Mapcon
17-09-2006, 12:42 PM
:10 Hê hê, đây là bài viết của Seabird trên blog, được sự đồng ý của tác giả tớ copy sang bên này cho bà con LS chúng ta tranh luận nhé! (nguồn : http://blog.360.yahoo.com/blog-71nAf0w_fLNpgDOhx3w95B11lrr1JicF)
Sau 1 tháng bị GDS nhồi nhét, đ/c Seabird của chúng ta đã lên tiếng đòi bình quyền cho chị em phu nữ, kô biết sắp tới có đi mua kiếm về múa nữa không... :P
Liệu nữ trí thức Việt Nam có hoàn toàn “chủ động”?
Tôi đọc bài viết về xu thế “chủ động lỡ thì” của nữ trí thức Việt Nam tại vnexpress.net, một trong những tờ báo điện tử có số lượng người truy cập cao nhất Việt Nam.
http://www.vnexpress.net/Vietnam/Doi-song/2006/08/3B9ED8D2/
Bài viết trên đề cập đến một xu thế của nữ giới nhưng lại thiếu yếu tố Giới chính vì vậy trong bài viết này, tôi cố gắng thử phân tích những nguyên nhân sâu xa của hiện tượng trên dưới góc độ Giới. (Tôi không có mục đích to tát hay lớn lao như góp phần thay đổi hoặc nâng cao nhận thức về bình đẳng giới mà hạn hẹp và đơn giản hơn, tôi muốn hiểu tâm lý của những người bạn nữ của tôi, những đồng nghiệp nữ của tôi và thậm chí chính bản thân tôi.)
Trước tiên, xin thống nhất rằng Giới là một định nghĩa mang tính văn hóa đề cập đến nhận thức của xã hội về mối quan hệ và vai trò xã hội của nam và nữ. Nhận thức này dẫn đến việc xã hội quy định những chức năng khác nhau cho nữ giới và nam giới. Ví dụ: “Đàn ông xây nhà, đàn bà xây tổ ấm”. Trong khi trách nhiệm của người đàn ông là “tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ” thì người phụ nữ lại là “tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử”. Người phụ nữ chuẩn mực trong xã hội hiện đại phải là người không chỉ giỏi việc nước mà còn phải đảm việc nhà.
Dẫn chứng trên cho thấy rằng nền Văn hóa Việt Nam vẫn chịu ảnh hưởng nặng nề của hệ tư tưởng Phong kiến Trung Hoa cùng với nó là những quan niệm Nho gia về cách ứng thức ứng xử trong xã hội giữa của nam và nữ. Tư tưởng “trọng nam, khinh nữ” khá phổ biến không chỉ ở khu vực nông thôn mà cả ở khu vực thành thị.
Quá trình “Đổi mới” đã đem lại sự phát triển cho nền kinh tế của đất nước kéo theo nó là một loạt những thay đổi trong đời sống xã hội. Ngày càng có nhiều nữ thanh niên tham gia vào thị trường lao động. Nền kinh tế toàn cầu hóa và sự “đổ bộ” của các thương hiệu quốc tế làm xô lệch những giá trị truyền thống về Gia đình, Tình Yêu và Hôn Nhân của người phụ nữ. Thêm vào đó, trình độ học vấn cao hơn cũng giúp họ nhận thức và tiếp cận với những xu thế mới của thời đại một cách nhanh chóng và toàn diện hơn. Xã hội thay đổi, họ không thể giữ cho mình một quan niệm cũ: thay vì tìm kiếm một đối tác để “chở che, bảo vệ, chăm sóc” như những người bà, những người mẹ, những người chị trước đó, người phụ nữ hiện đại tìm kiếm một người có khả năng “chia sẻ” những trách nhiệm trong gia đình và ngoài xã hội, “chia sẻ” những mối quan tâm và những sở thích cá nhân.
Tuy nhiên, thật không dễ gì để sống với một quan niệm mới trong một xã hội gia trưởng khi người chồng, người cha vẫn là người nắm quyền quyết định trong gia đình. Điều này cũng đồng thời ảnh hưởng sâu sắc đến cách thức giáo dục trẻ em trai và trẻ em gái sau này và củng cố thêm “quyền lực” của nam giới trong xã hội.
Trong bối cảnh đó, nữ trí thức hiện đại, những người có học thức, thu nhập và địa vị xã hội “phản kháng” lại những quan niệm truyền thống bằng cách “kết hôn muộn” hoặc “chủ động lỡ thì” như trong bài báo đã đề cập. Trong một xã hội gia trưởng dù sao họ vẫn có chút ít quyền “tự chủ” và vẫn có chút “tiếng nói” vì họ hiện đóng góp một nửa nhân lực cho thị trường lao động nhưng trong một gia đình gia trưởng thì họ lại rơi vào cái vòng luẩn quẩn và bị bó buộc trong chức năng “đàn bà xây tổ ấm” mà xã hội áp đặt cho họ. Câu slogan này và những quan điểm tương tự hiện khá phổ biến trên các phương tiện thông tin đại chúng tại Việt Nam, càng củng cố thêm những quan niệm truyền thống về “giới” và khép phụ nữ vào khoảng không gian “gia đình” hạn hẹp.
Tôi cho rằng những trường hợp điển hình mà tác giả đưa ra trong bài báo trên là chưa điển hình. “Cảm thấy chưa đến lúc”, trắc trở trong hôn nhân do thái độ của gia đình bạn trai hoặc vấp váp trong tình yêu chưa phải là những lý do phổ quát hoặc mới chỉ là vỏ bọc bên ngoài che đậy những tâm lý phức tạp hơn trước hôn nhân của nữ trí thức Việt Nam hiện đại. Ngoài ra, tác giả bài viết có phần “cường điệu” về thu nhập và sự chủ động trong tình yêu và hôn nhân của người phụ nữ.
Trên thực tế, nữ trí thức Việt Nam hiện đại phải đối mặt với một cuộc “xung đột” giữa những chuẩn mực và nếp nghĩ truyền thống truyền từ đời này qua đời khác với những quan niệm sống mới họ tự xây dựng thông qua quá trình tham gia vào thị trường lao động và tiếp xúc với một môi trường kinh tế và văn hóa toàn cầu hóa. Một mặt, họ chịu ảnh hưởng bởi những lời dạy bảo trong gia đình, họ không muốn và không dám làm khác đi quy luật “trai khôn dựng vợ, gái lớn gả chồng” vì gia đình và xã hội cho đó là “không bình thường”. Một mặt khác, nhận thức mới về xã hội đòi hỏi bản thân họ phải sống khác. Nhưng khác như thế nào? Tôi xin phép chưa trình bày vấn đề này ở đây.
Quay trở lại vấn đề “chủ động lỡ thì”, tôi cho rằng họ chưa thực sự có quyền chủ động. Đành rằng vế cơ bản, họ chủ động quyết định mình sẽ yêu ai và kết hôn vào thời điểm nào nhưng điều mà họ không thể chủ động được đó là “cơ hội” hay “sự lựa chọn” một người bạn đời ưng ý. Trên thực tế, dù cho có xinh đẹp, giỏi giang, thu nhập cao…, tất cả những lợi thế đó vẫn không đủ đảm bảo họ có cơ hội lựa chọn người mà họ sẽ gắn bó suốt đời. Có nhiều lý do khác nhau khiến họ không thể chủ động:
1. Nam giới chịu ảnh hưởng của những quan niệm phong kiến và gia trưởng sâu sắc và nặng nề hơn nữ giới, cụ thể hơn trong trường hợp này là quan niệm truyền thống về vai trò của giới. Đa số họ vẫn tìm kiếm người bạn đời “xây tổ ấm”, người bạn đời hỗ trợ cho sự phát triển của họ, một người bạn đời “truyền thống”. Điều này càng làm gia tăng sự khác biệt trong tiêu chí lựa chọn bạn đời của nam giới và nữ giới. Như tôi đã đề cập đến ở trên, trong khi nam giới muốn “hỗ trợ”, nữ giới muốn “chia sẻ”. Vì vậy cơ hội tìm kiếm một người có cùng nhu cầu “chia sẻ” một cách đúng nghĩa của nữ trí thức Việt Nam bị thu hẹp lại.
2. Về cơ bản, trong một xã hội vẫn còn tư tưởng trọng nam, khinh nữ, nam giới vẫn có nhiều ưu thế hơn nữ giới. Ưu thế hay nói cách khác là “quyền lực” trước nữ giới được xã hội thừa nhận đó củng cố vị thế của nam giới cả trong gia đình và ngoài xã hội. Một người bạn đời “truyền thống” tạo cho họ cảm giác yên tâm trong mối quan hệ gia đình vì họ không đứng trước nguy cơ bị chia sẻ quyền lực hay bị đe dọa mất đi quyền lực khi kết hôn với những người phụ nữ mạnh mẽ, có học thức và có thu nhập.
3. Xã hội do nam giới làm chủ về cơ bản cố gắng giữ vững những quy định, những luật lệ, những tiêu chuẩn truyền thống do nam giới tạo ra để duy trì quyền lực của nam giới hiện đang bị lung lay dưới tác động của toàn cầu hóa và các phong trào nữ quyền trên thế giới.
Nữ giới âm thầm “phản kháng” thực tế này bằng cách:
1. Kết hôn muộn
2. “Chủ động lỡ thì”
3. Sống độc thân
Nhưng dưới áp lực của gia đình và xã hội giai đoạn “phản kháng” này thường không kéo dài, đa số họ chấp nhận một cuộc hôn nhân với người chồng họ cho là khả dĩ nhất và cho ra đời một thế hệ mới tiếp tục trở lại cái vòng luẩn quẩn ban đầu.
Vậy đâu là giải pháp:
1. Bản thân phụ nữ phải là người ngừng tham gia vào việc duy trì những chuẩn mực, những cách ứng xử và những hệ thống tư tưởng do nam giới xây dựng từ ngàn đời trước vì chúng không phản ánh những nhu cầu và quan điểm khác biệt của nữ giới. Hơn bất kỳ ai người phụ nữ phải chính là người “hoài nghi” và “xác định” lại những hệ thống tư tưởng đã có.
2. Phụ nữ phải không ngừng nâng cao trình độ học vấn vì học thức sẽ giúp họ có cái nhìn toàn diện và đúng đắn hơn về mọi vấn đề của cuộc sống và mang lại cho họ một công việc có thu nhập cao hơn. Sự độc lập về mặt kinh tế sẽ giúp họ có tiếng nói hơn trong gia đình và ngoài xã hội.
3. Nhà nước cần phải có những bộ luật phù hợp với những Công ước và Luật quốc tế. Sự thay đổi về mặt luật pháp (dù được thực thi hay không được thực thi) cũng sẽ có tác động đến nhiều khía cạnh xã hội và định hướng cho các hoạt động kinh tế, văn hóa, giáo dục từ đó giúp xã hội thay đổi nhận thức, đặc biệt là nhận thức về bình đẳng giới.
P.s:
1. Tôi đang phân vân không biết có nên gửi bài viết này cho vnexpress.net không nên ai quan tâm thì xin góp ý nhiệt tình nhé. Thank u!
2. Sau khi đọc bài viết này, một trong những người bạn nói với tôi là đừng có theo cái xu thế chủ động gì gì đó như ở trên. Tôi trả lời là: tôi có thể phân tích được nhưng chắc là tôi không làm được. (Công nhận mình cũng nhát gan) Image
Sau 1 tháng bị GDS nhồi nhét, đ/c Seabird của chúng ta đã lên tiếng đòi bình quyền cho chị em phu nữ, kô biết sắp tới có đi mua kiếm về múa nữa không... :P
Liệu nữ trí thức Việt Nam có hoàn toàn “chủ động”?
Tôi đọc bài viết về xu thế “chủ động lỡ thì” của nữ trí thức Việt Nam tại vnexpress.net, một trong những tờ báo điện tử có số lượng người truy cập cao nhất Việt Nam.
http://www.vnexpress.net/Vietnam/Doi-song/2006/08/3B9ED8D2/
Bài viết trên đề cập đến một xu thế của nữ giới nhưng lại thiếu yếu tố Giới chính vì vậy trong bài viết này, tôi cố gắng thử phân tích những nguyên nhân sâu xa của hiện tượng trên dưới góc độ Giới. (Tôi không có mục đích to tát hay lớn lao như góp phần thay đổi hoặc nâng cao nhận thức về bình đẳng giới mà hạn hẹp và đơn giản hơn, tôi muốn hiểu tâm lý của những người bạn nữ của tôi, những đồng nghiệp nữ của tôi và thậm chí chính bản thân tôi.)
Trước tiên, xin thống nhất rằng Giới là một định nghĩa mang tính văn hóa đề cập đến nhận thức của xã hội về mối quan hệ và vai trò xã hội của nam và nữ. Nhận thức này dẫn đến việc xã hội quy định những chức năng khác nhau cho nữ giới và nam giới. Ví dụ: “Đàn ông xây nhà, đàn bà xây tổ ấm”. Trong khi trách nhiệm của người đàn ông là “tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ” thì người phụ nữ lại là “tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử”. Người phụ nữ chuẩn mực trong xã hội hiện đại phải là người không chỉ giỏi việc nước mà còn phải đảm việc nhà.
Dẫn chứng trên cho thấy rằng nền Văn hóa Việt Nam vẫn chịu ảnh hưởng nặng nề của hệ tư tưởng Phong kiến Trung Hoa cùng với nó là những quan niệm Nho gia về cách ứng thức ứng xử trong xã hội giữa của nam và nữ. Tư tưởng “trọng nam, khinh nữ” khá phổ biến không chỉ ở khu vực nông thôn mà cả ở khu vực thành thị.
Quá trình “Đổi mới” đã đem lại sự phát triển cho nền kinh tế của đất nước kéo theo nó là một loạt những thay đổi trong đời sống xã hội. Ngày càng có nhiều nữ thanh niên tham gia vào thị trường lao động. Nền kinh tế toàn cầu hóa và sự “đổ bộ” của các thương hiệu quốc tế làm xô lệch những giá trị truyền thống về Gia đình, Tình Yêu và Hôn Nhân của người phụ nữ. Thêm vào đó, trình độ học vấn cao hơn cũng giúp họ nhận thức và tiếp cận với những xu thế mới của thời đại một cách nhanh chóng và toàn diện hơn. Xã hội thay đổi, họ không thể giữ cho mình một quan niệm cũ: thay vì tìm kiếm một đối tác để “chở che, bảo vệ, chăm sóc” như những người bà, những người mẹ, những người chị trước đó, người phụ nữ hiện đại tìm kiếm một người có khả năng “chia sẻ” những trách nhiệm trong gia đình và ngoài xã hội, “chia sẻ” những mối quan tâm và những sở thích cá nhân.
Tuy nhiên, thật không dễ gì để sống với một quan niệm mới trong một xã hội gia trưởng khi người chồng, người cha vẫn là người nắm quyền quyết định trong gia đình. Điều này cũng đồng thời ảnh hưởng sâu sắc đến cách thức giáo dục trẻ em trai và trẻ em gái sau này và củng cố thêm “quyền lực” của nam giới trong xã hội.
Trong bối cảnh đó, nữ trí thức hiện đại, những người có học thức, thu nhập và địa vị xã hội “phản kháng” lại những quan niệm truyền thống bằng cách “kết hôn muộn” hoặc “chủ động lỡ thì” như trong bài báo đã đề cập. Trong một xã hội gia trưởng dù sao họ vẫn có chút ít quyền “tự chủ” và vẫn có chút “tiếng nói” vì họ hiện đóng góp một nửa nhân lực cho thị trường lao động nhưng trong một gia đình gia trưởng thì họ lại rơi vào cái vòng luẩn quẩn và bị bó buộc trong chức năng “đàn bà xây tổ ấm” mà xã hội áp đặt cho họ. Câu slogan này và những quan điểm tương tự hiện khá phổ biến trên các phương tiện thông tin đại chúng tại Việt Nam, càng củng cố thêm những quan niệm truyền thống về “giới” và khép phụ nữ vào khoảng không gian “gia đình” hạn hẹp.
Tôi cho rằng những trường hợp điển hình mà tác giả đưa ra trong bài báo trên là chưa điển hình. “Cảm thấy chưa đến lúc”, trắc trở trong hôn nhân do thái độ của gia đình bạn trai hoặc vấp váp trong tình yêu chưa phải là những lý do phổ quát hoặc mới chỉ là vỏ bọc bên ngoài che đậy những tâm lý phức tạp hơn trước hôn nhân của nữ trí thức Việt Nam hiện đại. Ngoài ra, tác giả bài viết có phần “cường điệu” về thu nhập và sự chủ động trong tình yêu và hôn nhân của người phụ nữ.
Trên thực tế, nữ trí thức Việt Nam hiện đại phải đối mặt với một cuộc “xung đột” giữa những chuẩn mực và nếp nghĩ truyền thống truyền từ đời này qua đời khác với những quan niệm sống mới họ tự xây dựng thông qua quá trình tham gia vào thị trường lao động và tiếp xúc với một môi trường kinh tế và văn hóa toàn cầu hóa. Một mặt, họ chịu ảnh hưởng bởi những lời dạy bảo trong gia đình, họ không muốn và không dám làm khác đi quy luật “trai khôn dựng vợ, gái lớn gả chồng” vì gia đình và xã hội cho đó là “không bình thường”. Một mặt khác, nhận thức mới về xã hội đòi hỏi bản thân họ phải sống khác. Nhưng khác như thế nào? Tôi xin phép chưa trình bày vấn đề này ở đây.
Quay trở lại vấn đề “chủ động lỡ thì”, tôi cho rằng họ chưa thực sự có quyền chủ động. Đành rằng vế cơ bản, họ chủ động quyết định mình sẽ yêu ai và kết hôn vào thời điểm nào nhưng điều mà họ không thể chủ động được đó là “cơ hội” hay “sự lựa chọn” một người bạn đời ưng ý. Trên thực tế, dù cho có xinh đẹp, giỏi giang, thu nhập cao…, tất cả những lợi thế đó vẫn không đủ đảm bảo họ có cơ hội lựa chọn người mà họ sẽ gắn bó suốt đời. Có nhiều lý do khác nhau khiến họ không thể chủ động:
1. Nam giới chịu ảnh hưởng của những quan niệm phong kiến và gia trưởng sâu sắc và nặng nề hơn nữ giới, cụ thể hơn trong trường hợp này là quan niệm truyền thống về vai trò của giới. Đa số họ vẫn tìm kiếm người bạn đời “xây tổ ấm”, người bạn đời hỗ trợ cho sự phát triển của họ, một người bạn đời “truyền thống”. Điều này càng làm gia tăng sự khác biệt trong tiêu chí lựa chọn bạn đời của nam giới và nữ giới. Như tôi đã đề cập đến ở trên, trong khi nam giới muốn “hỗ trợ”, nữ giới muốn “chia sẻ”. Vì vậy cơ hội tìm kiếm một người có cùng nhu cầu “chia sẻ” một cách đúng nghĩa của nữ trí thức Việt Nam bị thu hẹp lại.
2. Về cơ bản, trong một xã hội vẫn còn tư tưởng trọng nam, khinh nữ, nam giới vẫn có nhiều ưu thế hơn nữ giới. Ưu thế hay nói cách khác là “quyền lực” trước nữ giới được xã hội thừa nhận đó củng cố vị thế của nam giới cả trong gia đình và ngoài xã hội. Một người bạn đời “truyền thống” tạo cho họ cảm giác yên tâm trong mối quan hệ gia đình vì họ không đứng trước nguy cơ bị chia sẻ quyền lực hay bị đe dọa mất đi quyền lực khi kết hôn với những người phụ nữ mạnh mẽ, có học thức và có thu nhập.
3. Xã hội do nam giới làm chủ về cơ bản cố gắng giữ vững những quy định, những luật lệ, những tiêu chuẩn truyền thống do nam giới tạo ra để duy trì quyền lực của nam giới hiện đang bị lung lay dưới tác động của toàn cầu hóa và các phong trào nữ quyền trên thế giới.
Nữ giới âm thầm “phản kháng” thực tế này bằng cách:
1. Kết hôn muộn
2. “Chủ động lỡ thì”
3. Sống độc thân
Nhưng dưới áp lực của gia đình và xã hội giai đoạn “phản kháng” này thường không kéo dài, đa số họ chấp nhận một cuộc hôn nhân với người chồng họ cho là khả dĩ nhất và cho ra đời một thế hệ mới tiếp tục trở lại cái vòng luẩn quẩn ban đầu.
Vậy đâu là giải pháp:
1. Bản thân phụ nữ phải là người ngừng tham gia vào việc duy trì những chuẩn mực, những cách ứng xử và những hệ thống tư tưởng do nam giới xây dựng từ ngàn đời trước vì chúng không phản ánh những nhu cầu và quan điểm khác biệt của nữ giới. Hơn bất kỳ ai người phụ nữ phải chính là người “hoài nghi” và “xác định” lại những hệ thống tư tưởng đã có.
2. Phụ nữ phải không ngừng nâng cao trình độ học vấn vì học thức sẽ giúp họ có cái nhìn toàn diện và đúng đắn hơn về mọi vấn đề của cuộc sống và mang lại cho họ một công việc có thu nhập cao hơn. Sự độc lập về mặt kinh tế sẽ giúp họ có tiếng nói hơn trong gia đình và ngoài xã hội.
3. Nhà nước cần phải có những bộ luật phù hợp với những Công ước và Luật quốc tế. Sự thay đổi về mặt luật pháp (dù được thực thi hay không được thực thi) cũng sẽ có tác động đến nhiều khía cạnh xã hội và định hướng cho các hoạt động kinh tế, văn hóa, giáo dục từ đó giúp xã hội thay đổi nhận thức, đặc biệt là nhận thức về bình đẳng giới.
P.s:
1. Tôi đang phân vân không biết có nên gửi bài viết này cho vnexpress.net không nên ai quan tâm thì xin góp ý nhiệt tình nhé. Thank u!
2. Sau khi đọc bài viết này, một trong những người bạn nói với tôi là đừng có theo cái xu thế chủ động gì gì đó như ở trên. Tôi trả lời là: tôi có thể phân tích được nhưng chắc là tôi không làm được. (Công nhận mình cũng nhát gan) Image