngày đêm…

Đến nay, Trung Quốc vẫn không thiếu những nhà thư pháp cống hiến những tài năng mới, đặc biệt Viên Băng Nương thành thạo “ngũ pháp đồng thư”, viết với năm cây bút cùng một lúc (tay và miệng) qua quá trình khổ luyện mấy chục năm theo phương châm do người cha (Viên Khoát Lâm) truyền dạy: “Sức sống của thư pháp là ở tính nghệ thuật của nó, chứ không phải chỉ là sự tán thưởng của số đông hiếu kì”. Một bức thư pháp đẹp phải hội đủ nhiều yếu tố, trong đó, về hình thức có điểm hoạch (đường nét tròn trặn, chìm lắng, cứng cáp, già giặn…), kết thể (cân đối, thăng bằng, ngay thẳng, biến hóa, sinh động, thống nhất, nghiêm cẩn, chênh vênh), chương pháp mối quan hệ giữa các chữ, các dòng với nhau và với toàn bài), về nội dung có thần vận (cái hồn của tác phẩm tạo nên bởi phong độ, thần thái, khí vận, tinh thần… của tác phẩm và tác giả).
Bằng nghệ thuật thư pháp, bài văn hay bài thơ ghi trên giấy, trên tranh trở thành một bức họa mang tinh thần của người viết cũng như thể hiện cái đẹp của nội dung, nó không còn là trang chữ chết cừng mà luôn luôn vận động, chứa hơi thở của cuộc sống. Những nét bút tài hoa, phóng khoáng có thể đưa tâm hồn người thưởng ngoạn cùng bay bổng tuyệt vời với tác giả, phát sinh những rung động nghệ thuật, những tình cảm, tư tưởng cao đẹp… Nhưng dù thế nào chăng nữa, nhà thư pháp cũng phải tuân theo những nguyên tắc cơ bản của bút thể và tự thể, không phóng túng đến độ bí hiểm, “một mình mình biết, một mình mình hay”!

magic
12-01-2006, 07:28 PM
Các đại thư gia tiêu biểu của từng thời trong lịch sử Trung Hoa:


Bắt đầu từ đời Tần Thủy Hoàng Đế 秦始皇帝 có thừa tướng Lý Tư 李斯 (người thống nhất văn tự Trung Quốc, được thư pháp sử 書法史 kể là đệ nhất thư pháp gia), Triệu Cao 趙高 , Hồ Mẫu Kính 胡母敬 ,.

Đời Hán có các thư gia Sử Du 史游 , Tào Hỉ 曹喜, Thôi Viện 崔瑗 , Trương Chi 張芝, Sái Ung 蔡邕, Lương Hộc 梁鵠, Lưu Đức Thăng 劉德升,...

Đời Tam Quốc và Tây Tấn có Hàm Đan Thuần 邯鄲淳, Vỹ Đản 偉誕, Chung Diêu 鐘繇, Hoàng Tượng 皇象, Vệ Ký 衛覬, Vệ Cẩn 衛瑾 (con Vệ Ký), anh em Vệ Hằng 衛恆- Vệ Tuyên 衛宣 - Vệ Đình 衛庭 (các con của Vệ Cẩn), Tố Tĩnh 素靖 (cháu gọi Trương Chi là cậu), Lục Cơ 陸機,...

Đời Đông Tấn có gia đình Vương Hi Chi 王羲之 với các con Vương Hiến Chi 王獻之, Vương Tuần 王珣 , Vương Dân 王民

Đời Nam Bắc Triều có Bạc Thiệu Chi 薄紹之, Vương Tăng Kiền 王僧虔, Đào Hoằng Cảnh 陶弘景 (cũng là Đạo gia), Trịnh Đạo Chiêu 鄭道昭, Triệu Văn Thâm 趙文深, Vương Bao 王褒 , ...

Đời Tùy và Đường là thời kỳ đỉnh thịnh của thư pháp với các thư gia Trí Vĩnh 智永 (thiền sư Thích Trí Vĩnh), Thích Trí Quả 釋智果, Đinh Đạo Hộ 丁道護, Âu Dương Tuân 歐陽詢, Ngu Thế Nam 虞世南, Chử Toại Lương 褚遂良, Lục Giản Chi 陸柬之, Lý Thế Dân 李世民 (Đường Thái Tông 唐太宗), Vũ Tắc Thiên 武則天 (vốn là tài nhân của Thái Tông, về sau bà lên ngôi xưng là Đại Thánh Hoàng Đế 大聖皇帝, thư pháp chuyên về hành thư), Tiết Tắc 薛稷, Tôn Kiền Lễ 孫虔禮, Kính Khách 敬客, Hạ Tri Chương 賀知章, Lý Ung 李邕, Trương Húc 張旭, Hàn Trạch Mộc 韓擇木, Trương Hoài Cẩn 張懷瑾, Nhan Chân Khanh 顏真卿, Hoài Tố 懷素, Từ Hạo 徐浩, Lý Dương Băng 李陽冰, Liễu Công Quyền 柳公權, Đỗ Mục 杜牧, Cao Nhàn 高閑, ...

Đời Ngũ Đại có Dương Ngưng Thức 楊凝式, Từ Huyễn 徐鉉, ...

Đời Tống có Lý Kiến Trung 李建中, Vương An Thạch 王安石, tứ gia Tô-Hoàng-Mễ-Sái (tức là Tô Thức 蘇軾, Hoàng Đình Kiên 黃庭堅, Mễ Phế [Phất] 米芾, Sái Tương 蔡襄), Tiết Thiệu Chương 薛紹彰, Triệu Cát 趙佶 (tức là vua Tống Huy Tông 宋徽宗, với thư thể đặc thù là sấu kim thể 瘦金體), Nhạc Phi 岳飛, Lục Du 陸游, Khương Quỳ 姜夔, Trương Tức Chi 張即之, Vương Đình Quân 王庭筠, ...

Đời Nguyên có Triệu Mạnh Phủ 趙孟頫 (Tùng Tuyết Đạo Nhân 松雪道人), Tiên Vu Khu 鮮于樞, Khang Lý Quỳ Quỳ 康里夔夔 (gốc Mông Cổ), Thái Bất Hoa 泰不華, Nghê Tán 倪瓚, ..

Đời Minh có Tống Liêm 宋濂, Tống Toại 宋璲 (con Tống Liêm), Tống Khắc 宋克, Tống Quảng 宋廣, Du Hòa 俞和, Giải Tấn 解縉, Thẩm Độ 沈度, Trình Nam Vân 程南雲, Trần Hiến Chương 陳獻章, Thẩm Chu 沈周, Chúc Duẫn Minh 祝允明, Văn Trưng Minh 文徵明, Văn Bành 文彭 (con Văn Trưng Minh), Lý Đông Dương 李東陽, Vương Sủng 王寵, Trần Thuần 陳淳, Vương Trĩ Đăng 王稚登, Từ Vị 徐渭, Đổng Kỳ Xương 董其昌, Hình Đồng 邢侗, Trương Thụy Đồ 張瑞圖, Hoàng Đạo Chu 黃道周, Nghê Nguyên Lộ 倪元璐, ...

Đời Thanh có Phó Sơn 傅山, Vương Đạc 王鐸, Kim Nông 金農, Trương Chiếu 張照, Trịnh Tiếp 鄭燮, Lưu Dung 劉墉, Vương Văn Trị 王文治, Vương Thời Mẫn 王時敏, Chu Đáp 朱耷 (Bát Đại Sơn Nhân 八大山人), Trịnh Phủ 鄭簠, Đát Trọng Quang 笪重光, Trần Diệc Hi 陳亦禧, Ông Phương Cương 翁方綱, Thiết Bảo 鐵保, Quế Phức 桂馥, Tiền Điếm 錢坫, Tiền Phong 錢灃, Đặng Thạch Như 鄧石如, Y Bỉnh Thụ 伊秉綬, Bao Thế Thần 包世臣, Hà Thiệu Cơ 何紹基, Triệu Chi Khiêm 趙之謙, Ngô Xương Thạc 吳昌碩, Lý Thụy Thanh 李瑞清, Ông Đồng Hòa 翁同龢, Trương Dụ Chiêu 張裕釗, Khang Hữu Vi 康有為, Tề Bạch Thạch 齊白石, Trịnh Bản Kiều 鄭板橋,...