View Full Version : Những phát hiện mới trong Sinh Học!
Tucurie
19-07-2002, 09:31 PM
<span style='font-size:24'>Bí ẩn trong chiếc sọ hóa thạch của thằn lằn bay
</span>
Minh họa về loài thằn lằn bay mới, với chiếc mào kỳ dị.
Biển lặng sóng và đàn cá chuồn đang lao đi vun vút. Bỗng đâu, một bóng mây lừ lừ lướt tới. Con thằn lằn bay vĩ đại với sải cánh gần 4,5 mét liệng sát mặt nước, cái mỏ như hai gọng kìm của nó mở rộng và trớt nhẹ về phía trước. Đến khi phát hiện ra con mồi, nó lao đầu xuống nước và chộp lấy, để lộ một chiếc mào to lớn khác thường ...
Trên đây là phác thảo "chân dung" của một loài thằn lằn bay khổng lồ kỳ dị mà các nhà khoa học vừa hoàn tất những "nét vẽ cuối cùng", dựa vào một chiếc sọ cực lớn của nó.
Chiếc sọ 110 triệu năm tuổi được phát hiện năm 1983 ở Brazil, nhưng mãi đến nay, sinh vật thuộc họ bò sát biết bay này vẫn chưa xuất hiện trong một báo cáo khoa học nào cả. Điều đặc biệt là nó được bảo quản tốt đến lạ thường, trong khi xương của thằn lằn bay nói chung rất yếu ớt, và hiếm khi tồn tại được dưới dạng hóa thạch.
Sọ rất hẹp, dài khoảng 1,4 mét, với một cái mào lớn ở phía sau chỉ rộng chừng 10 mm. Ông Alexander Kellner, một nhà khảo cổ tại Đại học Liên bang và Bảo tàng quốc gia Rio de Janeiro, phỏng đoán sải cánh của nó có thể dài hơn 4 mét, trong khi toàn thân dài khoảng 1,8 mét.
Cùng với cộng sự, hôm qua, Kellner đã mô tả sinh vật đặc biệt này trên tạp chí Science như là một giống thằn lằn bay chưa hề được biết tới, một loài bò sát có cánh, bà con của khủng long (*). Họ đặt tên cho nó là Thalassodromeus sethi, nghĩa là “tay đua của biển cả”. Sinh vật này sống ở kỷ Creta, chương cuối cùng trong hồ sơ lịch sử của khủng long.
Chiếc sọ của thằn lằn bay tương tự của nhạn biển hiện đại.
Hộp sọ hẹp và chiếc hàm hạ thấp khác thường đã khiến các nhà khoa học đưa đến nhận định rằng, Thalassodromeus sethi có kiểu đi săn giống như loài nhạn biển hiện đại. Nó bay là là mặt nước và lia hàm dưới về phía trước, cho đến khi chạm phải một con cá hoặc con mực nào đó. Ngay lúc ấy, hàm trên của nó sẽ sập xuống, kẹp chặt con mồi, cùng với việc dìm đầu nhanh xuống nước.
Điều đáng nói ở đây là cái mào vĩ đại khác thường của Thalassodromeus sethi.So về tỷ lệ, nó là lớn nhất trong số tất cả các động vật có xương sống đã tuyệt chủng hay còn tồn tại cho đến ngày nay, ngoại trừ một vài loài thằn lằn biết bay khác. Xương của chiếc mào này chiếm tới 3/4 kích cỡ của hộp sọ, và trên đó có những rãnh nhỏ, có thể là vết tích của mạch máu.
Căn cứ vào những mạch máu này, các nhà nghiên cứu phỏng đoán rằng, thằn lằn bay đã sử dụng mào như một bộ phận tản nhiệt, giúp làm mát cơ thể (giống như cách mà voi châu Phi vẫn sử dụng với đôi tai). Chiếc mào lớn cũng có thể đã hoạt động như một bánh lái điều khiển hướng bay của nó, hoặc vì một mục đích "thực dụng" hơn - biểu tượng cho giới tính của thằn lằn bay.
Ông David Martill, Đại học Portsmouth, nhận định, khi loài thằn lằn bay này còn sống, vùng đông bắc Brazil vẫn là một bãi biển nông giàu cá, với rất nhiều hòn đảo là nơi có thể làm tổ an toàn cho chúng. Phát hiện này sẽ giúp các nhà khoa học làm sáng tỏ thêm về tập tính ăn uống và địa bàn cư trú của thằn lằn bay.
(*) Thằn lằn bay không phải là khủng long, mặc dù cả hai nhóm đều là những loài bò sát có chiến lược tiến hóa rất thành công. Chúng đều xuất hiện trong kỷ Triat khoảng 225 triệu năm trước, và phát triển hưng thịnh cho mãi đến cách đây 65 triệu năm, khi một thảm họa đột ngột đã thủ tiêu hầu như toàn bộ sự sống trên trái đất. Một số hóa thạch cho thấy thằn lằn bay có lông bao phủ trên toàn bộ cơ thể. Chúng là những động vật có xương sống đầu tiên biết bay trên trái đất, rất nhiều triệu năm trước khi chim và dơi ra đời.
B.H. (theo NewSci
Tucurie
19-07-2002, 09:33 PM
Dùng laser đưa các gene lạ vào tế bào
Những tế bào được cấy ADN lạ phát ánh sáng xanh.
Hai nhà nghiên cứu Đức đã thành công trong một kỹ thuật mới đưa ADN vào tế bào, bằng cách dùng tia laser khoét một lỗ hổng trên lớp màng, cho phép ADN dễ dàng lọt vào trong. Kỹ thuật này có thể sẽ thúc đẩy sự phát triển của các liệu pháp gene.
Uday Tirlapur và Karsten Konig của Đại học Friedrich Schiller ở Jena đã sử dụng một tia laser hồng ngoại để tạo ra lỗ thủng trên màng tế bào của động vật có vú, sau đó đưa ADN vào trong. ADN này mã hóa cho một protein phát ra ánh sáng xanh lục, vì thế nhóm nghiên cứu có thể xác nhận sự tồn tại của nó nhờ vào hiện tượng phát sáng của tế bào.
Các nhà khoa học cho biết, phương pháp cấy ADN này rất hiệu quả và có tính chọn lọc cao, không gây ảnh hưởng đến "thân chủ" (những tế bào được ghép ADN lạ vẫn sinh trưởng và phân chia bình thường). Đây là bước tiến đáng kể so với các kỹ thuật hiện nay. Chẳng hạn, một trong kỹ thuật thông dụng nhất hiện được sử dụng là electroporation - dùng xung điện để xé rách màng tế bào tạm thời. Phương pháp này không những "bất lực" trước các tế bào đơn lẻ, mà hiệu quả chuyển gene cũng rất thấp.
Một kỹ thuật khác là dùng virus (đã được biến đổi gene để trở nên vô hại), cho xâm nhập vào tế bào. Virus sau đó sẽ bơm vật liệu di truyền của nó cho vật chủ. Tuy nhiên, kỹ thuật này cũng gặp khó khăn do virus không có tính chọn lọc, và hiệu quả chưa đạt 100%.
Các nhà khoa học nhận định phương pháp mới sẽ rất hữu ích trong việc tiêm chủng ADN. Chẳng hạn, nó trang bị cho tế bào những gene sản sinh yếu tố miễn dịch, giúp tế bào chống lại vi khuẩn, virus và vật ký sinh. Nếu thành công, nó cũng giúp các bác sĩ chữa trị dễ dàng hơn những căn bệnh có liên quan đến gene.
B.H. (theo Nature)
Tucurie
19-07-2002, 09:35 PM
Thực vật bắt chước sâu bọ và ngược lại
Hình 1: Ophrys apifera, loài lan dại giống hệt như những con ong cái eureca.
Nếu sâu bọ biết cách ngụy trang thành thực vật để thoát khỏi kẻ thù, thì thực vật cũng có khả năng bắt chước hoặc "hóa trang" thành sâu bọ. Đó là trường hợp của ophrys apifera, một loài lan dại ở châu Âu mà hình dạng, lông tơ và mùi hương của nó giống hệt như những con ong cái eureca.
Những đóa hoa này phô trương cánh môi rộng màu vàng và tím trông như cái bụng của ong cái. Ong đực eureca cứ ngỡ là bạn tình liền xán lại. Rồi mang phấn hoa dính trên đầu, ong tiếp tục bay tới những bông lan khác (hình 1).
Hình 2: Ve sầu Ấn Độ.
Loài ve sầu Ấn Độ lại có chiếc "giáp chắn" ở bụng giống hệt như chiếc bẹ tre, bảo vệ nội tạng bên trong (hình 2). Chiếc giáp chắn này được làm bằng chất chitine, đem lại độ rắn cho nó. Trong khi ở cây tre, chiếc bẹ này được làm bằng cellulose, có tác dụng như một cái khiên để bảo vệ măng non.
Bây giờ, bạn hãy so sánh một loại đậu
Hình 3: bọ que và quả đậu.
của châu Phi (tetrapleura tetraptera) với con bọ que eurycanthea horrida ở New Guinea (hình 3). Hình dáng và cấu trúc của cả hai khá giống nhau, nhất là khi con bọ nằm im. Thật thế, mỗi khi gặp nguy hiểm, bọ que liền giả bộ chết, lúc đó do phản xạ tự nhiên, cơ bắp nó sẽ rắn và cứng như gỗ khiến kẻ thù khó phân biệt được đâu là bọ que, đâu là quả đậu.
"Cặp song sinh giả" này còn có vỏ dai và bền, đặc biệt là rất giống nhau, nhờ cấu tạo từ những phân tử hữu cơ tương tự. Ở thực vật, những phân tử của cellulose liên kết với nhau, hình thành những thớ dài và chắc để tạo nên vỏ thực vật. Sự bảo vệ ấy cũng có hiệu quả như sự kết hợp protein - chitine ở sâu bọ.
Hình 4: châu chấu và lá cây.
Những đôi cánh và những chiếc lá
Hình 4 là con châu chấu Indonesia và chiếc lá của cây đoạn. Ta có thể thấy, hệ gân và màng của lá cây đoạn giống một cách lạ lùng với cấu trúc màng cánh trước của châu chấu. Chúng đảm bảo cùng một chức năng: di chuyển trong không khí.
Hạt có cánh
Bởi không di động và không biết kêu như động vật, nên người ta thường nghĩ rằng thực vật là những sinh vật thụ động. Nhưng một số loài cây đã phát triển những cơ chế kỳ lạ để khắc phục nhược điểm đó, như một số cây đã biết nhờ vào sức gió để tán hạt. Đó là trường hợp quả của cây đoạn: nó đã dùng lá của chính mình làm cánh. Khi
Hình 5: Cánh của quả thích giống hệt cánh của con bọ lá.
gió tạt quả rụng, nhờ những chiếc cánh này mà hạt có thể xoay tròn rất lâu trong không khí rồi đáp xuống một nơi rất xa cây mẹ.
Đó cũng là trường hợp của cây thích. Chúng có từng hai quả một và mỗi quả có một cái màng ở phía bên làm nhiệm vụ phát tán hạt nhờ sức gió. Cánh của nó với cánh của con bọ lá giống hệt nhau, từ màu sắc, hình dáng đến cấu trúc (hình 5).
Độc tố xua đuổi kẻ thù
Một số loài thực vật chứa độc tố trong vỏ để chống lại sâu bọ và côn trùng phá hoại. Tuy nhiên, không ít côn trùng đã phát triển cơ chế miễn dịch với chất độc của thực vật. Hơn nữa, chúng còn biến độc tố của cây thành chất độc của riêng chúng. Những sâu bọ này thường có màu sắc sặc sỡ nhằm cảnh báo với kẻ thù rằng: ta đây chẳng ngon lành gì đâu, đụng vào là chết.
Số 5: cây thầu dầu Nhật; số 6: con vòi voi.
Đó là dấu hiệu của độc tố. Trong hình bên, số 5 là một thực vật thuộc họ thầu dầu ở Nhật. Cây này nổi tiếng với nhiều độc tố gây ói mửa, tháo dạ, có thể dẫn đến tử vong. Những vết đốm trên lá của nó cũng giống như vết đốm trên cánh con vòi voi (số 6 trong hình bên).
Ngụy trang
Hình 6: châu chấu Amazon.
Nghệ thuật ngụy trang của châu chấu Amazone đã đạt tới mức hoàn hảo. Nhìn bề ngoài, chúng giống hệt như những vết gỉ trên lá của một số loài thực vật (hình 6).
Kiến Thức Ngày Nay (theo Ca m'intéresse)
Tucurie
24-07-2002, 01:14 PM
Đa dạng sinh học tạo ra sự đa dạng ngôn ngữ của loài người
Rừng rậm nguyên thủy (màu đỏ) - những khu vực đa dạng sinh học cao nhất ở châu Phi .
Những khu vực có nhiều loài động vật sinh sống cũng là nơi mà loài người có nhiều tiếng nói khác nhau nhất. Đó là phát hiện của một nhóm khoa học quốc tế đăng trên tạp chí Proceedings của Hội Hoàng gia Anh số ra mới đây.
Các nhà sinh học Anh, Đan Mạch và Mỹ đã tiến hành một khảo sát về mối liên hệ giữa đa dạng sinh học và các nhóm ngôn ngữ ở lục địa Đen. Họ chia châu lục này thành những ô vuông, với các chiều là khoảng cách giữa 2 kinh độ và 2 vĩ độ. Sau đó, họ lập ra một danh sách động vật có xương sống như chim, bò sát và động vật có vú sinh sống ở những "ô vuông sinh thái" này. Ngoài ra, nhóm nghiên cứu cũng để ý đến các yếu tố môi trường có ảnh hưởng đến sự đa dạng sinh học như độ ẩm, lượng mưa và nhiệt độ.
Kết quả là, ở vùng khí hậu ẩm, đất đai màu mỡ, có nhiều động vật khác nhau sinh sống hơn hẳn ở khu vực khô và nóng. Song song với sự đa dạng là sự hiện diện của nhiều ngôn ngữ khác nhau trong các tộc người. Ngoài ra, các yếu tố như sự đa dạng về địa hình hoặc thay đổi khí hậu bất thường cũng ảnh hưởng mạnh tới đa dạng sinh học và ngôn ngữ. Nhóm khoa học giả định rằng, ở thời tiền sử, khi con người bắt đầu học nói, họ thường bắt chước âm thanh của thiên nhiên, nhất là tiếng kêu của những động vật xung quanh. Vì thế, càng có nhiều động vật khác nhau thì ngôn ngữ của loài người càng đa dạng.
Tuy nhiên trong xã hội hiện đại, khi các cộng đồng người ngày càng xích lại gần nhau, thì các nhóm ngôn ngữ bị ảnh hưởng lẫn nhau nhiều hơn là bởi thiên nhiên. Mặt khác, xu thế hiện nay là đa dạng sinh học bị chi phối mạnh bởi các hoạt động của con người (chứ không phải ngược lại), nên lý thuyết trên sẽ mất dần giá trị, nhất là ở các khu vực phát triển như châu Âu và Bắc Mỹ.
Minh Hy (theo dpa)
Tucurie
24-07-2002, 01:15 PM
Tìm thấy gene duy nhất khiến não chuột to lên
Các nhà khoa học Mỹ đã thành công trong việc "phù phép" cho não chuột to ra. Tuy chưa biết liệu "IQ" của chúng có tăng tỷ lệ thuận hay không, nhưng ít nhất, bề mặt vỏ não đã rộng hơn đáng kể so với chuột thường. Phát hiện này có thể giúp giải thích tại sao não người lại lớn bất cân xứng so với các loài khác.
Não chuột thường (trên) và não chuột chuyển gene (dưới).
Vỏ não là một lớp mỏng, có diện tích bề mặt cực lớn và chứa đến 2/3 các nơron của não. Ở người, vỏ não gấp nếp để có thể xếp vừa trong hộp sọ, khiến cho não có dạng gợn sóng.
Nhằm tìm hiểu yếu tố đã chi phối đến diện tích bề mặt của vỏ não, Anjen Chen, tại trường Y khoa, Đại học Tây Bắc (bang Chicago), và Christopher A. Walsh của Trung tâm Y tế Beth Israel Deaconess, đã nhân nuôi một dòng chuột chuyển gene. Những con chuột này được tiêm protein beta-catenin với liều lượng gấp đôi so với mức bình thường cơ thể chúng có thể tạo ra (protein beta-catenin có vai trò điều hòa sự tăng trưởng của tế bào não, và là sản phẩm mã hóa của gene beta-catenin).
Kết quả đã vượt quá sự mong đợi của các nhà khoa học: Vỏ não của chuột tăng trưởng nhanh đến mức, thay vì là một tấm phẳng, nó phải uốn cong vào trong và làm xuất hiện những “nếp nhăn” rất giống với ở người.
Các nhà nghiên cứu phỏng đoán protein beta-catenin đã hoạt động như một công tắc, báo cho tế bào biết lúc nào cần phân chia, lúc nào dừng lại, và trở thành nơron. Chính vì thế, khi beta-catenin trở nên dư thừa, nó sẽ kích thích tế bào tiền não phân chia nhiều hơn, tạo ra vỏ não lớn hơn với rất nhiều nơron.
Mục tiêu tiếp theo của nhóm nghiên cứu là làm sáng tỏ hoàn toàn vai trò của beta-catenin. Họ sẽ tìm hiểu liệu gene này có hoạt động bất thường trong những trường hợp trí tuệ người chậm phát triển, hay khi não quá to hoặc quá nhỏ.
B.H. (theo S.A.)
Tucurie
24-07-2002, 01:18 PM
Cấy thành công mô nhân bản không bị đào thải
Sử dụng các mô nhân bản, một nhóm khoa học Mỹ đã lấp kín các lỗ thủng trên tim bò và tạo ra những “quả thận” nhỏ không bị đào thải khi được cấy ghép. Vì hệ thống miễn dịch của bò đã không loại bỏ những mô lạ, nên nhóm nghiên cứu hy vọng công nghệ này có thể thành công trên người.
Bình thường trong quá trình nhân bản, nhân của một tế bào hiến được tiêm vào một trứng đã loại bỏ vật liệu di truyền. Tuy nhiên, trục trặc mà đến nay các nghiên cứu thường gặp phải là động vật được tạo ra lại thừa hưởng ADN của trứng hơn là của tế bào hiến, và những “gene lạ” này khiến cho nội tạng của chúng có nguy cơ bị đào thải khi được dùng để cấy ghép.
Trong nghiên cứu mới đây của Công ty công nghệ ACT (trụ sở tại Massachusetts, Mỹ), người ta đã nhân bản một con bò, rồi sử dụng mô tai của nó để nuôi thành các phôi. Tiếp đó, từ các phôi này, họ lấy ra những mô cho phát triển thành các cơ quan nhỏ giống như thận.
Các nhà nghiên cứu nhận thấy, khi cấy cơ quan này vào con "mẹ” của bò nhân bản, hiện tượng đào thải đã không diễn ra, mặc dù các quả thận mini cũng có chứa một số gene lạ. “Những quả thận đã tạo ra nước tiểu màu vàng, có thể lọc bỏ 80% các chất độc hại từ máu so với nước tiểu thông thường”, tiến sĩ Robert Lanza, giám đốc y tế tại công ty ACT cho biết.
Đây được xem là một bước đột phá trong công nghệ nhân bản, vì cho đến nay, nhân bản trị liệu mới chỉ là trên lý thuyết. Mục đích của quá trình này là lấy một tế bào của người bệnh và nuôi thành các mô thần kinh, mô cơ hoặc mô sụn để thay thế cho các nội quan bị hư hại của chính người đó. Bằng cách này người ta hy vọng có thể tạo ra những mô phù hợp tuyệt đối với bệnh nhân và không bị đào thải.
Tuy nhiên, phương pháp của các nhà nghiên cứu Mỹ sẽ không được sử dụng tại Anh, vì luật pháp nước này cấm lấy nội quan khỏi phôi người hơn 14 ngày tuổi. Vì khi đó, “phôi đã bắt đầu hình thành một con người".
B.H. (theo BBC, Reuters
MinhKhánh
24-07-2002, 05:27 PM
hic, chú làm ăn được đó, cảm ơn nhé
Thế mà cứ kêu là 8mấy bài ac, chết thật thôi
Thân!
harry_potter
25-07-2002, 06:52 PM
hix ..hix. Ông làm tui cũng thấy " choáng " đó . Có ai " yêu " Sinh học hãy cố gắng tìm hiểu nhé . Toàn những cái mới lạ cả mà .
Thanks Tucurie
MinhKhánh
26-07-2002, 10:34 AM
À nói nhỏ nhé, có lấy từ web naò chỉ ta cái nha, hi, muốn đọc lé tí mà nhà
Thân!
:lol: tú bê bên trí tuệ việt nam đó . ai muốn đọc cứ sang bên đó mà đọc.
DivinoCodino
30-07-2002, 01:09 PM
Thằng Trường nói nhảm!Trí tuệ ở đâu đó!Trang khác chứ không phải trí tuệ Tú bí thư nhi?
:lol: thằng bách ghẻ mày định nói cái gì đấy ha r ??????
Tucurie
31-07-2002, 06:17 PM
Thôi thôi!!Xin 2 chữ bình yên!!!!!!Mọi người đóng góp cho môn Sinh đi!!!
Thanks!
MinhKhánh
31-07-2002, 08:22 PM
mình dặn nhé, từ nay những chuyện kiểu này bớt nha, hi, còn bao nhiêu việc phải làm mà các cậu cứ ung dung như thường ấy nhỉ, Sinh học đang cần các bạn khối Sinh và chúng ta hãy động viên họ nhé, được không nào các bạn của tôi!?
Kb
ngocanh
01-08-2002, 12:39 PM
Em thay choang kinh khung luon roi do , bac viet o trang ben kia da lam em so wa rui , bay gio em lai mo trang nay ra , thi em chet ngat len mat ! Bac chiu kho tm toi ghe nhi ! Em phuc bac do !
Em se co fgang tim o dau ra that nhiey thong tin ve sinh hoc de th gan voi bac do ! hiiiiiiiii
Tucurie
02-08-2002, 10:10 PM
Tất cả vì mục tiêu update thông tin!!Mong các bạn tham gia xây dựng!!Vì tất cả mọi người!
Tucurie
02-08-2002, 10:36 PM
Dùng thử nghiệm gene để phát hiện vây cá mập
Nhằm chống nạn buôn lậu vây cá mập qua hải cảng quốc tế, các nhà sinh học Mỹ mới phát triển phương pháp thử nghiệm gene nhanh chóng, có thể áp dụng với vây cá mập khô. Lâu nay, người ta vẫn nhầm lẫn vây cá mập với các loại thịt khô, cá khô dát mỏng.
Nhóm nghiên cứu của Mahmood Shivji, Đại học Nova ở Dania Beach, Florida (Mỹ), đã phát triển một hệ thống tương đối đơn giản và gọn nhẹ, có thể nhận biết 6 mẫu gene phổ biến của cá mập. Trong một thử nghiệm tại chợ đen ở Hồng Công, nhóm khoa học đã phát hiện trong số 75 túi vây cá mập có 12 túi giả hoặc pha tạp. Ngoài ra, tại hải cảng Roterdam của Hà Lan, các nhà khoa học phát hiện trong một số bọc cá khô có rất nhiều túi đựng vây cá mập. Trong đó có vây của 2 loài cá mập đang có nguy cơ tuyệt chủng.
Thiết bị thử nghiệm gene của nhóm Shivji còn có hạn chế, vì nó chỉ áp dụng được cho 6 loài cá mập thông dụng. Hiện trên thế giới có khoảng 40 giống cá mập khác nhau thường bị bắt để cắt vây làm súp. Ông Shivji cho biết, sẽ nghiên cứu mở rộng phạm vi áp dụng của thiết bị thử nghiệm gene này cho các loài cá mập khác.
Tucurie
02-08-2002, 10:46 PM
Điều gì giúp cá heo bơi cực nhanh?
(Cá heo có thể bơi với tốc độ 15 m/s.)
Cá heo là tay bơi lặn cừ khôi ở biển cả. Với tốc độ lên tới 15 m/giây, nó có thể bỏ xa các loại tàu thuỷ, tàu lặn thông thường. Cơ chế nào đã gắn "động cơ" cho chúng vậy?
Một vật thể muốn bơi nhanh phải có hình giọt nước, giảm tối đa lực cản do nước gây ra. Nhưng ngay cả trong trường hợp này, bề mặt tiếp xúc vẫn nảy sinh ma sát. Nếu vật chuyển động chậm, lực cản của nước còn nhỏ. Nhưng khi nó chuyển động nhanh, mức độ hỗn loạn của nước trên bề mặt tiếp xúc cũng gia tăng, lực cản cũng vì thế mà tăng vọt. Khi chạy với tốc độ cao, một tàu lặn vỏ bọc thép phải chi tới 90% năng lượng cho việc khắc phục sức cản của nước.
Sau nhiều nghiên cứu, các nhà khoa học cho biết, nếu bề mặt vật thể có độ mềm phù hợp, với những chỗ lồi lõm nho nhỏ, hấp thu và triệt tiêu một cách khéo léo những hỗn loạn trên mặt tiếp xúc, thì vật có thể chuyển động nhanh được. Vì vậy họ giả thuyết, sở dĩ cá heo bơi nhanh vì lớp da của nó có cấu tạo đặc biệt, làm giảm tối đa lực cản của nước.
Khi giải phẫu cá heo, các nhà khoa học phát hiện bề mặt da của nó chia làm 3 lớp: màng ngoài làm bằng chất sừng nhẵn rất mỏng, rồi đến biểu bì và chân bì. Trên chân bì mọc ra vô số mấu ruột rỗng, tựa như những ống tròn nhỏ "cắm" trong lớp biểu bì màu đen. Những ống này đàn hồi rất tốt, có thể triệt tiêu phần lớn lực cản của nước, do đó cá heo có thể di chuyển dưới đại dương với tốc độ đáng nể.
Mô phỏng cấu trúc da cá heo, người ta đã chế tạo ra loại cao su đặc biệt, giàu tính đàn hồi. Bên trong có vô số ống ruột rỗng nhỏ và có đường ống thông giữa các ống rỗng này, dẫn một loại dịch nhớt chảy lên bề mặt. Kết quả là trên bề mặt cao su có một màng mỏng, trơn nhẵn, có sức co dãn, làm giảm bớt lực ma sát với nước. Nhờ vậy, tàu ngầm phủ loại màng mỏng này có thể giảm bớt lực cản do dòng nước sinh ra.
(Theo 10 vạn câu hỏi vì sao)
Tucurie
02-08-2002, 10:47 PM
Da của người da đỏ có màu vàng
Màu đỏ của da là do một loại son.
Thường thì ai cũng nghĩ người da đỏ có màu “đỏ”, phân biệt với màu trắng, vàng, đen. Nhưng theo kết quả nghiên cứu của các nhà nhân chủng học Đại học Havard, Mỹ, thì người da đỏ phải được xếp vào đại chủng Mongoloist (cùng với tộc người Mông Cổ).
Hiện nay, dân số của người da đỏ còn lại khoảng 36 triệu, chủ yếu sống ở các nước Mỹ Latinh như Bolivia, Peru, Ecuado, Paraguay, Canada… Họ chính là những người có gốc gác từ châu Á.
Từ thế kỷ 15, những người châu Âu đi theo Colombo chinh phục châu Mỹ, khi đặt chân lên các vùng đất mới đã nhìn thấy các thổ dân mình mẩy đỏ lừ đang nhảy múa và vì vậy gọi họ là người da đỏ. Màu đỏ ấy thực chất là do một loại son có tên là hồng hoàng do thổ dân tự tạo rồi bôi lên người. Ngoài tác dụng làm đẹp, loại son này còn giúp chống côn trùng và chống nắng.
Sách báo thường gọi họ là người Anh-điêng (Indien). Indien có nghĩa là người Ấn Độ. Cách gọi này xuất phát từ việc đoàn thám hiểm nhầm lẫn lục địa họ mới phát hiện với đất nước Ấn Độ mà họ từng nghe danh. Thế là những thổ dân ở đó được gọi là Indien. Suốt một thời gian dài sau đó, từ Indien vẫn được người châu Âu dùng để chỉ những người da đỏ.
KH&PT (theo Terre sauvage
Tucurie
02-08-2002, 10:48 PM
Lá cây màu đỏ quang hợp bằng cách nào?
Gỗ thích với màu đỏ "chói mắt".
Với nhiều người, hễ là thực vật thì hiển nhiên là có lá xanh. Vì lá xanh tức là có chất diệp lục, nhờ đó chúng mới quang hợp, tạo ra chất hữu cơ để sống chứ! Ấy thế mà có kẻ lại chơi trội. Rau dền đỏ, gỗ thích... chẳng hạn. Lá của chúng đỏ tía tai. Chúng sống bằng gì, khí trời chắc?
Đương nhiên là chúng cũng dùng rễ hút dinh dưỡng và dùng lá để quang hợp rồi. Tạo hoá màu mè chút thôi. Bởi vì những lá này tuy màu đỏ, nhưng trong lá vẫn có chất diệp lục. Còn sở dĩ có màu đỏ vì nó chứa chất antocyan màu đỏ. Tỷ lệ chất này trong lá so với diệp lục nhiều đến nỗi nó át cả màu xanh của diệp lục. Để chứng minh hiện tượng này, người ta chỉ cần nhúng lá đỏ vào nước nóng - nó sẽ bộc lộ chân tướng ngay lập tức.
Khác với chất diệp lục, antocyan rất dễ bị hoà tan trong nước nóng.Vì vậy, khi bị luộc, chất antocyan sẽ tan dần và lá cây chuyển từ đỏ thành xanh. Vậy là, tuy lá cây có màu đỏ, nhưng nó vẫn chứa chất diệp lục như thường.
(Theo 10 vạn câu hỏi vì sao
Tucurie
02-08-2002, 10:49 PM
Thú biển có sừng!
Kỳ lân biển với cái sừng trên đầu.
Nhà thám hiểm lừng danh Marco Polo, sau một chuyến viễn du, đã kể về một con vật kỳ lạ với chiếc sừng đơn trên đầu, vốn được coi là báu vật trong thiên hạ. Người ta tin rằng, bột của chiếc sừng này có thể dùng để chữa bách bệnh và khử được mọi độc chất. Loài vật đó là kỳ lân biển.
Kỳ lân biển thuộc loài thú có vú. Tương tự như cá voi, chúng sống ở những vùng biển lạnh. Điều khác biệt là chúng... có sừng. Kỳ lân biển phát ra tiếng kêu khàn đục. Người ta thường gặp chúng ở những vùng biển bắc Canada, đông và tây Greenland, ngoài khơi bán đảo Svalbard và Siberia. Chúng thường xuất hiện ở độ sâu 300-400 m.
Con đực và cái luôn bám nhau như hình với bóng. Con cái 3 tuổi đã phát dục, còn con đực phải đợi thêm 3 năm nữa. Kỳ lân biển mang thai 14 tháng và sinh một con, rất hiếm có trường hợp sinh đôi. Vừa lọt lòng, con non đã được tạo hoá tặng ngay cho một lớp mỡ dày để chống chọi với cái lạnh ghê gớm của phương Bắc. Dần dần, cái đầu tròn vo của nó dài ra như quả dưa gang, và cái mỏ cũng hình thành rõ ràng. Một con kỳ lân biển trưởng thành dài từ 3,5-5 m và có thể nặng đến 1.500 kg.
Cái tên kỳ lân xuất phát từ một loài ngựa có sừng trong truyền thuyết.
Các nhà khoa học có thể dễ dàng ước lượng số cá mập hay cá voi ở nhiều vùng biển khác nhau, nhưng không bao giờ đoán nổi có bao nhiêu con kỳ lân biển. Năm 2000, các nhà hải dương học ở Canada và Mỹ suy đi tính lại mãi mới dè dặt cho ra con số 50.000.
Không có sừng, kỳ lân biển sẽ chết?
Chiếc sừng mọc xuyên từ sọ của kỳ lân biển.
Sừng kỳ lân biển là một thứ ngà dài, xoắn ngược chiều kim đồng hồ, mọc từ sọ, xuyên qua mặt. Con đực có sừng dài 3 m, nặng 10 kg. Sừng vẫn tiếp tục dài ra cả đời. Nhưng vì nó khá mảnh nên rất dễ gãy, nhất là trong các cuộc ẩu đả giữa những con đực. Con cái có sừng dài khoảng 20 cm. Cho đến nay, các nhà khoa học vẫn không thể giải thích được sự hiện diện của cái sừng kỳ quặc này. Có ý kiến cho rằng, đó là bộ phận để phân định “giai cấp”. Số khác cho rằng, sừng này dùng để đào bới cát biển để tìm thức ăn. Nhưng nếu vậy, con cái hầu như không có sừng sẽ chết đói ư?
Đến nay, nhiều điều bí ẩn về loài vật này vẫn chưa được khám phá, vì không một con nào sống sót trong môi trường nhân tạo. Trong thiên nhiên, kỳ lân biển không có kẻ thù nào khác ngoài con người.
(Theo Thế Giới Mới)
Tucurie
02-08-2002, 10:51 PM
Tại sao khi cáu tiết, người ta không nuốt được?
"Tức đầy ruột" là sẽ không ăn được cơm đâu.
Đang ăn cơm ngon lành, thình lình có chuyện gì khiến ta nổi cơn bực mình. Thế là ta không còn muốn ăn nữa, cứ như đã no rồi vậy. Chẳng trách có câu nói “tức đầy ruột”…
Thực ra, chẳng cứ khi cáu kỉnh mới không ăn được, mà vui quá, buồn quá, lo lắng quá... đều làm con người ăn uống mất ngon.
Nguyên nhân là do mọi hoạt động của chúng ta đều chịu sự chỉ huy của vỏ não. Vỏ não làm đủ việc, nào tích lũy kiến thức, nào điều khiển các hành động cụ thể, nào suy nghĩ, diễn đạt tình cảm… Ngay cả khi ta ngủ, nó cũng vẫn làm việc, chẳng hề nghỉ ngơi.
Tuy bận rộn như vậy, nhưng vỏ não làm việc rất có trật tự. Nói chung, trong một thời gian nhất định, nó chỉ giải quyết một việc. Như khi xung quanh ta có rất nhiều máy điện thoại cùng réo ầm lên, ta chỉ có thể nhấc từng cái một mà thôi. Khi vỏ não làm một việc gì, các bộ phận liên quan tới việc đó sẽ có hiện tượng hưng phấn, và khi đã có một bộ phận hưng phấn thì các vùng khác sẽ bị ức chế. Chẳng hạn, khi ta đang say sưa đọc sách, ta thường lơ là mọi việc xung quanh. Vì lúc này một bộ phận trong vỏ não đang hưng phấn, còn các bộ phận khác thì ức chế.
Khi ta thấy đói, bộ phận phụ trách việc ăn uống trong vỏ não hưng phấn, làm ta thấy thèm ăn. Lúc này, ăn là nhiệm vụ trung tâm, các việc khác đều bị gác lại, tức là các bộ phận khác của vỏ não bị ức chế. Nếu lúc đó ta gặp chuyện gì làm mình “nóng mắt”, thì vỏ não sẽ sinh ra một huyệt hưng phấn mới. Huyệt này lan rộng ra, ức chế cả bộ phận phụ trách việc ăn, thế là ta ăn mất cả ngon.
Cho nên, khi đã ăn thì nên tuyệt đối tránh chuyện bực mình.
Tucurie
02-08-2002, 10:52 PM
Vì sao ngỗng trời bay thành hình mũi tên?
Bay theo hình mũi tên giúp đàn chim có thêm lực nâng.
Ngỗng trời là loài chim di cư trú đông. Mùa thu hằng năm, từ quê hương Siberia, chúng kết thành đám lớn, bay đến phương Nam ấm áp. Trong hành trình dài, chúng tổ chức đội hình rất chặt chẽ, xếp thành hình mũi tên hoặc dàn hàng ngang, vừa bay, vừa không ngừng kêu “cạc, cạc”. Chúng làm gì thế nhỉ?
Thực ra, đây là một tín hiệu. Chúng dùng tiếng kêu này để chăm sóc lẫn nhau, kêu gọi nhau cất cánh bay hay hạ cánh nghỉ ngơi. Tốc độ bay đường xa của ngỗng trời rất nhanh, có thể từ 69 đến 90 km/giờ.
Tuy ngỗng trời bay rất nhanh, nhưng thời gian đi về phương Nam cần khoảng 1-2 tháng. Trong cuộc phi hành đường dài, ngoài việc vẫy cánh, chúng còn biết lợi dụng luồng không khí chuyển vận tăng lên để bay lượn trong không trung, như vậy sẽ tiết kiệm được sức lực. Khi con ngỗng bay ở phía trước vỗ cánh tạo ra luồng không khí yếu, con ngỗng phía sau sẽ lợi dụng xung lực của luồng không khí này mà lượn trên không trung. Như vậy, từng con nối đuôi nhau, xếp thành đội hình mũi tên hoặc xếp thành hàng ngang ngay ngắn.
Ngoài ra, sự xếp hàng như trên của ngỗng trời cũng là một biểu hiện của bản năng hợp quần, có lợi cho việc phòng ngự kẻ địch. Đàn ngỗng trời lúc nào cũng do con ngỗng già có kinh nghiệm làm “đội trưởng” bay ở phía trước hàng ngũ. Những con ngỗng non hoặc yếu ớt đều xen vào giữa đội hình. Khi nghỉ ngơi bên vực nước tìm ăn cỏ, lúc nào cũng có một con ngỗng già có kinh nghiệm giữ vai trò “lính gác”. Nếu ngỗng bay đơn lẻ về phương Nam rất dễ gặp nguy hiểm do bị địch hại ăn thịt.
Tucurie
02-08-2002, 10:53 PM
Thực vật cũng bị ung thư
Những nốt sần trên cây đậu giúp cây phát triển tốt hơn.
Người và động vật bị ung thư đã đành, lẽ nào cả thực vật cũng bị ung thư? Ấy thế mà chuyện đó lại có thật! May thay, ung thư thực vật không những không có hại, mà ngược lại nó còn có lợi cho cây và rất đắc dụng trong công nghệ gene nữa.
Ung thư thực vật là một sáng tạo kỳ diệu của tự nhiên. Quá trình xảy ra ung thư cũng giống như xảy ra đối với loài người. Nhưng nói một cách chính xác, bệnh ung thư thực vật gọi là bệnh u sần sùi (crown gall tumour) do bị nhiễm một loại vi khuẩn gọi là Agrobacterium tumefactiens (AT).
Ung thư thực vật hình thành thế nào?
Vi khuẩn AT gây ung thư bằng cách cấy ADN của nó vào nhiễm sắc thể của tế bào thực vật, nghĩa là một bộ phận gene của vi khuẩn này tái tổ hợp với ADN của tế bào thực vật. Khi ADN ngoại lai định cư ở đó, thực vật sẽ thay đổi đặc tính di truyền của mình, hình thành ở rễ những khối u và không ngừng lớn lên. Điều kỳ lạ là, sau khi vi khuẩn AT gây bệnh cho cây, những vi khuẩn khác sẽ không xâm nhập nữa vì các nốt sần đã tự mình sinh sôi nảy nở vô hạn. Giống như tế bào ung thư ở người, vi khuẩn AT làm thay đổi vĩnh viễn tính di truyền của thực vật.
Về sau khi nghiên cứu kỹ về vi khuẩn AT, người ta phát hiện trong tế bào của nó có phân tử plasmit (cấu trúc dạng vòng của ADN) khá lớn. Những phân tử plasmit này đã mang gene vi khuẩn AT vào tái tổ hợp với gene trong tế bào thực vật. Nói cách khác, nếu vi khuẩn AT không có plasmit, nó sẽ không thể gây “ung thư” cho thực vật được.
Hiện tượng này đã gợi ý cho các nhà di truyền học: dùng plasmit của vi khuẩn AT để chuyển “gene mục đích” vào tế bào thực vật nhằm làm thay đổi tính trạng của chúng. Hiện nay, phương pháp dùng vi khuẩn AT cấy vào gene thuốc lá, cà bát, hoa khiên ngưu lùn đã thành công. Các loại thực vật sau khi được cấy gen đã biểu lộ những tính trạng mới.
Kỹ thuật dùng vi khuẩn AT cấy gene phần lớn đều thành công trên thực vật 2 lá mầm, nhưng chưa thu được kết quả trên thực vật 1 lá mầm.
Vào giữa những năm 80, các nhà khoa học lấy gene tổng hợp protein của cây đậu làm gene mục đích, thông qua vi khuẩn AT, cấy cho tế bào hoa hướng dương, tạo ra giống hạt hướng dương mới có mùi vị của đậu. Đây là thành tích lớn của vi khuẩn nốt sần đóng góp cho khoa học.
Tucurie
02-08-2002, 10:54 PM
Động vật lưỡng cư không thích biển
Da ếch nhẵn, có cơ chế hoạt động như chiếc màng bán thấm.
Toàn thế giới có đến gần 3.000 loài vật lưỡng cư, phân bố ở khắp nơi, từ đồng ruộng, rừng sâu đến hoang mạc, từ đỉnh núi cao vài nghìn mét đến các thác nước xối xả, thậm chí trên cả... cành cây. Nhưng dường như ở biển, chúng là vị khách cực kỳ hiếm hoi. Chúng sợ gì?
Trước khi bình luận về tâm lý "sợ biển" của ếch nhái, bạn hãy làm thí nghiệm nhỏ sau. Dùng một túi nhỏ có màng mỏng bán thấm, trong túi đựng nước muối, sau đó ngâm túi vào nước sạch, ta thấy nước liên tục ngấm vào trong túi. Nhưng nếu cho nước sạch vào trong túi, thả túi vào nước muối, nước ở trong túi sẽ không ngừng chảy ngược ra ngoài.
Thí nghiệm đơn giản này nói lên nước trong dung dịch có nồng độ thấp, định hướng thẩm thấu đến dung dịch có nồng độ cao.
Động vật lưỡng cư là các loài sống được cả trên cạn và dưới nước. Lúc nhỏ, chúng giống như cá, thở bằng mang. Khi lớn, chúng sống trên cạn, thở bằng phổi. Cơ thể của động vật lưỡng cư hiện đại được phủ một lớp da nhẵn nhụi với nồng độ muối trong thể dịch và trong máu thấp hơn rất nhiều so với hàm lượng muối trong nước biển. Nếu động vật lưỡng cư xuống biển, do hàm lượng muối ở đây rất cao, cơ thể chúng sẽ bị rút một lượng lớn nước, gây chết.
Nghiên cứu của các nhà khoa học cho biết, động vật lưỡng cư dù là trưởng thành hay ấu thể, nhìn chung không thể tồn tại lâu trong nước có nồng độ muối 10 phần nghìn. Trong nước có nồng độ muối cao hơn, chúng sẽ chết rất nhanh.
Vậy mà nồng độ muối của nước biển hiện nay nói chung đều vượt 20 phần nghìn, có nơi tới 42 phần nghìn. Vì vậy, tuyệt đại đa số động vật lưỡng cư không thể vượt qua biển, thậm chí ngay cả các vịnh hẹp chúng cũng bó tay, càng không thể sống ở biển được.
Hiện nay, chỉ có một vài loài ếch biển, sống ở bãi bùn ven đảo Hải Nam và một số nước Đông Nam Á.
Nhưng tại sao trên một số đảo lại có thể gặp các động vật lưỡng cư? Lý giải cho điều này có lẽ do từ xa xưa, các đảo từng là một phần của đại lục. Sau này, chúng mới tách khỏi đất liền, thành đảo. Nói chung, giống loài của động vật lưỡng cư trên đảo, so với đất liền thì ít hơn nhiều.
Tucurie
02-08-2002, 10:55 PM
Tại sao chuột có đuôi dài?
Chiếc đuôi giúp chuột "chạy bộ" trên cành cây như trên đất bằng.
Lẹ làng như các diễn viên xiếc thiện nghệ, họ nhà chuột chạy thoăn thoắt trên dây thừng hay trên một bề mặt hẹp. Để có thể giữ thăng bằng, chuột đã sử dụng chính chiếc đuôi của nó, đôi khi, dài bằng cả cơ thể. Rất nhanh, nó không ngừng đập đuôi sang hai bên.
Đuôi chính là công cụ thăng bằng tốt nhất của chuột. Cũng bằng chiến thuật này, họ nhà mèo đã "mọc" chiếc đuôi khá lê thê, hỗ trợ cho việc đi bộ trên hàng rào của chúng.
Một công dụng đặc biệt quan trọng khác của chiếc đuôi dài là điều hòa nhiệt độ cơ thể. Chuột có các mạch máu đặc biệt kiểm soát lượng máu lưu thông tới đuôi của nó. Khi trời nóng, trên lớp da đuôi có ít lông, máu chảy tới mang theo nhiệt độ, sau đó nhiệt sẽ toả ra khỏi cơ thể.
Chuột có thể đưa khoảng 0,1-10% lượng máu ra khỏi tim xuống đuôi. Trong điều kiện lý tưởng, nó có thể mất tới 20 % nhiệt trao đổi chất theo cách này. Ngược lại, trong thời tiết lạnh, nó sẽ hạn chế máu xuống đuôi để giảm sự mất nhiệt.
Thú vị là chiều dài đuôi của chuột một phần do môi trường nó sinh sống quyết định. Với người, thoát nhiệt dưới da cũng đóng một vai trò chính trong việc điều khiển nhiệt độ cơ thể.
Tucurie
02-08-2002, 11:00 PM
Chúa tể của các loài hoa
Bông hoa khổng lồ.
Một ngày nào đó, lang thang trong rừng mưa nhiệt đới của Malaysia và Indonesia, bạn có thể sẽ sửng sốt khi đập vào mắt bạn là một bông hoa chói lọi, khổng lồ với đường kính gần…1 mét. Đó là Rafflesia, một dạng hoa loa kèn lớn nhất thế giới. Thật kỳ lạ, từ “báu vật của tạo hoá này”, có thứ mùi kinh khủng không ngừng bốc ra - mùi thịt thối.
Dân địa phương do vậy gọi nó là hoa xác chết. Tuy vậy, thứ mùi đó lại có vai trò sống còn với hoa rafflesia, chúng hấp dẫn ruồi nhặng đến làm chức năng thụ phấn.
Tên đầy đủ của loài hoa này là Rafflesia arnoldi. Hoa mọc ngay trên mặt đất, đường kính tới 1m, màu đỏ chói lọi. Cây Rafflesia là một loại cây ký sinh, dạng sợi, đường kính thân bé như sợi chỉ. Thật ngược đời, hoa của cây to bao nhiêu thì thân cây lại bé bấy nhiêu.
Rafflesia chui vào các mô rễ của một cây chủ có dạng thân leo và hút chất dinh dưỡng từ đó. Nó không có lá, không có cuống, không có rễ. Cuối cùng, cái vi thể ăn bám nhỏ bé đó sẽ tạo ra một cái nướu, to dần lên thành hình một chiếc bắp cải. Chính cái “bắp cải” này về sau sẽ nở ra bông hoa khổng lồ Rafflesia arnoldi, mọc ngay trên mặt đất.
Các hạt của cây Rafflesia rất nhỏ, được bọc trong một lớp vỏ cứng. Các nhà khoa học cho rằng chính các động vật đã truyền hạt này đi xa khi đi lang thang trong rừng. Hạt giắt vào móng chân của chúng và thế là được tha đi khắp nơi.
Loài Rafflesia đầu tiên và lớn nhất được phát hiện ở đảo Sumatra. Các nhà khoa học đã lấy tên người phát hiện ra nó, một người châu Âu có tên Thomas Stamford Rafflesia, cũng là người đã thành lập nước Singapore ngày nay, đặt cho cây. Từ đó đến nay, người ta đã đặt tên cho hơn 12 loài Rafflesia khác.
Không phải mọi loài Rafflesia đều có mùi thối rữa của thịt thối. Ở Indonesia cũng có loài cây này, người dân gọi là bunga patma, có nghĩa là hoa sen.
Tucurie
02-08-2002, 11:02 PM
Từ khi nào và vì sao cây mọc lá?
Lỗ khí (khí khổng) của cây lá quạt phóng đại 760 lần.
Các nghiên cứu về hóa thạch đã chỉ ra rằng cây cối từ đầu kỷ Devon trở về trước (cách đây khoảng 360 triệu năm) không được sum suê lá như bây giờ. Đa số thực vật đều trơ trụi trong một khoảng thời gian kéo dài đến 40 triệu năm.
Tại sao cây cối lại có lá và tại sao quá trình “triển khai” lá này lại kéo dài đến thế? Câu trả lời từ lâu đã là chủ đề của nhiều cuộc tranh luận khoa học. Mới đây, các nhà nghiên cứu thuộc hai trường đại học ở Anh đã đưa ra một giả thuyết, theo đó, lá chỉ được hình thành khi có sự thay đổi mạnh mẽ về lượng CO2 trong khí quyển.
CO2 là khí mà cây cối sử dụng để quang hợp. Vào đầu kỷ Devon, trái đất có quá nhiều khí này, nhiều đến mức cây chẳng cần hoặc chỉ cần rất ít lỗ khí (nơi chúng hút CO2 vào và nhả ôxy ra). Vì thế, hầu hết cây cối đều không có lá. Cá biệt, một số thực vật mọc những bộ phận giống như gai vậy.
Không có lỗ khí, nên nếu cây có lá, nhất là lá rộng, chúng sẽ phải chịu nhiệt độ rất cao của môi trường thời đó.
Nhưng rồi sau đó, nồng độ CO2 trong khí quyển bắt đầu giảm, cuối cùng chỉ còn lại khoảng 10% so với lượng ban đầu. Do vậy, cây cối buộc phải tiến hóa sao cho có nhiều lỗ khí hơn để hút đủ CO2, để giữ mát thân. Sự hình thành lá ở thực vật là một cách thức để thích nghi với môi trường. Nhờ có những chiếc lá chi chít lỗ khí, cây quang hợp được nhiều hơn và không bị nhiệt độ quá cao làm hại.
Tucurie
02-08-2002, 11:05 PM
Bí ẩn sự “tự sát” tập thể của loài vật
Cá voi tự sát trên vùng biển Australia.
Bầy cá heo mắc cạn trên bãi biển, những con mối quyết tử để tiêu diệt kẻ thù, bầy chuột cùng nhau lao mình xuống nước… Đôi khi loài vật có hành vi “tự sát” kỳ lạ. Chúng có thể tìm đến cái chết một cách có ý thức? Không hẳn vậy, chúng đã chết vì những lý do bản năng.
Một ngày nắng nóng, một quang cảnh bi thảm xảy ra trên bãi biển New Zealand: Hơn 300 cá heo mắc cạn, giãy giụa trên cát. Chúng phát ra những tiếng rống thống thiết. Dần dần bị kiệt sức do sức nóng và bị đè nặng do chính trọng lượng của chúng, bầy cá khổng lồ bất động và cuối cùng tắt thở sau cơn hấp hối lâu. Cảnh tượng thảm thương ấy xảy ra khá thường xuyên ở đảo quốc này, thậm chí cả ở châu Âu. Lạ nhất là thái độ muốn bám lấy bãi cát của bầy cá khi người ta cố gắng đưa chúng trở lại nước. Dường như chúng đang tìm đến cái chết.
Những tổn thương thực thể
Giả thiết “tự sát” ở cá heo đã không đứng vững sau một khám nghiệm xác cá tỉ mỉ. Các nhà khoa học nhiều lần tìm thấy những giun tròn nhỏ trong tai cá nhà táng và cá heo bị mắc cạn. Loại giun ký sinh này sinh sản trong ống tai, làm rối loạn hệ thống định vị bằng tiếng dội của các loài cá lớn, khiến chúng không thể phán đoán độ sâu của nước và khoảng cách đến bờ.
Một giải thích khác dựa trên từ trường. Nhờ một bộ phận có tính chất như nam châm trong não, kình ngư có thể phát hiện những đường từ vô hình và sử dụng chúng như những đường ray dẫn lối trong đại dương bao la. Bình thường, những đường từ ấy song song với biển. Nhưng rối loạn trong tai, giống như một vỉa sắt khổng lồ, khiến đường ray dẫn lối ấy trở thành đường thẳng góc với bờ biển. Nếu một con cá heo bất hạnh bơi theo đường ray lạc hướng này, cá sẽ tiến vào bờ biển. Thật vậy, các nhà khoa học đã chứng minh rằng đa số những bãi biển nơi cá mắc cạn có các đường từ băng qua.
Bí ẩn sự “tự sát” tập thể của loài vật (tiếp theo)
Kiểu tự sát tập thể không chỉ thấy ở các cá heo hay cá nhà táng. Ở Na Uy, chuột lemming (một giống chuột đồng) cũng cùng nhau tìm đến cái chết cứ sau 3 đến 5 năm. Thiếu chỗ ở và thực phẩm buộc một nhóm nhỏ phải rời bầy. Hàng trăm con vật nhỏ bé rời bỏ miền núi trong đêm tối hướng về nơi mà chúng tưởng là thung lũng...
Khi đến biển, chúng kết thúc hành trình bằng cái chết: đồng loạt lao mình vào làn nước lạnh giá. Dường như những con chuột ý thức được tai họa sắp xảy ra nên tự tìm đến cái chết, để bầy chuột còn lại không bị chết đói. Thực tế không hẳn như thế.
Lao theo bản năng
Nghiên cứu tập tính của chúng cho thấy chuột lemming rất ít quan tâm đến sự sinh tồn của đồng loại. Mỗi con đều cố gắng chiếm phần tốt nhất tại lãnh thổ của chúng. Nếu mật độ cao quá, khó kiếm ăn, mỗi con vật sẽ đi tìm một lãnh thổ khác. Chúng chỉ dừng lại khi cảm thấy mật độ dân số chấp nhận được.
Như các loài gặm nhấm khác, chúng hầu như theo cùng một hướng. Trên hành trình, nếu ngẫu nhiên gặp phải sông hay hồ, chúng chỉ băng qua khi nước lặng và đến được bờ bên kia. Nếu không, chúng sẽ tìm chỗ trú và chờ đợi. Nhưng vì tất cả chuột lemming sớm hay muộn đều vấp phải chướng ngại này, cảnh tụ tập chật chội diễn ra, óc di cư chiếm ưu thế và đàn chuột vượt qua sông hay hồ bất kể thời tiết xấu, nhiều chuột chết đuối. Cũng vậy, khi đàn chuột đến biển, chúng lao xuống nước và “nghĩ” rằng có thể đến bờ bên kia. Can đảm và táo bạo đã bị đặt lầm chỗ, chúng chết vì kiệt sức.
"Anh hùng" hay chết cháy
Trong thế giới tự nhiên, lạ lùng nhất có lẽ là cách tự sát của bọ cạp. Khi bị vòng lửa bao vây, bọ cạp tự sát bằng cách dùng kim nọc tự chích, dường như muốn tự tay kết thúc đời mình hơn là bị thiêu sống. Làm sao một động vật với bộ óc nhỏ như đầu đinh ghim lại có thể ý thức về và hành động và hậu quả như vậy?
Chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi hành động ấy được xem như một tai nạn ngớ ngẩn, do kích động, vùng vẫy, bọ cạp đã vô tình tự chích. Ngày nay, giả thiết tưởng chừng hợp lý hơn cả ấy đã bị gạt bỏ. Hai nhà nghiên cứu người Pháp, Christian Legros và Marie France Martin - Eauclaire, đã chứng tỏ con vật này vô cảm với chính nọc của nó. Trên thực tế, nó vùng vẫy loạn xạ do hệ thần kinh bị kích thích dưới tác động của nhiệt. Cơ thể của nó bị lay động bởi những cơn co ngoài ý muốn, gây những phản xạ mạnh đưa đến tự chích. Nhưng bọ cạp không chết vì nọc của nó mà bị nướng do lửa.
Bí ẩn sự "tự sát" của loài vật (tiếp theo và hết)
Kiểu hy sinh "anh hùng" cũng gặp ở loại mối Globitermes sulfureus. Các chiến binh mối phản ứng như những quân nhân quyết tử trước kẻ thù. Khi một đàn kiến xâm nhập tổ, mối co cơ bụng cho đến khi thành cơ thể bị nứt ngang cổ, phóng ra một giọt nhựa dính. Kiến bị vướng chân trong chất keo này và chết tại chỗ.
Khó mà tưởng tượng mối thông minh hơn bọ cạp. Tuy nhiên, ngay cả khi mối không ý thức được hành vi tự sát, chúng đã thực sự hy sinh thân mình để bảo vệ bầy. Bằng cách nào thái độ quyết tử ấy đã được chọn tồn tại trong qúa trình tiến hoá?
Trong thiên nhiên, mọi loài đều phải tháo vát để có thể tồn tại lâu dài nhất và sinh sản càng nhiều càng tốt. Nhưng chiến binh mối, như các côn trùng thợ khác, không bao giờ sinh sản. Chúng phục vụ cho cả bầy, trong đó mỗi con đều ra đời từ mối chúa. Khi chấp nhận giả thiết “những gene tự tử” đã xuất hiện ở tổ tiên của các chiến binh mối Globitermes sulfureus, gene này có thể đã được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác trong dòng tiến hoá vì những gene ấy góp phần hiệu quả trong bảo vệ bầy và sự tồn tại của bầy.
Nhưng tại sao chúng lại làm điều dại dột ấy cùng một lúc?
Đơn giản là do bản năng hợp quần. Các loài mà cả bầy mắc cạn: cá nhà táng đen, cá heo Electre… là những loài sống thành bầy nhóm. Các nhóm được tổ chức theo một tôn ti trật tự rạch ròi và có tính đoàn kết cao, đến độ nếu con đầu đàn bị “lọt bẫy” hay ngã bệnh, toàn nhóm sẽ mắc cạn theo: Tiếng kêu thảm thiết, tuyệt vọng của bầy cá bất động trên bãi biển sẽ thu hút những con khác đang ở dưới nước.
Tất cả những ví dụ trên cho thấy cần phải dè chừng khi quan sát thái độ của loài vật. Chúng ta có xu hướng gán cho loài vật suy nghĩ và cách xử sự của con người, nhất là những loài vật có dáng vóc gần giống ta như loài khỉ, hoặc khi chúng sống cạnh chúng ta. Người ta thường kể chuyện những con mèo và vẹt nhịn đói đến chết sau khi chủ của chúng qua đời. Quả thật có sự kiện ấy. Loài vật có thể bị suy sụp tinh thần đến độ không muốn ăn. Với loài mèo, thiếu thực phẩm trong 2 hoặc 3 ngày làm thoái hoá gan, đưa đến cái chết. Còn vẹt nhanh chóng bị chìm vào cơn đờ đẫn do thiếu nhiên liệu để duy trì sự ổn định nhiệt độ cơ thể. Nhưng liệu ta có thể cho đó là hành vi tự sát?
Các nhà động vật học tỏ ra hoài nghi về điều này. Vì hầu như tất cả các loài (trừ loài người và có lẽ cả loài voi) không biết nhận ra một đồng loại bị chết. Ngay cả động vật gần với người nhất là khỉ, chúng dường như bị mù trước bằng chứng hiển nhiên: Khỉ và hắc tinh tinh mẹ vẫn ôm con chết trong nhiều ngày, dù xác con vật bốc mùi hôi thối và không còn phản ứng trước cử chỉ vuốt ve của mẹ.
(Theo Science & Vie Junior
Tucurie
02-08-2002, 11:07 PM
10 sinh vật nguy hiểm có thể bạn chưa biết
Ếch Mũi tên độc nổi bật vì có màu xanh rất đẹp.
Đẹp rực rỡ như viên ngọc xanh, con ếch bé xíu đứng ngó nghiêng trên chiếc lá khoai đỏ sậm. Trông "ngơ ngẩn" vậy thôi, nhưng nếu bạn đánh nó, nó sẽ cho bạn "biết tay" ngay, bởi đây chính là loài ếch ghê gớm nhất. Chất độc dưới da nó đủ để làm bạn bị thương nặng.
1. Ếch Mũi tên độc: Một trong những loài lưỡng cư có khả năng tiết độc tố từ các tuyến trong da. Tại sao nó lại có cái tên như vậy? Đó là vì thổ dân các vùng Trung và Nam Mỹ vẫn thường tẩm chất độc của da ếch vào đầu mũi tên để làm vũ khí chiến đấu.
2. Chim Petohui: Loài chim duy nhất có độc tố. Nơi cư trú của chúng là Papua New Guinea. Năm 1992, các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng lông và da của loài chim này chứa một lượng chất độc có tên là homobatrachotoxin. Chất này có thể gây tê và mẩn ngứa trên da bất kỳ người hay động vật nào chạm phải nó.
3. Thú mỏ vịt: Loài thú có vú rất nhút nhát, sống ở Tasmania, đông và nam Australia. Con đực trưởng thành có tuyến độc ở chân sau, khi cần có thể phun chất độc ra.
4. Sâu bướm đuôi nâu: Trên mình loài này phủ một lớp lông trắng và nâu. Lông nâu chứa độc tố và thường xuyên bị “cuốn theo chiều gió” khi sâu bướm thay lông. Điều đáng nói là những lông nâu này gây ra chứng phát ban và các rắc rối về đường hô hấp.
Cá đá rực rỡ như san hô dưới đáy biển.
5. Cá đá (Stonefish): Một trong những động vật có xương sống độc nhất. Những cái ngạnh sắc nhọn ở sống lưng của nó chứa lượng độc tố đủ để làm chết một người lớn không may giẫm phải con vật. Trông cá đá giống cái gì - bạn biết không? Một hòn đá xù xì nhưng lại có màu sắc rất rực rỡ, cho phép nó lẫn vào san hô và bùn của đáy biển, nơi nó sinh sống. Thiên nhiên đã ưu đãi cá đá - màu sắc đẹp đẽ của nó thu hút các con mồi dưới biển.
6. Rết: Một trong số rất nhiều cặp chân của rết có những mấu thịt cực khoẻ và vuốt sắc mà tuyến độc tố tiết chất độc vào đó. Cặp chân này có tác dụng bắt và giết con mồi. Vết đứt mà chân một số loài rết gây ra rất nguy hiểm cho con người.
7. Cá đuối gai độc: Một trong những loài cá độc thường gặp nhất. Đuôi cá giống như cái roi, có những ngạnh sắc ở đầu mút. Nhờ đám ngạnh này, cá có thể tiêm chất độc từ các tuyến độc vào đối phương. Cá đuối gai độc thường sống ở những vùng nước nông ấm áp.
8. Kỳ nhông: Loài này có những tuyến độc bí ẩn nằm sâu trong da. May mắn thay, thông thường con nào có các tuyến độc tố dưới da lại mang màu sắc tươi sáng, rất dễ phát hiện. Đây là tín hiệu cảnh báo các động vật khác, kể cả con người, nên tránh xa kỳ nhông - nguy hiểm đấy!
9. Chuột chù: Con vật này vô cùng nhỏ bé và nhút nhát. Nó có thể nằm lọt thỏm trong tay người. Ấy thế nhưng nước bọt của một số loài chuột chù lại có tác dụng làm con mồi bất động. Tuy nhiên, bạn có thể “yên tâm đi”, vì lũ chuột chù độc này thường chỉ ăn cá, ếch, chuột nhắt và sa giông... không ăn thịt người.
10. Cá trê: Vây ức và vây lưng của nhiều loài cá trê có nhiều ngạnh dính chất độc. Chức năng của những ngạnh này là gây thương tích cho kẻ thù để phòng vệ. Tất nhiên, loài cá này không sợ mèo.
Tucurie
02-08-2002, 11:09 PM
Vì sao người và động vật vùng nhiệt đới lại nhỏ bé?
Loài hươu nhỏ bé ở vùng đồng cỏ châu Phi.
Do tiếp thu ngờ uồn thức ăn nghèo về protein và vi chất, các nhóm người và động vật sống trong vùng nhiệt đới ẩm và xích đạo đã thích nghi theo hướng thu nhỏ tầm vóc lại để tồn tại được trong môi trường bất thuận lợi này.
Theo các nhà địa hoá, trong điều kiện ánh sáng mặt trời dồi dào như ở vùng xích đạo, cộng thêm lượng mưa phong phú như trên những vùng nhiệt đới ẩm, đất đai hai miền này có sự phong hoá mạnh mẽ và trở nên kém phì nhiêu, nghèo về đạm và lân dễ tiêu. Chất kiềm, nhất là canxi và magie thiếu trầm trọng do mưa nhiều, đất bị rửa trôi nhanh. Những nguyên tố vi lượng rất cần cho sự sống như iot, coban… cũng thiếu, nhất là ở miền núi. Từ các yếu tố này, sự kém phát triển của kích thước cơ thể người và động vật có thể được lý giải như sau.
- Thiếu canxi và magie sẽ gây ra các bệnh về xương. Xương không phát triển khiến chiều cao hạn chế.
- Thiếu hụt sắt khiến con người mắc bệnh thiếu máu và gầy. Thực vật nhiệt đới ẩm giàu sắt, song con người không hấp thụ sắt qua việc ăn thực vật mà ngờ uồn sắt chủ yếu được cung cấp qua động vật (thịt, cá, trứng, sữa…). Tuy nhiên trong thực tế, thức ăn của người và động vật sống ở vùng này chủ yếu là thực vật, động vật chỉ chiếm từ 5% đến 10%.
- Trong điều kiện mưa nhiều, các chất kiềm cần thiết cho cuộc sống của sinh vật bị rửa trôi trong khi lại có sự tích luỹ các nguyên tố khác như sắt, nhôm, silic… Silic là nguyên tố làm cho lá cây của hai vùng này có màu xanh sẫm và cứng, sắc, có nhiều xơ và kém giá trị dinh dưỡng mà điển hình là cỏ tranh. Silic nhiều đến nỗi bên trong các ống tre, nứa ta gặp các tinh thể silic ngậm nước kết đọng lại như những cục đường. Đây là nguyên nhân giải thích vì sao động vật nuôi ở vùng nhiệt đới ẩm và xích đạo cho sản lượng thịt và sữa thua xa so với động vật xứ ôn đới.
Sự kết hợp những yếu tố trên đã khiến các cư dân của vùng nhiệt đới ẩm như Việt Nam, Malaysia, Thái Lan, Philippines, Indonesia, Angola, Ghine… đều có vóc dáng nhỏ bé. Thậm chí ở vùng rừng xích đạo châu Phi có bộ lạc người Pich mê còn được gọi là bộ lạc của những người “tí hon”. Nam giới ở đây cao không quá 1,3 m, còn phụ nữ chỉ cao trung bình khoảng 1 m.
Tình trạng tương tự cũng diễn ra đối với động vật. Theo tính toán của các nhà khoa học, các loại động vật ở vùng nhiệt đới ẩm và xích đạo có kích thước thua thiệt so với đồng loại ở vùng ôn đới tới 1,5 m. Ví dụ, loài hươu cao cổ sống ở các đồng cỏ ôn đới có chiều cao trung bình là 6 m trong khi ở vùng xích đạo chúng chỉ cao 2,5 m.
Tucurie
02-08-2002, 11:12 PM
Bí mật sự hồi sinh của ve sầu
Ve sầu có thể sống thọ 17 năm.
Người Trung Quốc cổ cho rằng ve sầu là con vật biểu tượng của sự hồi sinh do chu kỳ sống có một không hai của chúng: nằm lặng lẽ dưới mặt đất trong nhiều năm liền, sau đó trồi lên khỏi mặt đất đi tìm bạn đời giao phối, đẻ trứng rồi... chết! Ngày nay, người ta vẫn tự hỏi về khả năng kỳ lạ của ve sầu khi chúng luôn xuất hiện trong thiên nhiên vào một thời điểm chính xác trong năm.
Richard Karban, nhà sinh thái học ở Đại học Davis (California, Mỹ) đã giúp tìm ra bí mật của loài ve sầu này. Ông đào những con nhộng thuộc loài ve sầu Magicicada đã… thọ dưới mặt đất 15 năm. Loài ve sầu này thường chỉ ngoi lên khỏi mặt đất sau 17 năm "tu luyện". Karban đưa những con nhộng ve sầu vào một căn phòng được điều khiển khí hậu nhân tạo ở Đại học Davis. Tại đây những con nhộng được gắn vào bộ rễ của những cây đào (peach) đã được “điều chỉnh” để có thể ra hoa hai lần mỗi năm. Kết quả những con ve sầu thoát kiếp nhộng sớm hơn một năm. Loài côn trùng này đã “đếm” thời gian bằng cách theo dõi những tín hiệu sinh lý của cây.
Cứ vào mùa xuân, khi nhiều loại cây bắt đầu ra hoa, những giọt mật và protein từ hoa sẽ chảy ra, rơi xuống và thấm vào bộ rễ của cây. Ve sầu ở trong lòng đất hút lấy thức ăn từ rễ cây và đó chính là lúc chiếc đồng hồ sinh học của loài côn trùng này được “kích hoạt”. Ve sầu hồi sinh, bò lên khỏi lòng đất và bắt đầu một chu kỳ sống mới…
Tucurie
02-08-2002, 11:13 PM
Hoan tat phac thao ban do gien chuot
Sinh vật này từng được phỏng đoán là có bộ mã di truyền tương đồng với loài người. Và quả thật, số lượng gene của chúng có khoảng 30.000, gần bằng với chúng ta. Đây chỉ là một phần trong công bố của các nhà khoa học Anh - Mỹ hôm qua, khi họ kết thúc thành công việc giải mã gene chuột sơ bộ.
Bộ gene chuột có khoảng 2,7 tỷ cặp bazơ-nitơ, nhỏ hơn của người khoảng 15% (bộ gene người có 3,1 tỷ cặp bazơ-nitơ, phân bố trên 23 cặp nhiễm sắc thể).
Các chuyên gia của Viện Nghiên cứu Gene Người Quốc gia Mỹ cho biết: "Thông tin này sẽ cho phép giới khoa học tìm hiểu chức năng của nhiều gene người. Vì chuột có bộ gene hầu như tương tự của chúng ta, và việc nghiên cứu chúng trong các phòng thí nghiệm dễ dàng hơn nhiều”.
Cho đến nay, các nhà nghiên cứu vẫn chưa chắc chắn về số lượng gene của người. Theo họ, trên các chuỗi ADN, đôi khi có sự lặp lại của một số gene, tạo nên các đoạn “ADN vô ích” mà giới khoa học chưa hiểu hết vai trò của chúng. Điều ngạc nhiên nhất từ công trình mới này là chuột cũng có cùng những “gene vô ích” như chúng ta.
Bản đồ gene là tập hợp tất cả các nguyên liệu di truyền, và một phác thảo trình tự gene giống như một bản đồ sơ bộ. Một số chuyên gia ví trình tự phác thảo này như một bản đồ chỉ ra những đường cao tốc chính, nhưng lại chưa có tên đường, thành phố hay các thị trấn. Khoảng 4% bộ gene cần tiếp tục được xác định.
Mặc dù trước đó, một công ty tư nhân của Mỹ cũng đã đọc được bản đồ gene chuột, nhưng nghiên cứu của họ không được công bố rộng rãi với giới khoa học trên thế giới. Công trình mới này thì ngược lại, nó được đưa lên Internet để bất cứ ai cũng có thể đọc và sử dụng.
B.H. (theo Reuters)
Tucurie
02-08-2002, 11:15 PM
Vì sao cua đi ngang?
Con gì 8 cẳng 2 càng...?
Hãy úp sấp bàn tay của bạn xuống mặt bàn và tưởng tượng rằng đó là một… nửa con cua. Mu bàn tay là mai cua, các ngón tay của bạn là chân cua. Di chuyển tay về phía trước. Bây giờ hẳn bạn đã hình dung ra cách cua đi ngang.
Loài cua được bọc trong một bộ xương ngoài có tác dụng bảo vệ chúng trước kẻ thù. Tuy nhiên, cái giá phải trả là các chân trên của chúng bị hạn chế cử động. Càng tiến hóa nhiều, xương ngoài của cua càng có tác dụng bảo vệ hơn và chân cử động càng ít hơn. Trông thì buồn cười thật, nhưng có thế cua mới sống được.
Cụ thể, chân cua gắn vào mình nó, cũng giống như ở con người chúng ta vậy. Song thật không may cho anh chàng “8 cẳng 2 càng” này là trong khi tay người có rất nhiều khớp (vai, khuỷu tay, cổ tay và ngón tay) cho phép chúng ta cử động được thoải mái thì cua lại có rất ít khớp. Và các khớp chân ấy cũng không được linh hoạt lắm. Chúng chỉ hơi gập lại theo hướng trước - sau.
Để dễ hiểu, bạn cứ hình dung như thế này: Chân cua cũng tương tự như ngón tay người, chỉ có thể di chuyển dọc mà rất hạn chế theo chiều ngang. Như vậy, cua đi ngang là do nó đã chấp nhận hy sinh sự linh hoạt của chân, đổi lại được bảo vệ khỏi kẻ thù.
Tucurie
02-08-2002, 11:16 PM
Động vật trường sinh
Ếch, bậc thầy về khả năng chết giả.
Trong một ghi chép còn lại của nhà phẫu thuật Ambroise Pare, thầy thuốc riêng của Vua Henri III (Anh), thế kỷ XVI, miêu tả về một người thợ xây vô ý làm rơi một hòn đá. Không ngờ, từ viên đá vỡ rơi ra một chú ếch nằm bất động. Lát sau, chú ta tỉnh lại, rồi nhảy đi.
Có lẽ chìa khóa trường sinh nằm ở đây trong khả năng chết giả hàng nghìn năm của nhiều loài động vật.
Ở Bắc Mỹ, có loài thuỷ ngưu lùn Sirenia, trong các điều kiện khắc nghiệt, chúng có thể ngủ vùi hơn một năm trời. Trong thời gian này, các trao đổi chất trong cơ thể chúng giảm xuống đến hàng nghìn lần, thậm chí có khi ngừng hẳn! Chính vì điều đó, chẳng có gì lạ khi vào mùa khô, thổ dân châu Phi thường đi bắt lươn, chạch… bằng cách dùng cuốc. Trong các lớp đất khô rắn, lươn, chạch… vẫn còn tươi nguyên. Mới xem qua, cứ ngỡ những con vật này vừa mới chết, nhưng nếu mang thả xuống nước, chỉ khoảng 10 phút sau, chúng “sống” lại và trườn đi như bình thường. Các nhà khoa học gọi đó là hình thức “chết giả” trong đất khô cứng. Ở các loại lươn chạch châu Phi, thời gian chết giả cho đến khi có mưa trở lại có thể kéo dài nhiều tháng.
Kỷ lục đáng nể
Có những con ếch ẩn náu trong bùn đất, vì lý do nào đó, bùn dần khô cứng lại. Thế là nó bị mắc kẹt trong đó. Trải qua hàng nghìn, thậm chí hàng triệu năm, tàng bùn trong đó chứa ếch, vì lý do này khác, hoá thành đá. Có nhiều trường hợp, khi những tảng đá đó được đập ra, ếch dần sống lại.
Trong một cuộc bán đấu giá ở London (Anh) năm 1862, người ta trưng bày một tảng than đá có vết rỗng in hình con ếch. Bên cạnh đó là con ếch sống từng nằm trong tảng than suốt hàng nghìn năm qua. Tảng than đá này được tìm thấy ở mỏ than New Port. Không lâu sau đó, ở mỏ than Lilishal vùng Paddington, người ta lại tìm thấy một con ếch sống nằm trong than đá. Tại một mỏ dầu ở Mexico, các nhà khoa học đã phát hiện ra một con ếch đã bị chôn vùi… 2 triệu năm. Sau khi được giải thoát, con ếch này đã sống lại được 2 ngày, nhưng sau đó thì chết hẳn.
Vào thế kỷ thứ 18, người ta xây một kè đá dọc theo bãi biển Toulon (Pháp). Gần đây, người ta bửa những kè đá này ra và tìm thấy những con hào còn sống trong lòng đất đá. Năm 1818, một nhà địa chất lấy mẫu sét ở độ sâu 15 m. Ông phát hiện thấy có 3 con vật lạ chui ra. Hai con chết ngay khi tiếp xúc với không khí, nhưng một con vẫn còn sống khi Clark thả xuống nước. Các nhà khoa học xác định con vật này thuộc loài động vật tồn tại trên trái đất 10 triệu năm trước.
Đầu năm 1856, người ta dùng mìn phá sập một mỏm đá lớn, và phát hiện ra một con vật như khủng long. Nó kêu lên một tiếng rồi chết. Người ta không có điều kiện để bảo quản xác của nó, nhưng phần xương vẫn còn được lưu giữ đến ngày nay. Các nhà khảo cổ học cho rằng đó là một giống thằn lằn bay thời tiền sử…
Dường như ếch có khả năng ẩn mình vô thời hạn trong đá, trong gỗ. Trong biên bản tài liệu khoa học của Viện Hàn lâm Khoa học Pháp có một tài liệu quan trọng. Tài liệu này miêu tả bên trong một thân cây cổ thụ, người ta tìm thấy một con ếch. Ngay sau khi được giải thoát, con ếch dần dần hồi phục và nhảy đi mất. Nhưng khuôn gỗ in hình con ếch đó thì vẫn được lưu giữ lại đến ngày nay.
“Bất tử” trong thí nghiệm
Kỹ sư Seghine người Pháp đã thực hiện một thí nghiệm để kiểm chứng khả năng trường sinh của ếch. Ông trộn 20 con ếch vào vữa rồi xây thành một cái tượng vườn. 12 năm sau, ông cho đập tượng, 16 con đã chết hẳn, nhưng 4 con ếch sau vài chục phút đã hồi sinh trở lại và nhảy đi bình thường.
Năm 1852, một người Mỹ tên là Frank cũng lập lại thí nghiệm trên. Ông cho khoan lỗ vào tảng đá vôi, thả 12 con ếch vào đấy và dùng xi măng trám kín các lỗ lại. Ông cũng làm như thế nhưng thay tảng đá vôi bằng một khối sa thạch với 12 con ếch. Nhiều năm sau, ông cho đập vỡ hai “nhà tù” ra. Cả 24 con ếch đều sống bình thường.
Khả năng trường tồn của động vật là chìa khoá để các nhà khoa học tìm ra cách trường sinh cho con người. Nhưng bí ẩn trường sinh này đến nay vẫn chưa ai giải thích nổi.
Tucurie
02-08-2002, 11:18 PM
Voi không bao giờ quên đồng loại
Voi là động vật duy nhất biết khóc trước cái chết của đồng loại.
Luôn nhớ về bè bạn, tình cảm của voi gần như của con người vậy, bác sĩ Karen McComb, Đại học Sus (Anh) cho biết. Loài vật này giao tiếp bằng tiếng kêu có tần số thấp mà con người không nghe được và chúng có thể nhận ra “tiếng nói” của 100 con khác thậm chí sau nhiều năm.
McComb và các đồng sự của bà đã ghi lại tiếng kêu của các con voi cái ở Vườn Quốc gia Amboseli, Kenya. Rồi bà mở băng cho 27 gia đình voi nghe và ghi nhận phản ứng của chúng. Các con voi này phản ứng một cách tích cực đối với tiếng kêu của đồng loại, nhưng khi nghe tiếng kêu của một con lạ, chúng phớt lờ hoặc trở nên bồn chồn lo lắng và phòng thủ.
Cuộc nghiên cứu riêng biệt cho thấy voi cũng giao tiếp bằng chân, tiếng động của một bước chân có thể đi xa 30 dặm. Các nhà khoa học cũng phát hiện ra rằng, ngoài con người, voi là động vật duy nhất biết khóc trước cái chết của đồng loại. Nhà tự nhiên học Joyce Poole quan sát thấy khi voi đi qua nơi có voi cùng đàn bị chết, chúng đứng lặng yên nhiều phút.
Tucurie
02-08-2002, 11:19 PM
Giới tính của lươn: "Hai trong một"
Lươn biển.
Ở loài lươn, người ta nhận thấy hiện tượng những con lươn to, dài đều không có trứng, trong khi đó buồng trứng lại chỉ có mặt trong những con lươn nhỏ hơn, vì sao có chuyện ngược đời vậy nhỉ?
Đó là vì tính đực và cái của giống lươn hoàn toàn khác với các loài cá.
Đa số các loài cá khi mổ ra nếu không có buồng trứng (cái) thì phải có tinh hoàn (đực), dù là cá nhỏ hay cá lớn. Sự khác biệt giữa giống cái và giống đực ở các loài cá rất rõ ràng và vĩnh cửu.
Đối với lươn thì khác hẳn. Từ khi trứng lươn nở thành lươn con, con nào cũng có buồng trứng. Nói một cách khác, tất cả lươn con là lươn cái. Nhưng khi các con lươn con lớn lên phát dục và đẻ trứng xong, buồng trứng của lươn bắt đầu có thay đổi. Các mô trước đây sản sinh ra tế bào trứng sẽ chuyển hoá thành túi sinh tinh trùng. Hiện tượng này trong khoa học gọi là “chuyển ngược giới tính”. Vì nguyên nhân đó nên những con lươn lớn đều là lươn đực.
Lươn cái đều biến thành lươn đực, vậy lấy gì để duy trì nòi giống của chúng?
Xin trả lời: Lươn nhỏ khi mới nở (đều là lươn cái) sau khi trưởng thành chỉ đẻ trứng một lần rồi biến thành lươn đực. Số lươn đực này sẽ giao phối với số lươn cái ra đời sau một thế hệ. Xét cả họ nhà lươn thì năm nào cũng có một lứa lươn cái đẻ trứng và mỗi năm đều có một thế hệ lươn cái nở từ trứng ra. Nhờ đó nòi giống lươn mới được duy trì.
Hiếm có nhưng không phải là duy nhất
Ở các động vật khác, hiện tượng thay đổi giới tính rất hiếm xảy ra. Trong giới động vật tuy cũng có hiện tượng này, nhưng chỉ xảy ra ở cá biệt một vài con vật.
Trong các loài cá, ngoài lươn có hiện tượng “chuyển ngược giới tính” còn có một vài loài cá tồn tại cả hai giới tính đực cái trong một cơ thể như cá thu, cá bướm. Cơ thể chúng có hai cơ quan sinh dục đực và cái. Loại cá này có thể tự thụ tinh và đẻ trứng. Ngay cả cá mè, đôi khi người ta cũng thấy có hiện tượng trong một con cá có cả một buồng trứng nằm trong túi tinh trùng. Hiện tượng lưỡng tính kiểu này rất phổ biến trong các loài động vật bậc thấp.
(Theo 10 vạn câu hỏi vì sao
Tucurie
02-08-2002, 11:20 PM
Tại sao động vật hoang dã thích “ngoại tình”?
Nếu sư tử cái có nhiều bạn tình thì sư tử đực không thể giết con.
Xưa nay các nhà động vật học đều cho rằng, ở các loài vật, con cái chỉ “chung thuỷ” với một con đực, còn con đực thì bôn ba khắp nơi, nể nang... mọi con cái để tìm ưu thế tiến hoá. Nhưng oan uổng thay cho các "chàng", thực tế là có đến 70% các "nàng" có hành vi loạn giao.
Dim Pokehaide, nhà sinh vật học người Anh đã đưa ra nhận định này trong một cuốn sách mới xuất bản của ông, trong đó chỉ rõ, phần lớn con cái thường giao phối với rất nhiều con đực.
Một tổ trứng châu chấu thường là “tác phẩm” của mấy con châu chấu đực. Khi con chim hồng tước non lần đầu tiên mở mắt mở mắt, “người cha” ở bên cạnh mẹ của nó chưa chắc đã là cha đẻ, 76% chim hồng tước con đều có “người cha thứ ba”. Một tổ trứng chim ó thường là kết quả của 500 lần giao phối. Xét nghiệm ADN cho thấy, 54% đười ươi con đều do “chồng trước” của mẹ nó sinh ra....
"Chàng" tự cứu nòi giống mình
Hành vi lả lơi của con cái khiến cuộc cạnh tranh giữa các con đực rất kịch liệt, nếu con đực muốn làm cha để di truyền gene của mình cho đời sau (sinh vật học gọi là thành công tiến hoá), thì nó phải có những thủ đoạn giao phối xảo trá. Trên bộ máy sinh dục của chuồn chuồn đực có rất nhiều lông và những lỗ nhỏ mà trước kia các nhà sinh vật học không hiểu tác dụng, đến nay họ mới biết chúng dùng để khử tinh trùng của các con chuồn chuồn đực khác phóng vào.
Khi con cua giao phối, trước hết con cua đực phóng tinh dịch vào trong túi đựng của con cái. Tinh dịch đó lập tức đông cứng lại biến thành cái van ngăn tinh dịch, mục đích là chặn không cho tinh trùng của các đực đã phóng vào trước đó vào kết hợp với trứng của con cái. Sau khi đã tiêu diệt được "mầm mống" của đối thủ, con đực mới yên tâm xuất tinh.
Tinh hoàn của động vật hoang dã to hay nhỏ cũng liên quan đến mức độ chung thuỷ của con cái: con cái càng hoa lá thì tinh hoàn của con đực càng to, để cho tinh trùng càng có cơ hội bơi tới kết hợp với trứng. Pokehaide cho rằng, những hành vi giao phối kỳ quái đó của động vật là do loạn giao của con cái sinh ra.
"Nàng" vì bản thân và vì con cháu
Vậy con cái được lợi gì trong loạn giao của mình? Lợi ích lớn nhất là bản thân và con của nó càng được nhiều thức ăn và được sự bảo vệ.
Con đực của nhiều loại động vật đều dùng thức ăn để nhử con cái nhằm có cơ hội giao phối với nó. Dế đực thường mang về cho dế cái một số thức ăn giầu protein, điều này rất có lợi cho việc rụng trứng.
Ngoài ra, chỉ có làm như thế con cái và con của nó mới được sự bảo vệ của con đực. Diều hâu trống sau khi giao phối với con diều hâu mái có thể giúp con mái nuôi con. Chim cánh đỏ mái cũng giao phối với rất nhiều con trống, bởi vì mỗi con trống đều cho rằng mình là cha của lũ con, một khi có kẻ địch tới quấy phá thì những người cha đó đều sẵn sàng xả thân để bảo vệ con mình.
Con đực của loài linh trưởng (động vật có tay) và sư tử đực có đặc tính bẩm sinh là giết con, nếu phát hiện trong tổ có những con không phải là con mình, nhưng nếu đười ươi hoặc sư tử mẹ có nhiều bạn tình thì đười ươi đực hoặc sư tử đực không biết con nào là con mình nên không dám giết con, con mẹ có thể nuôi dưỡng được nhiều hơn.
(Theo Khoa Học và Văn Hoá, Trung Quốc
Tucurie
02-08-2002, 11:22 PM
Bí quyết bám của tắc kè
Tắc kè có thể hoạt động trên mọi điều kiện địa hình, từ trơn trượt đến thô ráp.
Nhìn tắc kè thoăn thoắt leo dọc trên mọi bờ vách, những tay leo núi thượng thặng nhất cũng phải bái phục. Nó còn có thể leo lên vách thuỷ tinh với tốc độ 1 m/giây mà không hề để lại dấu vết nhớp nhúa nào. Chỉ riêng lực bám trên một chân của nó thôi cũng đủ để nâng bổng một em bé hai tuổi!
Thoạt nhìn hay sờ vào, bàn chân tắc kè chẳng có gì đặc biệt cả vì chúng không hề tiết ra keo dính. Nhưng nhóm nghiên cứu của Kellar Autumn ở Đại học Lewis & Clark (Portland - Mỹ) đã nghiên cứu kỹ các cấu trúc ngón chân của chúng và khám phá ra sự bám dính là nhờ các lực liên kết phân tử.
Nhìn bằng mắt thường, ngón chân tắc kè có nhiều hàng vảy song song. Dưới kính hiển vi, người ta nhận thấy mặt trên mỗi chiếc vảy gồm rất nhiều sợi lông, chính xác hơn là 5.000 sợi trên mỗi milimét vuông. Như thế, mỗi bàn chân của tắc kè có 500.000 sợi lông dài bằng chiều rộng hai sợi tóc người. Nếu nhìn gần hơn nữa, ở mức độ nhỏ hơn bước sóng ánh sáng nhìn thấy, mỗi sợi lông tận cùng bằng một túm gồm vài trăm sợi liti có dạng thìa.
Vì bí ẩn của loài tắc kè hẳn phải nằm trong cái vô cùng bé nhỏ ấy nên các nhà nghiên cứu đã lấy một sợi lông để tìm hiểu về lực kết dính. Nhưng khi đo lường, dù đặt sợi lông ở bất kỳ hướng nào, nó cũng không chịu bám. Thế là quyết định làm lại từ đầu bằng cách phân tích phim quay cực nhanh sự di chuyển của tắc kè, lúc ấy họ mới nhận ra sự tài tình của nó. Nó duỗi dài các ngón chân xuống, khiến những sợi lông nằm dài ra, trước khi bị kéo nhẹ về phía sau. Bằng cách đó, có rất nhiều lông được tiếp xúc với mặt phẳng.
Với tắc kè, chẳng có gì là quá trơn
Từ quan sát trên, các nhà khoa học đã làm cho một sợi lông bám được vào bộ cảm biến để đo. Và thật là kinh ngạc: lực bám của sợi lông là 200 đơn vị. Với 500.000 sợi lông trên bề mặt một đồng xu nhỏ, có thể nâng được một đứa bé hai tuổi. Một con tắc kè chỉ nặng 40 gr, do vậy 4 chân của nó có lực bám lớn hơn cần thiết đến 1.000 lần. Tắc kè cần gì đến một lực bám lớn như thế? Ngoại trừ để chống chọi với một cơn bão.
Ý kiến này cũng được sự đồng tình của Sabine Renous ở Bảo tàng tự nhiên học Paris “Loài tắc kè sống trong rơm rác và ngọn cây rừng nhiệt đới. Ở môi trường tự nhiên của nó, tắc kè là một con vật nặng nề”. Để nhảy từ cây này sang cây khác hoặc bám một ngón chân dưới một chiếc lá trơn láng, quả thực lực bám đó chưa hẳn là thừa.
Bám được đã khó, rời ra càng khó hơn
Tuy nhiên, lực bám đó lại đặt ra một vấn đề khác, đó là khi muốn tách ra. Thật vậy, chất nhầy do con ốc sên hay con chẫu chàng tiết ra có thể giúp chúng leo trên những bờ vách trơn láng, nhưng chỉ với tốc độ rất chậm. Lực hút bám rất mạnh khiến chúng phải tốn nhiều công sức khi nhấc chân ra. Điều phi thường nơi loài tắc kè là sự nhanh nhạy khi chúng chạy trên vách bám, bám chân và giở chân khoảng 15 lần/giây. Chúng giở các ngón chân dần dần như chúng ta tháo băng keo. Dường như kích thước và số lượng khác nhau của các lông thìa trên mỗi sợi lông đã tạo sự dễ dàng cho việc này.
Kellar Autumn đang tiếp tục nghiên cứu về bản chất của lực bám bí ẩn đó. Bởi vì sự bám dính của lông vẫn hiệu quả trong chân không hoặc dưới nước, nên đó không thể là lực hút, cũng không phải là lực tĩnh điện. Thật vậy, nhiều thí nghiệm cho thấy lông vẫn bám trong môi trường bị ion hoá, trước đó đã được chiếu tia X để phá hủy các tương tác tĩnh điện.
Lực bám từ đâu?
Ông cho rằng hàng tỷ lông thìa dưới chân tắc kè có thể dùng đến các lực ở quy mô nguyên tử. Đó là lực kết nối các nguyên tử hydro và ôxy trong nước hoặc 2 nhánh ADN. Đó là lực Van der Waals. Như thế loài tắc kè di chuyển bằng năng lượng nguyên tử. Nhưng cũng có thể còn nhiều yếu tố kết dính khác tham dự vào. Bởi vì loài này sống trong các môi trường ẩm ướt, có thể những phân tử nước cũng giữ vai trò hút ở bề mặt tiếp xúc của lông và mặt nền.
“Mọi loài tắc kè đều có hệ thống lông tơ như thế, kể cả giống tắc kè hoa và rắn mối. Còn loài thạch sùng lại sử dụng một cơ chế thô sơ hơn là các vuốt”, Sabine renous cho biết. "Nếu chúng ta có thể chế ra những đôi găng và bít tất theo nguyên tắc của loài tắc kè, có lẽ chúng ta sẽ trèo lên tường được. Tuy nhiên chúng ta sẽ không đi xa hay đi nhanh được vì thể trọng quá nặng", ông nói thêm.
Trong vòng 10 năm nữa, kỹ thuật của con người sẽ có khả năng chế ra các cấu trúc tinh tế và phức tạp như lông của tắc kè. Lúc ấy sẽ có hàng đoàn robot tắc kè dọc ngang trên sao Hoả, còn một số khác sẽ được sử dụng sau các vụ động đất, kiểm tra dưới các đống gạch vụn để tìm kiếm nạn nhân.
Tucurie
03-08-2002, 08:33 PM
Loài người đang mất dần các giác quan
Lối sống hiện đại khiến con người ít phải sử dụng đến khứu giác.
Các nhà khoa học thuộc Đại học Oxford (Anh) đã phát hiện ra rằng khứu giác và vị giác của con người đang thoái hóa dần, do thói quen sinh hoạt thiếu vận động trong cuộc sống hiện tại. Điều này làm mất khả năng ăn ngon miệng và tiêu hóa tốt thức ăn.
Ngoài khứu giác và vị giác, các giác quan còn lại như thính giác, thị giác và xúc giác cũng bị suy giảm chức năng nghiêm trọng. Theo thống kê, cư dân ở các thành phố lớn thường dành hơn 90% quỹ thời gian trong ngày để làm việc, sinh hoạt trong nhà trước màn hình vô tuyến và máy vi tính.
Thói quen và điều kiện làm việc không tốt đã khiến một số ít giác quan của con người phải làm việc quá tải, trong khi số khác lại hiếm khi được dùng đến. Cả hai thái cực này đều dẫn đến việc suy giảm chức năng của những tế bào thụ cảm của giác quan. Để khắc phục xu hướng tiêu cực trên, các nhà khoa học đã đưa ra lời khuyên rằng con người nên biết kết hợp giữa làm việc trong nhà và ngoài trời, đồng thời cần có sự nghỉ ngơi hợp lý.
Tucurie
03-08-2002, 08:34 PM
Xét nghiệm ADN hổ để tránh sinh sản cùng huyết thống
Hổ Siberia
Các nhà động vật học Trung Quốc vừa tiến hành xét nghiệm ADN loài hổ Siberia tại 2 trung tâm gây giống lớn nhất trong nước để phân loại và tránh giao phối những con cùng huyết thống.
Những nhà động vật học từ Học viện khoa học lâm nghiệp và của tỉnh Hắc Long Giang, đông bắc Trung Quốc, sẽ tiến hành xét nghiệm hơn 200 con hổ tại Công viên hổ ở Đông Bắc và Trung tâm gây giống hổ Hằng Đảo Hà Tử.
Họ cho biết: ''Việc xét nghiệm nhằm phân loại những con cùng dòng dõi và tránh suy yếu loài do sinh sản cùng huyết thống''.
Hiện những nhà động vật học đã xét nghiệm 113 con hổ tại 2 trung tâm trên qua máu và lông của chúng. Kết quả cho thấy, những con cùng huyết thống tại 2 trung tâm trên là rất thấp.
Hổ Siberia là một trong mười loài đang có nguy cơ tuyệt chủng lớn nhất thế giới. Hiện chỉ còn khoảng 400 con sống hoang dã tại miền Đông nước Nga và Đông bắc Trung Quốc.
Nhân viên tại 2 trung tâm này cho biết số hổ sinh sản tự nhiên sẽ tăng lên 500 con vào năm 2005, và gia tăng gấp đôi vào năm 2010.
Bằng cách huấn luyện cho động vật hoang dã, hơn 10% số hổ sẽ được thả trở về với môi trường sống tự nhiên.
Tucurie
03-08-2002, 08:35 PM
Tổng hợp được virus nhân tạo đầu tiên
Virus bại liệt, nay đã được con người tạo ra.
Các nhà khoa học Anh đã có được những con virus nhân tạo đầu tiên trên thế giới, bằng cách lắp ghép theo trình tự gene của virus bại liệt. Khi tiêm virus này vào chuột để kiểm tra khả năng hoạt động của nó, họ nhận thấy những con chuột cũng dần bị tê liệt, rồi chết.
Kết quả này chứng tỏ virus nhân tạo (với dáng vẻ giống hệt như đồng loại của chúng trong tự nhiên ) hoàn toàn có thể sống được trong môi trường. Tiến sĩ Eckard Wimmer, trưởng nhóm nghiên cứu của Đại học New York ở Stony Brook, nói: “Chúng tôi thực hiện điều này nhằm chứng minh rằng việc tạo ra virus là hoàn toàn có thể".
Trả lời trước những chỉ trích cho rằng, nghiên cứu này có thể dẫn tới việc những kẻ khủng bố sinh học bắt chước để tạo ra các loại virus chết người mới, Tiến sĩ Eckard Wimmer cho biết, không nên quá lo lắng, vì chỉ có rất ít người đủ kiến thức để biến nó thành hiện thực.
Theo nhà nghiên cứu Jeronimo Cello, vi rút bại liệt là một trong những loại virus đơn giản nhất, và “rất dễ tạo ra” trong phòng thí nghiệm. Những loại có cấu trúc phức tạp hơn và cũng nguy hiểm hơn như virus đậu mùa thì sẽ khó tạo ra hơn. Nhưng trong tương lai, điều này là rất có thể. Tiến sĩ Wimmer cũng bổ sung thêm rằng “Tốt hơn là thế giới hãy chuẩn bị trước khi điều này xảy ra”.
Tucurie
03-08-2002, 08:36 PM
Phát hiện loài rết mới ở New York
Các nhà khoa học Mỹ vừa phát hiện loài rết nhỏ nhất trên thế giới, chỉ dài 10mm. Đây là loài mới, lần đầu tiên được tìm thấy ở công viên Trung tâm New York (Mỹ) trong vòng hơn 1 thế kỷ qua.
Công viên Trung tâm New York là ốc đảo xanh thu hút khoảng 20 triệu du khách mỗi năm.
Loài rết này được khám phá khi ban quản lý công viên đề nghị các nhà khoa học thuộc Viện bảo tàng lịch sử tự nhiên Mỹ phân loại các loài động thực vật sống trong vùng có cây che phủ của công viên.
Các nhà khoa học đặt tên cho loài rết mới này là Nannarrup Hoffman, tên của Giám đốc viện Bảo tàng lịch sử tự nhiên Virginia, người góp phần quan trọng trong khám phá này.
Các nhà nghiên cứu đã thu thập hàng đống lá cây mục trong suốt năm 1998 và tiến hành phân loại các loài sinh vật trong đó. Họ đã gửi một loạt sinh vật nhiều chân trong đó có cả rết tới chỗ ông Hoffman.
Sau khi nghiên cứu, Tiến sĩ Hoffman lại gửi một số sinh vật mà ông không thể nhận dạng được cho các nhà khoa học Italia. Kết quả là, các chuyên gia Italia đã phát hiện ra một loài rết mới. Chúng có thể vô tình được đưa tới New York trong các lô đất trồng hoa từ châu Á. Tuy nhiên, điều thú vị là ngay cả ở châu Á, người ta vẫn chưa phát hiện ra loài rết này.
Rết Nannarrup Hoffman là loài ăn thịt có những nanh độc. Chúng sống dưới những lớp lá và cành cây mục rải rác trong công viên. Đó là môi trường đa dạng nhất của công viên. Con trưởng thành chỉ dài có 10mm, bằng 1/2 kích thước bình thường của các loài rết khác.
Michael Novacek, Phó giám đốc Viện bảo tàng lịch sử tự nhiên quốc gia Mỹ cho biết: ''Giới khoa học hiện đã phát hiện và đặt tên cho 1,5 triệu loài trên thế giới. Tuy nhiên, có thể có tới 10-15 triệu loài đang tồn tại trên trái đất''
Tucurie
03-08-2002, 08:37 PM
Tìm thấy loài khỉ hiếm tại Trung Quốc
Khỉ Assamese macaque
Một loài khỉ hiếm có bộ lông màu đen xám vừa được phát hiện tại khu bảo tồn thiên nhiên Long Hồ. Đây là vùng núi thuộc khu tự trị dân tộc Choang (Quảng Tây Trung Quốc).
Theo nhân viên của khu bảo tồn thiên nhiên, đây là lần đầu tiên trong vòng 20 mươi năm qua, loài vật trên được phát hiện tại khu bảo tồn này. Con khỉ cái, to như con gấu, đã đến khu bảo tồn thiên nhiên hai tuần trước từ các dãy núi gần đó.
Loài khỉ Assamese macaque hầu hết được tìm thấy ở Ấn Độ, Việt Nam và Trung Quốc. Với không quá vài ngàn con trên thế giới, loài khỉ này đang đứng đầu danh sách được bảo vệ tại Trung Quốc.
Có hơn 2000 nghìn con khỉ có sự liên hệ đến loài khỉ Assamese macaque, đang sống tại khu bảo tồn thiên nhiên miền núi Long hồ. Theo truyền thống của đàn, con khỉ đầu đàn luôn tìm kiếm nơi ở mới cho cả đàn.
Những nghiên cứu về loài khỉ này đã được tiến hành khá lâu, từ khi khu bảo tồn thiên nhiên được xây dựng vào năm 1980.
Ông Vũ Minh Xuyên, nhân viên Hiệp hội bảo vệ động hoang dã Quảng Tây, người chịu trách nhiệm điều tra động vật hoang dã từ thập kỷ 70, cho biết: ''Thực vật và an toàn là hai mối quan tâm chính đối với khỉ Assamese macaque khi chọn nơi cư trú''.
Ông Vũ nghiên cứu loài khỉ Assamese macaque tại miền bắc Quảng Tây từ năm 1982, cho biết: ''Khu bảo tồn thiên nhiên Long Hồ không có một môi trường thực sự tốt cho chúng sống và sinh sản''.
Tucurie
03-08-2002, 08:40 PM
Bào chế thuốc chữa bệnh từ côn trùng
Một số loại côn trùng phổ biến
Hãy nghĩ kỹ trước khi bạn đập nát một con sâu gớm ghiếc trên tay vì nếu như công trình nghiên cứu của các nhà khoa học Australia thành công, một ngày nào đó con côn trùng này sẽ cứu mạng sống của bạn.
Một nhóm các nhà khoa học thuộc Cơ quan nghiên cứu khoa học của Chính phủ Australia CSIRO vừa khai trương một công ty sản xuất các loại thuốc từ một ngờ uồn nguyên liệu chưa được khám phá. Đó là các loài côn trùng. Công ty có tên là Entocosm Pty.
Trong một thời gian dài giới khoa học đã bỏ nhiều công sức và tiền bạc để chiết xuất các loại thuốc từ khoảng 250.000 loài thực vật. Tuy nhiên, ít ai chú ý tới việc nghiên cứu protein, enzyme và các phân tử do hơn 4 triệu loài vi khuẩn tiết ra để bào chế thuốc chữa bệnh.
Stephen Trowell, nhà khoa học hàng đầu tại Entocosm cho biết: ''Australia là địa điểm lý tưởng cho việc nghiên cứu bào chế thuốc từ những loại côn trùng bởi nơi đây tập trung 10% tổng các loài côn trùng của thế giới và một số loài độc nhất vô nhị giống như kangaroo''.
Trowell cho biết các nhà khoa học thuộc CSIRO đã bắt đầu dự án này cách đây 5 năm, thu thập được trên 1.000 loài côn trùng dọc theo bờ biển phía đông của Australia để tiến hành các cuộc thử nghiệm. Bằng cách chiết xuất hoá chất của côn trùng - chủ yếu bằng cách hãm côn trùng giống như pha trà, họ xác định các phân tử ở một số sinh vật có tiềm năng tạo ra kháng sinh và hạ gục các tế bào ung thư.
Một ví dụ là loài mối Cathedra. Chúng xây dựng những ụ đất cao 8m ở những vùng hoang mạc của nước này. Đây là tổ cho các loài vi khuẩn và nấm kí sinh. Các nhà khoa học đã kiểm tra hoá chất của những con mối này để xem chúng kiểm soát sự lây lan của các vi sinh vật bằng cách nào. Kết quả là họ tìm ra 3 loại hợp chất kháng khuẩn mới.
Tucurie
03-08-2002, 08:42 PM
Số lượng thực vật có hoa lớn hơn nhiều ta tưởng
Nguyên phong lan đã có hàng nghìn loại khác nhau.
Công trình tổng kiểm kê thực vật trên toàn cầu được thực hiện bởi nhà thực vật học người Tây Ban Nha, tiến sĩ David Bramwell vừa cho biết, thế giới có khoảng 422.000 loài cây hạt kín, cao hơn nhiều so với các phỏng đoán trước đây từ 231.000 tới 320.000 loài.
Tiến sĩ Bramwell, giám đốc Vườn Canario "Viera y Clavijo" ở Tây Ban Nha, đã thực hiện cuộc điều tra bằng cách cộng gộp số lượng loài thực vật có hoa của mỗi vùng, tập trung vào những loài chỉ xuất hiện ở một quốc gia hoặc một hòn đảo. Những giống cây có mặt ở nhiều nơi cũng chỉ được tính là một loài. Kết quả cụ thể của ông là 421.968 loài.
Con số này cũng rất khớp với một phỏng đoán gần đây của tiến sĩ Raphael Govaerts, thuộc Vườn bách thảo hoàng gia Anh. Sử dụng một phương pháp tính toán khác, Tiến sĩ Govaerts cho ra con số là 422.127 loài. Tất nhiên, con số này phải nhỏ hơn thực tế, vì ước đoán của các nhà khoa học mới chỉ dựa trên những loài thực vật đã được khoa học biết đến.
“Khi tổng số loài tăng lên, tức là sẽ có thêm nhiều loài bổ sung vào danh sách bị đe dọa”, Tiến sĩ Bramwell nhận định. Ông cho rằng hơn 1/5 trong tổng số thực vật hạt kín có thể đang ở trong tình trạng nguy hiểm.
Thực vật hạt kín là những cây có hoa, chứa nhiều hạt trong quả của chúng. Hoa là một phương tiện hỗ trợ đắc lực trong việc thụ phấn, tạo điều kiện cho động vật, đặc biệt là côn trùng, chuyển phấn hoa giữa các cây khác nhau. Mặc dù người ta tin rằng chúng mới chỉ tiến hoá trong khoảng thời gian gần đây - xấp xỉ 125 triệu năm trước, nhưng thực vật có hoa đã tiến hoá rất nhanh, trở thành nhóm thực vật thống trị trái đất.
Tucurie
03-08-2002, 08:43 PM
ADN của thực phẩm biến đổi gene có trong cơ thể người
Khuẩn ruột người
Một phát hiện quan trọng về sức khoẻ con người vừa được công bố: Lần đầu tiên, các nhà khoa học đã chứng tỏ được rằng các loại vi khuẩn trong ruột người có thể tiếp nhận các ADN từ các loại thực phẩm biến đổi gene. Như vậy, gene của con người cũng có khả năng biến đổi do ăn các loại cây trồng biến đổi gene.
Tuy nhiên, Cơ quan tiêu chuẩn thực phẩm Anh, đơn vị thực hiện nghiên cứu này, cũng cho biết, phát hiện trên chỉ mang tính cẩn trọng chứ không phải là cảnh báo. Lượng ADN được hấp thụ là rất ít, rất khó phát hiện và chỉ xảy ra trong một số trường hợp đặc biệt.
Tuy nhiên, những người phản đối các sản phẩm biến đổi gene cho rằng kết quả này là một lời cảnh báo thực sự về nguy cơ do loại thực phẩm này mang lại. Nguy cơ khuẩn ruột tiếp nhận các gene chống lại kháng thể trong cơ thể người không chỉ còn trên lý thuyết.
Hamburger và sữa trứng
Chuyên gia Harry Gilbert và các đồng nghiệp tại Đại học Newcastle của Anh đã tìm ra hiện tượng này. Các tình nguyện viên tham gia thí nghiệm đã ăn hamburger uống sữa trứng có chứa đậu nành biến đổi gene.
Để xem thực phẩm biến đổi gene tác động đến các phần khác nhau trong hệ tiêu hoá như thế nào, Gilbert đã đưa loại thức ăn trên cho 12 người tình nguyện khoẻ mạnh và 7 người đã phẫu thuật cắt ruột kết.
Khi phân tích phân của những tình nguyện viên khoẻ mạnh, Gilbert không phát hiện thấy dấu hiệu của ADN trong thức ăn biến đổi gene. Tất cả đều đã được tiêu hoá. Bên cạnh đó, cũng không có bằng chứng nào cho thấy khuẩn ruột của những người khoẻ mạnh hấp thụ ADN biến đổi gene.
Nhưng khi phân tích chất thải từ 7 người đã phẫu thuật ruột kết, Gilbert phát hiện thấy có tới 3,7% các ADN biến đổi gene đã sống sót. Quan trọng hơn, khuẩn ruột của 3 trong số 7 người này được phát hiện có ADN của đậu nành biến đổi gene. Mặc dù đã dùng mọi phương pháp nhưng Gilbert vẫn không thể tách được chính xác những vi khuẩn hấp thụ ADN biến đổi gene. Ông kết luận rằng các ADN này chỉ có thể hấp thụ được bởi một lượng rất nhỏ khuẩn ruột.
Enzyme phá huỷ
Để tìm kiếm sự khác biệt giữa những người phẫu thuật ruột kết và những người khoẻ mạnh, nhóm của Gilbert suy luận rằng các ADN có thể sống sót ở ruột non nhưng sẽ bị phá huỷ khi vào đến ruột già. Những người phẫu thuật ruột kết tạo ra ít loại enzyme này hơn nên không tiêu diệt hết các ADN. Điều này đã khiến các ADN được hấp thụ vào khuẩn ruột của người đã phẫu thuật ruột kết
Tucurie
03-08-2002, 08:47 PM
Vi khuẩn trong dạ dày gây đột quỵ
Vi khuẩn H. pyroli
Theo các nhà nghiên cứu Italia, một loại vi khuẩn nguy hiểm gây loét dạ dày có thể đóng một vai trò nào đó đối với đột quỵ. Loại vi khuẩn Helicobacter pylori hiện diện nhiều hơn trong máu của bệnh nhân bị đột quỵ do xơ vữa động mạch.
Xơ vữa động mạch là hiện tượng động mạch bị co hẹp và xơ cứng do sự tích tụ của các chất béo. Các nhà nghiên cứu thuộc Đại học Tor Vergata, Rome, phát hiện loại vi khuẩn trên sinh ra các cytotoxin độc hại và có thể làm gia tăng nguy cơ xơ vữa ở những động mạch lớn dẫn lên não. Nếu cytotoxin tấn công thành động mạch, chúng có thể gây ra viêm nhiễm, sưng tấy, hạn chế dòng máu và tăng nguy cơ đột quỵ.
Theo các nhà nghiên cứu, gene liên quan tới cytotoxin (gene CagA) làm cho vi khuẩn H. pylori trở nên cực kỳ độc hại, gây tổn thương tới các động mạch. Một vài nghiên cứu trước đây đã cho thấy mối liên quan của H. pylori tới sự viêm nhiễm của thành động mạch và đột quỵ.
Nhóm nghiên cứu do Giáo sư Antonio Piertroiusti thuộc Đại học Tor Vergata dẫn đầu đã so sánh các dạng vi khuẩn H.pyroli trong máu của những bệnh nhân bị các loại đột quỵ khác nhau với 151 người khoẻ mạnh. Trong số này,138 người bị đột quỵ do động mạch bị co hẹp nghiêm trọng và 61 người bị đột quỵ do có cục máu trong động mạch dẫn lên não.
Kết quả cho thấy, 42% bệnh nhân bị đột quỵ do tắc nghẽn động mạch nghiêm trọng có loại vi khuẩn H.pylori dương tính CagA so với tỷ lệ 19% ở những đối tượng bị đột quỵ do có cục máu trong động mạch dẫn lên não. Chỉ 18% người khoẻ mạnh trong nghiên cứu có loại vi khuẩn này.
Các nhà nghiên cứu cũng kiểm tra một loại protein. Protein này cho biết sự viêm nhiễm nghiêm trọng. Kết quả cho thấy, mọi bệnh nhân đột quỵ có mức protein trên cao hơn so với những người khoẻ mạnh. Tuy nhiên, mức protein trên lại ở mức cao nhất đối với bệnh nhân đột quỵ có vi khuẩn H.pyroli dương tính CagA. Điều này cho thấy dạng vi khuẩn H. pyroli cá biệt này có thể làm gia tăng sự nhiễm trùng khắp cơ thể. Nhiễm trùng gia tăng cũng dẫn tới xơ vữa động mạch
Tucurie
03-08-2002, 08:48 PM
Chuột có bộ óc lớn ra đời
Chuột biến đổi gene để có bộ não lớn
Các nhà khoa học Mỹ vừa tạo ra một loại chuột biến đổi gene. Bộ não của loài chuột này lớn đến nỗi não phải tự ''gập lại'' để nhét vừa hộp sọ của chuột. Tuy nhiên, họ vẫn chưa biết những con chuột não lớn có thông minh hơn những đồng loại bình thường của chúng hay không.
Thông thường chỉ có não người, não đười ươi và não cá voi mới có nếp gấp. Bộ não có nếp gấp cung cấp nhiều diện tích bề mặt hơn cho vỏ não - phần chứa đựng trí tuệ.
Não của chuột thường trơn tuột. Tuy nhiên, nhóm nghiên cứu đã biến đổi 1 gene để làm cho cơ thể của loài gặm nhấm này sinh ra nhiều hơn protein liên quan tới sự tăng trưởng của các tế bào thần kinh.
Nghiên cứu do Tiến sĩ Christopher Walsh thuộc Trung tâm tế Beth Israel Deaconess phối hợp cùng với các nhà khoa học ở Boston, Massachussetts, Mỹ tiến hành. Tiến sĩ Walsh cho biết: ''Chúng tôi phát hiện đối với những con chuột mà cơ thể của chúng sinh ra quá nhiều protein catenin beta, vỏ não của chúng tăng trưởng rất nhanh. Thay vì phát triển như một tờ giấy bằng phẳng, não chuột tự gập lại giống như não người. Quá trình này giống như việc lấy một tờ giấy và gấp nó thành một quả bóng''.
Theo Tiến sĩ Walssh, bước đi tiếp theo là nghiên cứu liệu protein catenin beta ở những người mà não của họ quá nhỏ hoặc quá lớn có bất bình thường hay không. Kết quả nghiên cứu được công bố trên tạp chí Science. Nhóm cũng đang lên kế hoạch nghiên cứu liệu trí thông minh của chuột có tăng theo chiều tỷ lệ thuận với kích cỡ bộ não hay không.
Tucurie
03-08-2002, 08:49 PM
Tế bào gốc - Chìa khoá của sự trường thọ
Tuỷ xương
Tế bào gốc trong tuỷ xương có thể nắm giữ chìa khoá của sự trường thọ. Khái niệm kỳ lạ này dường như có sức nặng hơn khi một nhóm các nhà nghiên cứu thuộc Đại học Kentucky, Mỹ, phát hiện những loài chuột sống lâu nhất có tế bào gốc trong tuỷ xương. Những tế bào này đặc biệt hiệu quả trong việc ''đại tu'' ADN.
Vì tế bào gốc là ngờ uồn tạo tế bào mới cho nhiều mô trong cơ thể từ gan tới hệ miễn dịch nên chúng là bằng chứng chứng minh lý thuyết: chúng ta già đi bởi các tế bào gốc suy yếu và không thể theo kịp tốc độ thay thế tế bào cần để duy trì sự trẻ trung của các cơ quan.
Nếu như vậy, chúng ta có thể kéo dài tuổi thọ bằng cách thay thế tế bào gốc. Đây là một ý tưởng được nhiều nhà khoa học quan tâm. Trưởng nhóm nghiên cứu, Zant, cho biết: ''Chúng tôi hy vọng bằng các làm cho tế bào gốc khoẻ mạnh và tồn tại lâu hơn, chúng tôi có thể kéo dài tuổi thọ của chuột''.
Nhóm nghiên cứu của ông đã kiểm tra tế bào gốc ở tuỷ xương của nhiều loài chuột để xem xét tính hiệu quả của những tế bào này đối với việc đại tu ADN của chúng. Bằng cách gây giống loại chuột này, họ có thể tìm ra một số vùng trong bộ gene của chuột liên quan tới sự trường thọ.
Họ đã tìm ra một gene ở một trong những vùng này, trên nhiễm sắc thể 11. Hartmut Geiger, một thành viên của nhóm nghiên cứu cho biết: ''Chúng tôi có bằng chứng thuyết phục rằng vị trí này có một gene liên quan tới công việc đại tu ADN''. Ông và Van Zart tin họ sẽ tìm ra mối tương tác giữa sống lâu và độ bền của tế bào gốc ở mọi động vật có vú.
Mọi tế bào đều có cơ chế đại tu ADN của chúng. ADN không ngừng được bảo vệ khỏi mọi thứ từ bức xạ cho tới các gốc tự do. Quan điểm cho rằng lão hoá xảy ra bởi sự đột biến về di truyền tích tụ lại và dần dần lấn át những hàng rào bảo vệ ADN là khá quen thuộc. Tuy nhiên, quan điểm cho rằng sự suy yếu của ADN trong các tế bào gốc là nguyên nhân gây lão hoá thì lại rất mới mẻ.
Tucurie
03-08-2002, 08:50 PM
Xác định gene liên quan tới lo lắng
Lo lắng là chứng rối loạn phổ biến
Lo lắng có thể là một hiện tượng di truyền liên quan tới một gene cụ thể. Một nhóm các nhà khoa học thuộc Viện sức khoẻ tâm thần quốc gia ở Bethesda, Maryland, Mỹ, vừa xác định một gene được gọi là SLC6A4. Những người có một dạng của SLC6A4 có xu hướng lo lắng nhiều hơn những người khác.
Tuy nhiên, họ thừa nhận rằng sự khác biệt là tương đối nhỏ và một gene duy nhất chắc chắn không thể quyết định được liệu một người có lo lắng nhiều hay không. Nó chỉ là một trong nhiều nhân tố khiến con người rơi vào trạng thái này. Theo ước tính, 1/10 dân số thế giới mắc một chứng rối loạn lo lắng nào đó.
Gene SLC6A4 đóng vai trò quan trọng trong việc truyền hoá chất serotonin quanh não bộ. Cha mẹ truyền cho con cái phiên bản ngắn hoặc phiên bản dài của gene này. Phiên bản ngắn vận chuyển serotonin kém hiệu quả hơn so với phiên bản dài. Những người có phiên bản ngắn hay lo lắng bất bình thường.
Các nhà nghiên cứu đã thử nghiệm lý thuyết của họ bằng cách đo phản ứng lo lắng của những người tình nguyện. Số đối tượng này được xem các bức ảnh mô tả những khuôn mặt biểu lộ vẻ tức giận hoặc sợ hãi. Nhóm nghiên cứu ghi lại mức hoạt động trong một vùng não có vai trò